Bμi báo giới thiệu một thuật toán thường được dùng trong kỹ thuật định vị mặt đất, đồng thời phát triển phương pháp giải hệ phương trình tự định vị của thuật toán tường minh vμ đơn giả
Trang 1Phương pháp định vị TDOA và phát triển trong mô hình
tự định vị DVB-T(H) dùng tín hiệu tham chiếu TPS
TS Nguyễn thanh hải
Trường Đại học Giao thông Vận tải
NCS Nguyễn quang tuấn
Trường Đại học Tây Nam Trung Quốc
Tóm tắt: Bμi báo tập trung giới thiệu cấu trúc, nhiệm vụ khung tín hiệu tham chiếu TPS
trong tín hiệu OFDM, thông qua phân tích các đặc trưng của khung TPS, tác giả đề xuất dùng
TPS đóng vai trò vai trò tín hiệu lấy mẫu trong hệ tự định vị dựa trên tín hiệu truyền hình số
DVB-T(H) Với mục đích xây dựng một thuật toán tiên lợi vμ đơn giản nhất cho hệ thống tự định
vị dùng tín hiệu tham chiếu TPS Bμi báo giới thiệu một thuật toán thường được dùng trong kỹ
thuật định vị mặt đất, đồng thời phát triển phương pháp giải hệ phương trình tự định vị của thuật
toán tường minh vμ đơn giản Dựa trên phương pháp giải hệ phương trình TDOA do tác giả đề
xuất, việc tính toán vị trí của máy thu có thể được thực hiện trên các thiết bị xử lí đơn giản, tạo
điều kiện ứng dụng rộng rãi cho các máy thu vμ giảm đáng kể giá thμnh các máy thu
Summary: The article focuses on introducing the structure and tasks of TPS reference
block in OFDM signal Through analyzing the properties of TPS block, the authors propose
using TPS as the standard signal in self-positioning system based on digital television
DVB-T(H) The purpose is to build the most convenient and simplest algorithm for the positioning
system using reference signal TPS The article introduces an algorithm normally used in
ground positioning technique, and at the same time develops a solution method for the
positioning equations of the algorithm Based on the TDOA solution proposed by the authors,
computations on the receiver’s position can be done on simple processors, enabling wider
application for the receivers and considerably reduces the cost
CT 2
I Giới thiệu chung
Xu hướng nghiên cứu, phát triển hoàn thiện các hệ thống tự định vị nhằm cải thiện chất
lượng và nâng cao tính linh hoạt của hệ thống định vị phuc vụ các mục đích dân sự ngày càng
được nhiều nhà khoa học quan tâm và phát triển Hiện nay trên thế giới đã xuất hiện một số hệ
thống định vị lai nhằm khắc phục các nhược điểm của hệ thống định vị đơn như: hệ thống định
vị GPS- INS; GPS- Mobile( GSM;WCDMA)… Với sự phát triển rất nhanh của công nghệ truyền
thông, ngoài các hệ thống định vị lai đã được phát triển, bài báo giới thiệu một hệ thống định vị
lai mới GPS kết hợp DVB-T(H) trên cơ sở tín hiệu truyền hình số DVB-T(H) và sử dụng các khối
TPS trong DVB-T đóng vai trò tín hiệu lấy mẫu, phục vụ tính toán tự định vị cho máy thu (chi tiết
