1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo khoa học: "Giải pháp kỹ thuật cho công nghệ xây dựng, thiết kế, chế tạo thiết bị đo l-ờng cảm ứng bánh tàu dùng trong điều khiển các ph-ơng tiện trên ray" pot

7 473 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 202,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lê mạnh việt Bộ môn Trang bị điện - Điện tử Khoa Điện - Điện tử Trường Đại học Giao thông Vận tải Tóm tắt: Bμi báo phân tích các nguyên tắc cơ bản về cơ - điện tử để tạo ra phần tử đo

Trang 1

Giải pháp kỹ thuật cho công nghệ xây dựng, thiết kế,

chế tạo thiết bị đo lường cảm ứng bánh tàu

dùng trong điều khiển các phương tiện trên ray

TS Lê mạnh việt

Bộ môn Trang bị điện - Điện tử Khoa Điện - Điện tử

Trường Đại học Giao thông Vận tải

Tóm tắt: Bμi báo phân tích các nguyên tắc cơ bản về cơ - điện tử để tạo ra phần tử đo

lường cảm ứng bánh tμu, đánh giá các loại cảm ứng bánh tμu đã có trên thế giới vμ đã sử dụng

ở Việt nam, qua đó đề xuất giải pháp kỹ thuật công nghệ cho việc xây dựng, hướng thiết kế, chế tạo thiết bị cảm ứng bánh tμu đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật hiện đại vμ phù hợp với đường sắt Việt nam hiện tại vμ lâu dμi

Summary: The article analyses the base electro - mechanic principle of realising an

element able to detect the exiting of train wheels and assessment of the existing wheel detectors on the world and that are in use in Vietnam so that propose a technology method for setting design orientation of wheel detector having proper characteristics for use in the Viet nam Railway in current as well as the time to come

I Đặt vấn đề

Cảm ứng bánh tàu sử dụng chủ yếu trên

các phương tiện giao thông bánh sắt Dù cảm

ứng bánh tàu có nguyên lý hoạt động như thế

nào, cũng đều phải đảm bảo thực hiện được

nhiệm vụ là phát hiện chính xác tuyệt đối một

bánh tàu đang tồn tại trên nó, đang chuyển

động qua nó với mọi tốc độ của giao thông

đường sắt hiện đại (tới 300 km/giờ) hoặc đã

chuyển động qua nó và đếm chính xác 100%

số lượng hàng vạn bánh tàu chuyển động

qua Sau chức năng trên tuỳ theo mục đích sử

dụng người ta có thể dùng cho nhiệm vụ

chiếm dụng, đo tốc độ, giám sát đoàn tàu hay

đếm trục toa xe và hàng loạt các mục đích

điều khiển khác trong đường sắt Các loại cảm

ứng bánh tàu dù phong phú nhưng từng loại vẫn có những ưu, nhược điểm và ứng dụng nhất định cho mỗi loại đường sắt với các mục

đích khác nhau Nghiên cứu xây dựng lý thuyết định hướng kỹ thuật và công nghệ cho việc tính toán thiết kế, chế tạo một cảm ứng bánh tầu mới, nó phải đạt được chất lượng và

đặc biệt phù hợp với đường sắt Việt nam trong vài thập niên tới, đó là nhiệm vụ của bài báo