có thể tham khảo [1], [2], [3]) Đồng thời bài báo còn lựa chọn và phát triển thuật toán định vị
đơn giản và phù hợp nhất cho hệ thống định vị lai này
Nhờ sử dụng tín hiệu lấy mẫu là tín hiệu truyền hình số có cường độ lớn, tần số phát không
cao (băng UHF), dải thông không lớn (6; 7; 8 MHz), giảm thiểu được các ảnh hưởng bởi tầng
điện ly và sự giao thoa với các nguồn nhiễu, đồng thời các yêu cầu kỹ thuật thực hiện tính toán
Trang 2định vị đơn giản Hệ thống định vị lai GPS và DVB-T(H) có thể thực hiện rất dễ dàng trên các phương tiện giao thông công cộng như Bus, Taxi, thiết bị điện tử cầm tay… đồng thời có thể cung cấp thông tin định vị tin cậy trong môi trường đô thị, đây là môi trường rất khó khăn cho việc định vị đối với đa số các hệ thống định vị thông thường do có quá nhiều các kết cấu xây dựng cao tầng và không gian rất hạn hẹp
Cấu trúc bài báo bao gồm: I- Giới thiệu chung; II- Mô hình hệ thống tự định vị DVB-T(H); III- Cấu trúc và đặc điểm của khung TPS; IV- Thuật toán định vị và phương pháp giải hệ Phương trình định vị; V- Kết luận
II Giới thiệu mô hình tự định vị DVB-T(H)
Mô hình hệ thống tự định vị trên cơ sở tín hiệu truyền hình số DVB-T(H) được xây dựng theo nguyên tắc định vị hình học, tuân thủ một số nguyên tắc như các nguồn phát tín hiệu được
đồng bộ chặt chẽ; máy thu có thể đồng thời thu được ít nhất ba nguồn tín hiệu phân biệt và có thể xác định được vị trí của các nguồn phát tín hiệu Dựa vào các nguyên tắc trên bài báo đề xuất mô hình hệ thống định vị DVB-T(H) có nguyên lý hoạt động như sau: (hình 1)
CT 2
Trạm phát 1 Trạm phát 2
Máy thu
Trạm phát 3
Hình 1 Mô hình định vị DVB-T(H) do đề tμi đề xuất
Máy thu định vị trong mô hình sẽ đồng thời nhận tín hiệu từ ba trạm phát lặp của mạng SFN[3], theo nguyên tắc tổ chức của mạng SFN, các trạm phát trong mạng được đồng bộ chặt với nhau thông qua đồng hồ tham chiếu GPS (10MHz) với bước đồng bộ 100ns và có tần số
Trang 3cũng như nội dung tín hiệu giống nhau Do khoảng cách từ máy thu đến các trạm phát là không
giống nhau nên thời gian truyền tín hiệu từ các trạm phát đến máy thu sẽ không giống nhau (tín
hiệu từ mỗi trạm phát và thực hiện so sánh ba thời điểm nhận tín hiệu từ ba trạm phát, từ đó sẽ
tính toán được khoảng cách của mình tới từng trạm phát Đồng thời vị trí của các trạm phát luôn
cố định và biết trước, do đó máy thu có thể tính toán được vị trí của mình thông qua qui đổi
khoảng cách tới các trạm phát và toạ độ các trạm
Vấn đề cần giải quyết để thực hiện tự định vị là:
Làm sao để máy thu có thể nhận dạng được đang nhận tín hiệu từ trạm phát nào
Tín hiệu lấy mẫu được xác định theo thành phần nào trong tín hiệu DVB-T(H) để có độ ổn
định cao và dễ nhận dạng trong SFN
Thuật toán được dùng trong tính toán tự định vị của máy thu phải đơn giản và phù hợp
Căn cứ vào các yêu cầu trên, nghiên cứu đã phân tích và lựa chọn dùng tín hiệu tham
chiếu TPS trong DVB-T(H) đóng vai trò như tín hiệu lấy mẫu; sử dụng và phát triển thuật toán
định vị hình học TDOA để máy thu tính toán tự định vị
Cấu trúc cơ bản và đặc điểm của khung tín hiệu tham chiếu TPS (Transmission Parameter
Signalling):
Trước tiên chúng ta xem xét kỹ cấu trúc, chức năng, nhiệm vụ và các đặc tính của khung
tín hiệu TPS trong tín hiệu DVB-T tổng thể, qua phân tich, chúng ta xác định việc dùng TPS
đóng vai trò tín hiệu đánh dấu khi ứng dụng trong tính toán định vị là hoàn toàn phù hợp và
Trong tín hiệu truyền hình số DVB-T(H), các sóng mang tham số báo hiệu được dùng với
mục đích tham số hoá báo hiệu liên quan tới sơ đồ phát như mã hoá kênh và điều chế TPS
được phát song song trên 17 sóng mang trong 2K và 68 sóng mang trong 8k Mỗi sóng mang
TPS trong biểu tượng giống nhau truyền bit thông tin được mã hoá khác nhau là như nhau
Danh mục các sóng mang bao gồm sóng mang TPS được nêu trong bảng 1
Bảng 1 Danh mục các sóng mang có sóng mang TPS
Các sóng mang TPS truyền đạt thông tin :
Thông tin sự tuần tự;
Giãn cách bảo vệ (không nhằm mục đích thu ban đầu nhưng tạo khả năng máy thu trả lại
trạng thái ban đầu khi tái cấu hình);
Trang 4Tốc độ mã lân cận;
Chế độ phát (2K hay 8K, không nhằm mục đích thu ban đầu nh−ng tạo khả năng máy thu trả lại trạng thái ban đầu khi tái cấu hình);
Số trang trong một siêu trang;
Nhận dạng ô
Vị trí của các sóng mang TPS trong trang OFDM đ−ợc bố trí cố định nh− hình 2:
CT 2
Hình 2 Vị trí các sóng mang TPS trong trang OFDM
Qua cấu trúc và nhiệm vụ của TPS chúng ta nhận thấy:
TPS đ−ợc phát ổn định, có chu kỳ trong khoảng thời gian tồn tại của các trang OFDM, chu
kỳ lặp lại chính là thời gian phát của một trang OFDM, với chế độ 2K và giãn cách bảo vệ 1/4 thì khoảng thời gian để phát một khối TPS là 12.24ms
TPS luôn đ−ợc phát song song trên một số sóng mang cố định, trong chế độ 2K dùng 17 sóng mang đ−ợc xắp xếp theo thứ tự nh− bảng 8 đã nêu
Trong trang OFDM TPS đ−ợc phát cố định và lặp lại theo chu kỳ
Từ đồng bộ dùng trong TPS luôn mang giá trị 0011010111101110 hoặc
24.48ms, với tính chất này chúng ta có thể sử dụng chúng đóng vai trò tín hiệu lấy mẫu định vị trong hệ tự định vị dùng tín hiệu DVB-T, máy thu ghi nhận thời điểm nhận đ−ợc từ đồng bộ của TPS, từ đó có thể tính toán khoảng cách từ các trạm phát tới máy thu
Do các khối TPS luôn mang thông tin xác định trong khoảng thời gian nào đó nên việc thu, giải mã TPS rất đơn giản và khả năng sửa lỗi rất cao Có thể nhận dạng đ−ợc TPS ngay cả
Trang 5trong trường hợp tín hiệu DVB-T(H) đến máy thu rất yếu và xuất hiện nhiều lỗi do nhiễu trên
đường truyền