và cũng là một phần của đề tài KHCN mà tác giả đang thực hiện

II Nội dung

1 Phân tích nguyên lý hoạt động của các loại cảm ứng bánh tàu trên thế giới

+ Cảm biến cơ học công tắc cơ khí Ban

đầu do kỹ thuật điện và điện tử chưa phát triển

Trang 2

người ta dùng công tắc cơ khí lắp vào má ray

sao cho mỗi khi bánh tàu đi qua thì gờ bánh

xe đè lên cơ cấu công tắc, nó sẽ làm cho

công tắc đóng hoặc ngắt mạch điện bên ngoài

tuỳ thuộc vào kiểu công tắc để cho ra một

xung điện ứng với một bánh tàu

+ Cảm biến dùng công tắc từ tính Tiếp

điểm của công tắc làm bằng kim loại nhiễm từ

không vĩnh cửu Khi cặp tiếp điểm của công

tắc nằm trong từ trường có cường độ nhất định

thì hai má của tiếp điểm nhiễm từ và sẽ hút

nhau làm cho công tắc thông mạch Cảm biến

dùng công tắc từ có cấu tạo gồm một công tắc

từ và một nam châm vĩnh cửu, chúng xắp xếp

sao cho khi lắp vào má ray lúc không có gờ

bánh xe thì công tắc sẽ đóng (hoặc mở) tuỳ

vào sự xắp xếp từ trường ban đầu

+ Pê đan từ Quanh một nam châm vĩnh

cửu quấn nhiều vòng dây và lắp cơ cấu ấy

vào má ray, sao cho mỗi khi có một bánh tàu

chuyển động qua thì gờ bánh xe sẽ cắt ngang

đường sức từ của nam châm và sự biến thiên

từ thông này sẽ cảm ứng một sức điện động

hai nửa gần bằng nhau của một hình sin

+ Cảm biến điện tử Mạch cộng hưởng

gồm cuộn cảm và tụ điện mắc song song phối

hợp với một vài linh kiện điện tử – bán dẫn phi

tuyến thường thiết lập được dao động điều

hoà ổn định Khi có sự thay đổi bên ngoài đủ

lớn làm lệch tần số cộng hưởng thì có thể sẽ

làm ngừng dao động Người ta thiết kế sao

cho cứ có một bánh tàu tới gần cảm biến thì

sẽ làm lệch tần số cộng hưởng và xác định có

một bánh tàu

+ Cảm biến tia hồng ngoại Một máy thu

tia hồng ngoại đặt ở vị trí thích hợp bên cạnh

đường ray có thể phát hiện được từng bánh

tàu một (với điều kiện đoàn tàu đã chuyển

động đủ nhiều để nhiệt do ma sát đạt yêu cầu phát sóng hồng ngoại)

+ Cảm biến quang học Một nguồn phát

và một thiết bị xử lý thu ánh sáng đặt ở vị trí thích hợp cạnh đường ray cho phép đếm được từng bánh xe chuyển động qua hoặc chắn

đường thu ánh sáng

2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cảm biến bánh tàu ở Việt nam

- Pê đan từ do đề tài khoa học cấp nhà nước KC - O2 - 12 chế tạo, thử nghiệm, ứng dụng tại phòng thí nghiệm Trường Đại học Giao thông Vận tải năm 1993

- Cảm biến địa chấn do Công ty CARDPRO (quân đội) chế tạo đang dùng cho các hệ thống cảnh báo đường ngang từ năm

2002 của Đường sắt

- Cảm biến CNO2A (nguyên lý điện tử biến thiên) của Công ty Tư vấn đầu tư và Xây dựng Đường sắt chế tạo từ năm 2000

- Cảm biến VS1 hợp tác giữa Công ty Tư vấn và đầu tư Xây dựng Đường sắt với Công

ty Bưu điện năm 2003

- Cảm biến quang học của Công ty Thông tin tín hiệu Sài gòn năm 2000

- Cảm biến tiệm cận (điện từ) của các hãng SIEMEN Cộng hoà Liên bang Đức dùng cho điều khiển chạy tàu ở ga Vinh năm 1998

- Cũng cảm biến điện từ nhưng của hãng SUMUNG dùng cho Đường sắt có mặt tại Việt nam khoảng năm 2003

Mặc dù rất nhiều cảm biến đã được nghiên cứu chế tạo trong nước và nhập khẩu dùng cho Đường sắt, nhưng dễ thấy tất cả đều

Trang 3

chưa đạt yêu cầu đã nêu ở trên Có thể thấy

các khuyết điểm chung là không chính xác

(tiến tới 100%) và làm việc kém ổn định trong

điều kiện Đường sắt Việt nam Tại sao ở các

nước khác các cảm biến này lại dùng tốt Vấn

đề là sự không chuẩn của ray và bánh tàu

Việt nam do không được thường xuyên kiểm

tra, thay thế khi mài mòn vượt tiêu chuẩn,

cộng với thời tiết, khí hậu quá nóng ẩm nhiệt

đới Việt nam và lại đặt ngoài trời của Đường

sắt, chúng đã phá vỡ các điều kiện làm việc

để ổn định của các cảm biến theo thiết kế ban

đầu Ngoài ra còn thấy một vài cảm biến chế

tạo trong nước đã chế tạo theo nguyên lý mà

khó ứng dụng khả thi vào điều kiện làm việc

và mục đích sử dụng của cảm biến (cảm biến

địa chấn hay sự hạn chế của cảm biến

quang ) Nhìn chung vấn đề nhiệt đới hoá

chưa được quan tâm đúng mức ở trong nước

và nhất là các cảm biến nhập ngoại

3 Hướng chế tạo mới

Để khắc phục các nhược điểm đã phân

tích trên và bám theo chức năng cơ bản của

cảm biến bánh tàu đặt trong điều kiện Đường

sắt Việt nam (có thể vượt độ mài mòn 150%),

chúng ta đưa ra các tiêu chí của cảm biến

bánh tàu sẽ chế tạo là:

- Độ chính xác (tiến tới 100%)

- Làm việc ổn định trong mọi thời tiết Việt

nam

– Phạm vi sử dụng với dải tốc độ đoàn

tàu rộng từ 0 km/giờ (đoàn tàu không chạy) tới

khoảng 250 km/giờ

– Tiêu hao nguồn càng nhỏ càng tốt

– Kích thước gọn

– Giá thành rẻ (so với nhập khẩu) càng

nhiều càng tốt

- Dễ sử dụng cho các mục đích khác nhau: đường ngang, chiếm dụng, đếm trục, đo tốc độ, giám sát

- Dễ kết hợp với các thiết bị xử lý điện tử

và điện tử số khác thậm chí vi xử lý hoặc vi

điều khiển

4 Lựa chọn nguyên lý thiết bị cảm biến bánh tàu

Về mặt ý tưởng để đạt được các tiêu chí vừa đa nhiệm, vừa chất lượng cao, tất nhiên phải trả giá về độ phức tạp, sau những điều tra, phân tích, thống kê, thử nghiệm và thực

tế, nhóm nghiên cứu đưa ra giải pháp xây dựng thiết bị đo lường cảm ứng bánh tàu dựa trên kỹ thuật công nghệ cơ - điện tử Thiết bị lấy ảnh hưởng cơ học của gờ bánh tàu chiếm dụng vị trí hoặc chuyển động qua thiết bị làm tín hiệu, tín hiệu này làm dập tắt nhanh chóng một mạch dao động LC đã được thiết lập ở

điều kiện bình thường lúc không có bánh tàu tác động Mỗi khi bánh tàu ra khỏi vị trí do thiết bị kiểm soát thì mạch dao đông LC lại

được tự kích và nhanh chóng thiết lập dao

động Cứ mỗi lần mất dao động sẽ xác định một tín hiệu là một bánh tàu đi qua thiết bị Yêu cầu khoảng biến thiên tốc độ đoàn tàu sẽ liên quan tới cả vấn đề kỹ thuật và công nghệ

Nhóm tác giả đã phân tích và tìm được giải pháp kỹ thuật (có thể có) cho việc nhanh chóng tự kích và dập tắt dao động ở mạch cộng hưởng LC Sau đó chỉ ra yêu cầu về công nghệ để đạt được giải pháp kỹ thuật ấy

5 Nghiên cứu tự kích, thiết lập, ổn

định và dập tắt dao động

Một hệ điện tử phi tuyến tổng quát thiết lập được dao động có dạng phương trình chuẩn:

Trang 4

x dt

dx ) m , x ( 2 dt

x

0 2

2

ω + α

trong đó:

x(t) – biên độ dao động;

α(x, m) - hệ số phụ thuộc hoặc vào biên

độ x(t) hoặc thông số bên ngoài m nào đó, với

m có thể là các tham số tham gia vào việc

thay đổi thông số mạch dao động, ví dụ tụ C,

cuộn cảm L, độ hỗ dẫn s (U), hỗ cảm M, hệ

số khuếch đại K, tỷ lệ hồi tiếp β, thậm chí cả

các loại nhiễu;

ωo - tần số muốn tiến đến dao động ổn

định, tần số này lựa chọn trên cơ sở của giá trị

L và C trong mạch vòng dao động là chính:

LC

1

0 ≈

Tổng quát nghiệm dao động:

x(t) = A*(x,m,t).cos[ωr(t) + φ(t)]

Biên độ tổng quát A*(x, m, t)

còn phụ thuộc vào chính dao động

x(t), các thông số m và năng

lượng kích ban đầu trong các kho

từ L hoặc điện C … Tuy vậy có

thể viết nghiệm dưới dạng liên quan tới dao

động đã được thiết lập – hay ổn định là:

x(t) = A0exp(-αt) cos(ωrt + φ) (3)

với:

A0 - biên độ sẽ đạt được khi ổn định;

ωr = ω20ưα2 - tần số trong quá trình

thiết lập dao động

Nhận xét các công thức (1), (2) và (3) có

thể coi rằng nghiệm của hệ dao động vòng LC

tiến tới ổn định là nghiệm tuyến tính của

phương trình:

0 x dt

x

0 2

2

= ω

khi hệ số thiết lập dao động α(m, x) tiến tới

“không”, nhưng lại phải hiểu dao động trên là trạng thái ổn định động của hệ thống, trong đó năng lượng được cấp thêm thông qua hệ số α(x, m) bù vào năng lượng tiêu hao trên các phần tử tiêu tán R của hệ (và không bao giờ không có phần tử này) Việc bù năng lương vào sao cho α(x, m) < 0 (âm) để dao động

được tăng cường, còn khi α (m, x) > 0 (dương) thì dao động sẽ suy giảm Hình 1 thể hiện quá trình đó

Như vậy có thể chia thành ba chế độ, tự kích A, tự hiệu chỉnh B và ổn định C trong hệ

thống dao động Ngoài yêu cầu tự kích nhanh

và tạo dao động ổn định khi bình thường không có tín hiệu đoàn tàu, thì chế độ nhanh chóng dập tắt dao động khi có bánh tàu chiếm

vị trí hay chuyển động qua thiết bị là yêu cầu quan trọng nữa, khi đó phải dùng ở chế độ ngừng dao động D Cũng có thể chỉ cần giảm dao động nhỏ hơn giá trị |xmin(t)| và dùng kết quả này để xử lý tiếp:

quá trình hình thành dao động

t

> 0

= 0

< 0

> 0

< 0

> 0

< 0

0

x(t)

ổn

định

tự kích

C B

A

Hình 1 Các quá trình trong mạch vòng dao động LC

|x(t)| ≤ |xmin(t)| (5)

Yêu cầu thời gian để từ giá trị bình thường x(t) giảm tới giá trị nhỏ |xC(tC)| -

|xmin(tmin) | ≤ 0 là:

Trang 5

Ur Uh

M

*

*

L2 L1

R Ko

- +

C

Hình 2 Mạch dao động KĐTT

∆(t) = tC - tmin (6)

càng ngắn càng tốt

Nhưng sau khi ngừng dao động, muốn tự

kích nhanh thì cũng rất cần Và như vậy có thể

thấy yêu cầu xây dựng một hệ thống dao

động mà tự kích và ngừng (suy giảm - dập tắt)

có thời gian càng ngắn càng tốt Dễ thấy hệ

số α(x, m) phải biến thiên nhanh, vì thế cần

nghiên cứu loại dao động nào cho phép có

quá trình nhanh tự kích và cũng nhanh dập tắt

dao động

6 Lựa chọn dạng mạch dao động

Trong nhiệm vụ đã phân tích, vì tín hiệu

bánh xe sắt liên quan đến từ tính và chỉ có các

thông số sau đây trực tiếp với nó nhất, đó là tự

cảm L, hỗ cảm M Do đó hướng mạch dao

động quan tâm phải là LC Để bù vào năng

lượng mất mát, các hệ số dao động cần các

bộ khuếch đại năng lượng Có thể chọn cả hai

mạch dùng Tranzistor hay Op - am (KĐTT)

cho các mạch khuếch đại này Tuy vậy chọn

các linh kiện có đặc tuyến, thông số như thế

nào để đạt được yêu cầu tự kích nhanh và

ngừng dao động nhanh là yêu cầu cơ bản Có

thể tổng quát đưa ra 2 hệ dạng mạch dao

động và phương trình của nó

Từ mạch dao động KĐTT trên hình 2, có

thể xác định Ura (t) = x (t) từ phương trình:

0 U LC

1 dt

dU RC

m K 1 dt

U d

ra ra

0 2

ra

2

= +

ư +

(7)

với:

K0 - hệ số khuếch đại bộ khuếch đại;

L

M

m = - tỷ lệ hỗ cảm

Như vậy:

α(x, m) =

RC

m K

(8)

ở đây có thể dễ dàng thay đổi M để m thay đổi làm α thay đổi Với hệ thống này tần

số dao động gần như được ổn định ω0 ≈ 1/ LC

Hình 3 Mạch dao động Tranzitor LC.