Trong khối TPS có 8 bit mang thông tin nhận dạng các trạm phát (id_cell)
Với những ưu thế trên việc lựa chọn TPS đóng vai trò như tín hiệu đánh dấu là hoàn toàn
thích hợp, các máy thu có thể căn cứ vào thời điểm nhận từ đồng bộ của TPS và thông tin trong
id_cell để tính toán vị trí của mình
Thuật toán định vị và phương pháp giải hệ Phương trình định vị:
Giới thiệu thuật toán định vị dùng trong hệ thống định vị DVB-T(H):
CT 2
Thông qua tính toán với không gian 2D việc mở rộng trong không gian 3D là rất dễ dàng
Coi r
= 1, 2, …, (1)
Hiện nay có nhiều thuật toán định vị có thể ứng dụng
trong các mô hình định vị khác nhau, như: phương pháp đo
giả cự li; xác định cường độ tín hiệu; xác định thời gian truyền
tín hiệu; xác định góc tới của tín hiện… Nhưng phù hợp nhất
với mạng SFN là phương pháp xác định hiệu số thời gian
máy thu nhận được tín hiệu từ các đài phát khác nhau TDOA
(Time different of arrival) Đây là phương pháp định vị dựa
trên cơ sở hình học, theo nguyên tắc: hai trạm phát gần nhau
trong mạng SFN có hiệu số thời điểm nhận được tín hiệu
tuân thủ theo qui luật đường Hyperbole, có nghĩa tại bất kỳ
điểm nào trên hyperbole máy thu luôn nhận được tín hiệu từ
hai đài phát gần nhất có hiệu số thời gian là như nhau (xem
hình 3) Vậy với tập ba trạm phát
lân cận sẽ có hai đường
hyperbole giao nhau, đó chính là
vị trí của máy thu [3]
Hình 3 Vị trí của MT được biểu
diễn bởi điểm giao cắt của hai
Hyperbole
Hình 4: Mô hình xác định khoảng cách theo phương pháp
TDOA : toạ độ các đài phát : toạ độ chưa biết của máy thu
Xây dựng hệ phương trình
định vị theo TDOA:
Để đơn giản hoá phương
trình cũng như phù hợp với mục
tiêu đề ra là xây dựng hệ thống
định vị trong không gian hai
chiều, chúng ta xây dựng phương
trình định vị TDOA trong không
gian 2D Chúng ta xét với mô
hình các trạm phát DVB-T được
bố trí ngẫu nhiên, xem hình 4
ằng chúng ta có M đài phát phân bố trong không gian 2-D như hình 4
Đặt quan sát mẫu với đài phát thứ I là:
Trang 6ở đây: là tín hiệu phát xạ từ đài phát, là thời gian trễ liên quan tới đài phát thứ i và
là nhiễu sinh ra trong quá trình truyền Tín hiệu và nhiễu coi như độc lập với nhau Trị trung bình quá trình ngẫu nhiên Gaussian bằng không Để xác định máy thu, đầu tiên chúng ta đánh
giá TDOA của tín hiệu thu được do đài phát thứ i và thứ theo PP Hahn và Tretter [4]-[5] Nó là
đánh giá rất thuận tiện để PP CRLB (Cramer - Rao lower bound) có thể nhận được Kỹ thuật
gồm có đo TDOA cho tất cả cặp đài phát có khả năng theo chòm tổng quát (cross - correlation)
[7] và tính toán đánh giá Gauss - Markov (trọng lượng: Weighted) của TDOA với đối với đài phát
) k (
) k (
i
η
j
1 ,i
d j= d,i1- d,1 i , = 2, 3, …, M (2) j
của d được cho theo [4]-[5]:
1 , 2
0
1 p T 1 p 1 p 1 1
2
2 tr(N( ) )N ( ) N ( ) 11 N ( ) d
) ) ( N ( tr ) ( S 1
) ( S 2