Ube ib

ic

il M L

C R

Trang 6

Từ hình 3, mạch dao động Tranzitor, đáp

ứng ra có thể lấy ra theo tín hiệu của dòng

qua cuộn cảm và phương trình x (t) có dạng:

0 x LC

1 dt

dx LC

SM L

R dt

x

d

2

2

= +

⎛ ư

+

(9) với:

S =

be

c

U

i

- hỗ dẫn của Tranzitor;

α(x, m) =

dt

dx C

SM R L

1

⎛ ư (10)

Như vậy, muốn thay đổi dao động có thể

thay đổi hỗ cảm M của mạch LC

Song, trong công thức (8) và (10) còn

một thông số nữa rất quan trọng ảnh hưởng

tới α đó là K0 và S, không phải chúng là hằng

số mà phụ thuộc vào dao động x(t) của nó

7 Nghiên cứu, lựa chọn tự kích trong

hệ thống dao động

Mặc dù K0 trong khuếch đại thuật toán

hay các bộ khuếch đại nói chung có thể thay

đổi theo tần số và trị số dao động, song cùng

các linh kiện IC chất lượng cao nó lại khá ổn

định, vì thế chỉ có thể tạo ra việc điều khiển nó

là có K0 đạt yêu cầu dao động hay K0 ≈ 0 để

mất dao động, và các dao động này còn là

các mạch phát xung rất ổn định Tuy vậy về

mặt công nghệ các mạch IC như KĐTT có

nhược điểm là thời gian thay đổi trạng thái dài

hơn các mạch Tranzitor, hơn nữa điện áp cao

hơn thì nên chọn các mạch Tranzitor

Mạch dao động LC Tranzitor với đặc

điểm của độ hỗ dẫn Stb khác nhau sẽ được

quan tâm hơn Trong khi thiết lập dao động,

tổng quát người ta dựa vào độ hỗ dẫn trung

bình và định nghĩa:

Stb =

m

1 m

U

I

(11)

ở đây chỉ quan tâm tới hiệu quả của biên

độ sóng hài cơ bản (tần số dao động cần thiết lập) với biên độ của điện áp sinh ra dòng điện trên

Các sơ đồ dùng Tranzitor và với các loại Tranzitor, có thể tìm được:

Stb = a1 +

4

3

a3 3 m

8

5

a5 5 m

U + …

(12)

Và với a1, a3, a5 khác nhau ta có 2 dạng cơ bản Stb (Um) của các phần tử 3 cực bán dẫn

ở hình 4, với Stb là đường cong chỉ có giảm của hỗ dẫn (có tác dụng tạo dao dộng đều

đặn gọi là mềm) khi a1 > 0; a3 < 0 và a5 < 0, còn Stb là đường cong có một giá trị cực đại của hỗ dẫn (có khả năng tạo dao động có biên độ nhảy bậc, gọi là cứng) khi a1 > 0; a3 >

0 và a5 < 0

Bằng lý luận ta có thể chứng minh được ở

tự kích mềm (Stbm) thì quá trình thiết lập dao

động quan hệ của biên độ Um với sự thay đổi

hỗ cảm M là liên tục - đơn trị - đường 1 ở hình

5 Còn với tự kích cứng (Stbm) thì quan hệ biên

độ Um với hỗ cảm M là nhảy bậc và quá trình tăng giảm của hỗ cảm M có quá trình là khác nhau: quá trình tiến (tăng M) và giảm (M lùi) là khác nhau Quá trình tăng M theo đường 0(0, 0) tới điểm Mot nhảy lên B tiến tới ∞ Quá

trình giảm M theo đường ∞ điểm A hạ đột ngôt xuống Mog về toạ độ 0(0, 0)

Nếu so sánh với tự kích mềm thì tự kích cứng đặc biệt ở nhảy bậc lên hoặc hạ xuống của biên độ Từ các phân tích trên có thể đã

tìm được lời giải: với yêu cầu làm nhanh và thậm chí đột ngột tạo tự kích cũng như ngừng

Trang 7

hoặc dập tắt dao động thì việc chọn linh kiện

phi tuyến Tranzitor có khả năng tự kích cứng

là rất thích hợp Như vậy trong thiết kế phải

tìm được các Tranzitor có đường hỗ dẫn dạng

tạo ra được tự kích cứng

Hình 4 Quan hệ của hỗ dẫn trung bình

với biên độ dao động

Hình 5 Quá trình tự kích cứng vμ mềm của mạch

dao động Tranzitor LC

III Kết luận

Một thiết bị cảm ứng bánh tàu gồm các

phần tử cơ, từ, điện tử có sử dụng mạch dao

động cộng hưởng LC, yêu cầu các linh kiện

được thiết kế chính xác, trong đó tính chọn

các thông số hỗ cảm M thích hợp và nhất là

phần tử phi tuyến Tranzitor phải có đặc tính

hỗ dẫn Stb có điểm cực đại, để sao cho quá

trình tự kích và dập tắt dao động nhanh

chóng, chuẩn xác khi có mặt bánh tàu xâm

chiếm vùng kiểm soát đã được quy định của

cảm biến Vùng làm việc hay kiểm soát của

cảm biến có thể chọn theo kích thước mà mài

mòn của cả ray và bánh tàu vượt 150% cho phép Ngoài ra về mặt công nghệ để hạn chế

sự tăng nhiệt của bán dẫn hãy thực việc tăng

điện áp nguồn (tới mức còn cho phép) làm giảm dòng phát nhiệt đến mức tối đa, nhiệt đới hoá trong các vật liệu bọc, phủ, cách ly trong cảm biến Cho đến nay, tác giả và các cộng

sự đã hoàn thành chế tạo xong, thí nghiệm cơ bản các đặc tính, thông số chính của cảm ứng bánh tàu theo hướng nghiên cứu trên đề ra và phù hợp giữa tính toán và thực tế Bài báo này viết trên cơ sở của đề tài KHCN cấp Bộ 2005

0

Stb

Tài liệu tham khảo [1] Bạch Vọng Hà, Lê Mạnh Việt, Trần ngọc Thọ Nghiên cứu đảm bảo khoa học công nghệ cho tự

động hoá đồng bộ, từng bước ngành Đường sắt Việt nam Đề tài KHCN Nhà nước KC - 02 - 12,

1992 – 1994 Đại học GTVT

[2] Radio technika Budapest, 1978

[3] Electronic Engineering Colombia University,

1975

Mv

0

cứng mềm

M C

Mot

Mog

[4] Ipari miiszerek Budapest, 1978

[5] Sensors Handbook - Sabrie Soloman, Mc Graw

- Hill, 1998

[6] AIP Handbook of Modern Sensor – Jacob Fraden, American Istitute of Physics, 1993

[7] Cơ sở kỹ thuật điện tử số, Đại học Thanh Hoa, Bắc kinh 2001 (bản dịch)

[8] Phạm Thượng Hàn, Nguyễn Trọng Quế Kỹ thuật Đo lường các đại lượng Vật lý NXB Giáo dục,

2004

[9] Lê Văn Doanh (dịch) Cẩm nang Kỹ thuật điện,

tự động hoá và tin học công nghiệp NXB Khoa học

và Kỹ thuật, 1994

[10] Donald G Fink, Donald Christiansen Sổ tay

Kỹ sư điện tử McGraw - Hill Book Company 1994 (bản dịch 1996)

[11] H H Epchikhiep, IA A Kypersmidt, B PH Papulôp-ckii, B H Skurôpôb, Đo lường các đại lượng điện và phi điện (Tiếng Nga) Nhà xuất bản

Tự động hoá năng lượng Matcơva, 1993Ă

Ngày đăng: 06/08/2014, 13:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Các quá trình trong mạch vòng dao động LC - Báo cáo khoa học: "Giải pháp kỹ thuật cho công nghệ xây dựng, thiết kế, chế tạo thiết bị đo l-ờng cảm ứng bánh tàu dùng trong điều khiển các ph-ơng tiện trên ray" pot
Hình 1. Các quá trình trong mạch vòng dao động LC (Trang 4)
Hình 3. Mạch dao động Tranzitor LC. - Báo cáo khoa học: "Giải pháp kỹ thuật cho công nghệ xây dựng, thiết kế, chế tạo thiết bị đo l-ờng cảm ứng bánh tàu dùng trong điều khiển các ph-ơng tiện trên ray" pot
Hình 3. Mạch dao động Tranzitor LC (Trang 5)
Hình 2. Mạch dao động KĐTT - Báo cáo khoa học: "Giải pháp kỹ thuật cho công nghệ xây dựng, thiết kế, chế tạo thiết bị đo l-ờng cảm ứng bánh tàu dùng trong điều khiển các ph-ơng tiện trên ray" pot
Hình 2. Mạch dao động KĐTT (Trang 5)
Hình 4. Quan hệ của hỗ dẫn trung bình - Báo cáo khoa học: "Giải pháp kỹ thuật cho công nghệ xây dựng, thiết kế, chế tạo thiết bị đo l-ờng cảm ứng bánh tàu dùng trong điều khiển các ph-ơng tiện trên ray" pot
Hình 4. Quan hệ của hỗ dẫn trung bình (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w