T 2
ư Ω
ư
ư
ư
ư
⎪
⎬
⎫
⎪⎩
⎪
⎨
⎧
ω ω ω
ư ω ω
ì ω ω +
ω ω
) (
N ω N1(ω), N2(ω), …, NM(ω)} là ma trận phổ công suất nhiễu,
) (
) (
CT 2
Điều này có nghĩa giá trị nhiễu tự do của {*} như là {*} TDOA 0 d j sẽ thành
j
d = d0j+ n j; i , = 1, 2, 3, …, M (4) j
j
n
j
Để đơn giản hoá, danh mục i coi như chạy từ 2 tới M trong kết quả, trừ khi có trường hợp
đặc biệt Đặt nguồn tại vị trí chưa biết (x, y), thì bình phương khoảng cách giữa MT và đài phát
thứ i là:
ri2= (x ưi x)2+(yiưy)2= Ki- 2xix- 2yiy+ x2+y2 , i = 1, 2, 3, …, M (5)
ở đây: Ki= x +i2 y2i Nếu là tốc độ truyền phát thì: c r,i1= cd,i1= - (6) ri r1
Định nghĩa một tập các phương trình phi tuyến của các PP đưa ra (x, y)
Việc giải các phương trình phi tuyến rất khó khăn, tuyến tính hoá phương trình (6) bằng khai
Trang 7triển Taylor và giải theo phương pháp lặp Với một tập của đánh giá TDOA , PP mở đầu với
vị trí nguyên thuỷ (x
1 ,i
d
0, y0) và tính toán độ lệch vị trí:
⎥
⎥
⎦
⎤
⎢
⎢
⎣
⎡ Δ
Δ y
x
1 t 1 T
G
t
G Qư1ht
i
0
đủ nhỏ Phương pháp này khó tính khi sát điểm ban đầu và khối lượng tính toán nhiều, hơn
nữa độ hội tụ không chắc chắn
x Δ y
Δ
Một cách lựa chọn khác là chuyển dạng đầu tiên (6) sang tập các phương trình khác Từ (6)
ta có ri2= r,i1+r1)2và (5) có thể viết thành:
r +2,i1 2r,ir1+r12= Ki- 2xix- 2yiy+ x2+y2 (8)
Trừ (5) tại i =1 từ (8) ta có:
r +2,i1 2r,ir1 = -2x,i1x- 2y,i1y+Ki- K1 (9)
với các giá trị chưa biết là x, y và Để giải tìm x, y, tiến hành loại khỏi (9) và tạo nên ( M -2)
phương trình tuyến tính với x, y Vị trí của MT sẽ được tính toán bởi PP bình phương tối thiểu
(Least Square: LS) Mặt khác cũng có thể giải x, y như là số hạng của , kết quả trung gian sẽ
đưa ngược về (9) tạo nên phương trình tổng quát với biến chưa xác định là Thay thế việc tính
toán mà giảm tối thiểu lỗi phương trình LS tới kết quả trung gian mà đưa ra lời giải cuối cùng,
đây chính là nội dung phương pháp cầu nội suy (spherical- interpolation: SI) [8]
1 ,i
1
1
r
1
r
1
r
CT 2
Từ phương trình (9) xét với tập 3 trạm phát, theo Y T Chan chúng ta có hệ phương trình
TDOA như sau:
= -
⎥
⎥
⎦
⎤
⎢
⎢
⎣
⎡ y
1 , 3 1 , 3
1 , 2 1 , 2
y x
y
⎥
⎥
⎥
⎦
⎤
⎢
⎢
⎢
⎣
⎡
ì
⎪
⎪
⎭
⎪⎪
⎬
⎫
⎪
⎪
⎩
⎪⎪
⎨
⎧
⎥
⎥
⎥
⎥
⎦
⎤
⎢
⎢
⎢
⎢
⎣
⎡
+
ư
+
ư +
⎥
⎥
⎥
⎦
⎤
⎢
⎢
⎢
⎣
⎡
1 3 2 1 , 3
1 2 2 1 , 2 1 1 , 3
1 , 2
K K r
K K r 2
1 r r
r
(10)
ở đây (x,y) là toạ độ chưa biết của máy thu di động, (xi, yi) là vị trí đã biết của các trạm
phát liên quan và là các khoảng cách từ MT tới đài phát gần nhất, với i = 1, 2, 3 và: ri
r,i1= - ri r1 Ki= x +2i y 2i
x,i1= xi- x1 y,i1= yi- y1
= r1 (x1ưx)2+(y1ưy)2 (11)
Trang 8Các thuật toán giải hệ phương trình TDOA trình bày trên ít nhiều cũng phức tạp và khó khăn, để đơn giản hoá, một cách đánh giá mới cho định vị đánh dấu có khả năng thu được ứng dụng thuận tiện sẽ được giới thiệu dưới đây Trong trường hợp chung, chúng ta xét với tình huống MT nhận sóng của ba đài phát bố trí ngẫu nhiên, trường hợp đặc biệt là ba đài phát bố trí trên một đường thẳng trên thực tế không có khả năng xảy ra, do đó chúng ta không cần xét tới Phương pháp giải hệ phương trình định vị TDOA:
Để thuận tiện và đơn giản hoá hệ phương trình(10); (11), chúng ta tiến hành giải với các biến x, y theo hàm của hiệu số thời gian tín hiệu tới máy thu như sau:
Để giải hệ PT(10), (11) theo phương pháp kinh điển tao thuận lợi cho các thiết bị phổ
1
r r2,1
1 ,
3
r2,1= r2- =c.(r1 τ2- τ1) = c.Δt21
r3,1= c.Δt31 (12)
ri (i = 1, 2, 3) là khoảng cách từ các đài phát tới máy thu
nhau do vị trí của MT quyết định từ đó sẽ xác định được giá trị của và toạ độ của MT như sau:
i
t Δ
i
t Δ
1
r
⎪
⎪
⎩
⎪
⎪
⎨
⎧
+
ư
ư
ư
= +
+
ư
ư
ư
= +
1 3 2 1 , 3 1 1 , 3 1 , 3 1 , 3
1 2 2 1 , 2 1 1 , 2 1 , 2 1 , 2
K K r 2
1 r r y y x x
K K r 2
1 r r y y x x
(13)
CT 2
Từ đó chúng ta có thể tìm được giá trị của x và y:
1 , 2
1 2 2 1 , 2
1 , 3
1 , 3 1 , 2
1 , 2
1 , 2
1 2 2 1 , 2 1
, 3
1 3 2 1 , 3
1 , 2
1 , 2 1 1 , 2
1 , 2
1 , 3
1 , 3 1 , 2
1 , 2
1 , 2
1 , 2 1 , 3
1 , 3
1 , 2
1 , 2
x
K K r
x
y x y
x
K K r x
K K r
x
y r x r
x
y x y x
r x r
x
y x
+
ư
ư
ư
+
ư
ư +
ư
ư
⎟
⎟
⎟
⎟
⎟
⎠
⎞
⎜
⎜
⎜
⎜
⎜
⎝
⎛
ư
ư
ư
ư
1 , 3
1 , 3 1 , 2
1 , 2
1 , 2
1 2 2 1 , 2 1
, 3
1 3 2 1 , 3 1 1 , 3
1 , 3 1 , 2
1 , 2
1 , 2
1 , 2 1 , 3
1 , 3
x
y x y
x
K K r x
K K r r x
y x y x
r x r y
ư
+
ư
ư +
ư +
ư
⎟
⎟
⎠
⎞
⎜
⎜
⎝
⎛
ư
Để dễ hình dung chúng ta đặt các hệ số giản ước cho (13) và (14):
Trang 9a
x
y
x
y
x
r
x
r
1 , 3
1 , 3 1
,
2
1
,
2
1 , 2
1 , 2 1
,
3
1
,
3
=
−
−
x
y x y
x 2
K K r x
2
K K r
1 , 3
1 , 3 1 , 2
1 , 2
1 , 2
1 2 2 1 , 2 1
, 3
1 3 2 1 , 3
=
−
+
−
− +
−
c x r
x
y x
y
x
r x
r
x
y
1 , 2
1 , 2
1 , 3
1 , 3 1
,
2
1
,
2
1 , 2
1 , 2 1
,
3
1
,
3
1
,
2
1
,
−
−
x 2
K K r
x
y x y
x 2
K K r x
2
K K r
x
y
1 , 2
1 2 2 1 , 2
1 , 3
1 , 3 1 , 2
1 , 2
1 , 2
1 2 2 1 , 2 1
, 3
1 3 2 1 , 3
1 , 2
1 ,
−
+
−
− +
−
−
VËy lóc nµy chóng ta cã:
⎪
⎪
⎪
⎩
⎪
⎪
⎪
⎨
⎧
− +
−
=
+
=
+
=
2 1
2 1 1 1 1
y y x x r
d cr x
b ar y
(16)
⎪
⎪
⎪
⎩
⎪⎪
⎪
⎨
⎧
− +
−
=
+
=
+
=
2 1 2 1 2 1 1 1
) y y ( ) x x ( r
d cr x
b ar y
CT 2
XÐt riªng r1:
r12 =x12 −2x1x+x2+y12 −2y1y+y2
Thay gi¸ trÞ y vµ x ë trªn vµo vµ rót gän:
(c2+a2−1r12 −2[(x1−d)c+(y1−b)a]r1+[(x1−d)2 −(y1−b)2]=0
§Æt :
c2 + a2 - 1 = A
(x1 - d)c + (y1 - b)a = B
(x1 - d)2 + (y1 - b)2 =C
Lóc nµy ph−¬ng tr×nh trë vÒ d¹ng:
Ar1 – 2Br1 + C = 0
A
AC B B
2
1= ± − =± Δ Δ
Thay trë l¹i ph−¬ng tr×nh (16) chóng ta cã:
Trang 10x= ± c f(Δt21;Δt31) + d = ± F(Δt21;Δt31) (17) y= ± a f(Δt21;Δt31) + b = ± G(Δt21;Δt31) (18) Lúc này hệ phương trình định vị theo TDOA đã được tách nghiệm rõ ràng, toạ độ x, y của máy thu hoàn toàn chỉ phụ thuộc vào hiệu số khoảng thời gian truyền tín hiệu từ các trạm phát tới máy thu (trong phương trình thể hiện qua giá trị Δt21= t2 – t1 và Δt31= t3 – t1)
Việc loại bỏ một trong hai nghiệm để xác định đúng vị trí của máy thu có thể thực hiện thông qua so sánh dữ liệu GPS được lưu trong máy thu, đồng thời kết hợp với việc phân tích hành trình của máy thu
V Kết luận
Thông qua các phân tích và phát triển trên, chúng ta có thể thấy việc tính toán tự định vị máy thu theo mô hình định vị được đề xuất là hoàn toàn thuận tiện và dễ dàng Với việc phát triển, đưa ra kết quả cuối cùng của hệ phương trình định vị đã giúp chúng ta có thể thấy rõ quan
hệ giữa vị trí máy thu và hiệu số thời gian tới của tín hiệu từ các trạm phát lân cận, đồng thời việc tính toán vị trí máy thu có thể thực hiện rất đơn giản trên các máy thu Kết hợp giữa phương pháp tự định vị DVB - T(H) và GPS sẽ tạo thành một hệ định vị hoàn thiện Tuy nhiên trên thực
tế còn phải quan tâm tới các yếu tố ảnh hưởng tới độ chính xác định vị như quan hệ đồng bộ giữa các trạm phát; ảnh hưởng địa lý của môi trường truyền sóng, hiệu ứng Doppler sinh ra do máy thu chuyển động… Trong phạm vi của bài báo, tác giả chỉ xây dựng mô hình và thuật toán trên phương diện lý thuyết, việc mô phỏng và đánh giá suy giảm độ chính xác hình học GDOP (Geometry Dilute of Position) của phương pháp định vị DVB - T(H) được thực hiện trong các bài tiếp theo
CT 2
Tài liệu tham khảo
[1] N Q Tuấn “Cấu trúc tín hiệu DVB-T và khả năng ứng dụng trong kỹ thuật định vị” Tạp chí khoa học
Giao thông vận tải, số 14-05/2006
[2] N Q Tuấn “ Kỹ thuật thu tín hiệu DVB-T trong môi trường di động và mội số ứng dụng trong điều
khiển” Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, số 15- 08/2006
[3] N Q Tuấn “ Mạng đơn tần SFN và ứng dụng” Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, số 16- 12/2006 [4] W R Hahn and S A Tretter “ Optimum processing for delay- vector estimation in passive signal
arrays” IEEE, Trans, Vol IT- 19, pp 608-614, Sept 1973
[5] W R Hahn “ Optimum signal processing for passive sonar range and bearing estimation” J Acoust,
Vol 58, pp 201- 207, July 1975
[6] Y.T Chan and K C Ho “ A Simple and Efficient estimator for Hiperbolic location” IEEE, Trans, Vol 42,
No 8, August 1994
[7] C H Knapp and G C Carter “ The generalized correlation method for estimation of time delay” IEEE
Trans, Vol ASSP- 24, pp 320- 327, apr 1976
[8] J O Smith snd J S Abel “ Closed- form least- squares source location estimation from range-
difference measurements” IEEE Trans, Vol ASSP- 35, pp 1661- 1669, Dec 1987
[9] X R Li and K Pahlavan “Comparison of indoor geolocation methods in DSSS and OFDM Wireless
LAN systems” VTC 2000, IEEE
[10] M Vossiek, L Wiebking and C Hoffmann “ Wireless local positioning- Concepts, Solutions,
Applications” IEEE, 06/03/$17.00 Ă