Có nơi đưa ra lý do vì các dịch vụ hạ tầng cho thương mại điện tử chưa đầy đủ, sự hạn chế bởi thói quen tiêu tiền mặt của người Việt Nam, hay vì hệ thống luật cho thương mại điện tử chưa
Trang 1Một vài suy nghĩ về xây dựng và kinh doanh một số
dịch vụ hạ tầng phục vụ thương mại điện tử (TMĐT)
ở Tập đoàn BCVT Việt nam (VNPT) trong giai đoạn hội nhập quốc tế
PGS TS Nguyễn Đăng Quang
Bộ môn Kinh tế BCVT Trường Đại học Giao thông Vận tải
ThS Hoàng Mạnh Cường
Công ty tin học BĐ TP Hồ Chí Minh (NETSOFT)
Tóm tắt: Bμi viết nμy đề cập tới việc phân tích thực trạng cơ sở hạ tầng của VNPT nhằm
mục đích xây dựng vμ kinh doanh một số dịch vụ hạ tầng phục vụ thương mại điện tử tại VNPT
Đề xuất một số giải pháp xây dựng vμ kinh doanh một số dịch vụ hạ tầng phục vụ thương mại
điện tử tại VNPT trong giai đoạn hội nhập quốc tế, khi Việt Nam đã trở thμnh thμnh viên chính
thức của WTO
Summary: This article analyses VNPT’s infrastructures for e-business services and gives
some solutions to building up these infrastructures at VNPT during international integration
when Vietnam has become an official member of WTO
CT 2
I Đặt vấn đề
Cuộc cách mạng công nghệ thông tin như vũ bão vào những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ
20 đã tác động mạnh mẽ hơn bao giờ hết đến đời sống xã hội loài người Nếu so với cuộc cách
mạng công nghiệp trước đó vào thế kỷ 18, thì cuộc cách mạng số phát triển với tốc độ nhanh
đến chóng mặt Việc sử dụng các vi mạch điện tử để lưu trữ, xử lý và truyền tải một khối lượng
thông tin khổng lồ, sự liên kết hàng trăm triệu máy tính trên thế giới lại với nhau để chia sẻ và
trao đổi thông tin, chính là động lực chủ đạo của những chuyển biến kinh tế hiện nay
Tuy nhiên sự tăng trưởng kinh tế thế giới cũng gắn liền với một môi trường kinh doanh cạnh
tranh khốc liệt với những áp lực kinh doanh biến đổi khôn lường Các doanh nghiệp ngày nay
muốn tồn tại buộc phải cải tổ tổ chức, phương pháp quản lý, thay đổi chiến lược kinh doanh, dây
chuyền sản xuất cho phù hợp với môi trường kinh doanh năng động Thương mại điện tử là hệ
quả của cuộc cách mạng số, chính lμ một trong các công cụ hữu hiệu hỗ trợ cho doanh
nghiệp
Tại Việt Nam trong những năm gần đây vấn đề thương mại điện tử mặc dù được đề cập
khá nhiều Tuy nhiên những gì đạt được trên thực tế mới chỉ là những thông tin thu thập, phân
tích chưa đầy đủ trên giới truyền thông, những dự án trên bàn giấy hoặc một vài thử nghiệm nhỏ
của các nhà cung cấp dịch vụ Theo thống kê có trên 97% các doanh nghiệp Việt Nam chưa có
website riêng hoặc nếu có thì đa số chỉ “khoe” web lên chứ không hề phát triển nội dung cũng
Trang 2như cập nhật thông tin bởi không có kinh phí hoặc không biết làm thế nào để quảng bá, các kỹ năng ứng dụng TMĐT cũng yếu dẫn tới một số hiện tượng “chết yểu” Lý do để giải thích cho thực trạng này cũng được các nhà kinh doanh, kỹ thuật hoặc truyền thông phân tích khá phong phú Có nơi đưa ra lý do vì các dịch vụ hạ tầng cho thương mại điện tử chưa đầy đủ, sự hạn chế bởi thói quen tiêu tiền mặt của người Việt Nam, hay vì hệ thống luật cho thương mại điện tử chưa được thiết lập, hoặc vì đội ngũ chuyên gia máy tính về các kỹ thuật thương mại điện tử còn quá ít và kém kinh nghiệm v.v… Nhìn chung các phân tích và đánh giá này đều đúng ở một góc
độ nào đó và để giải quyết tất cả các vấn đề này cần một chiến lược tổng thể ở cấp nhà nước trong đó bao gồm nhiều mặt: hạ tầng viễn thông; hạ tầng công nghệ; trình độ CNTT của xã hội;
hệ thống thanh toán; cơ sở pháp lý của nhà nước; chính sách thúc đẩy, hỗ trợ của Nhà nước đối với TMĐT; nhận thức, trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp; vấn đề ngân sách của các doanh nghiệp; mức sống của xã hội; tập quán, thói quen của xã hội
Đứng trên góc độ của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam - VNPT (TCT Bưu chính Viễn thông cũ), thương mại điện tử là một vấn đề cực kỳ quan trọng cần phải tính đến để thay
đổi chiến lược, dây chuyền sản xuất kinh doanh nhằm tăng khả năng cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế Đồng thời, và quan trọng hơn, việc thúc đẩy thương mại điện tử trên phạm vi chung toàn quốc sẽ mở ra cho VNPT một hướng kinh doanh mới với sự phát sinh các dịch vụ mới để cung ứng và phục vụ cho thương mại điện tử Đây là một thị trường đầy hứa hẹn, và với tiềm lực và vị trí của mình, VNPT là đơn vị thích hợp và chắc chắn phải đi đầu trong lĩnh vực này Ngoài ra trên tầm vực quốc gia, việc thúc đầy thương mại điện tử cũng có thể xem là một nhiệm
vụ chính trị của VNPT mà chính phủ và nhân dân kỳ vọng
II Một số vấn đề chung về thương mại điện t ử
CT 2
1 Khái niệm
Hiện nay, định nghĩa TMĐT được rất nhiều tổ chức quốc tế khác nhau đưa ra, nhưng theo
định nghĩa rộng rãi nhất, giản dị nhất, và đã được chấp nhận phổ biến thì: TMĐT lμ việc sử
dụng các phương pháp điện tử để lμm thương mại, nói chính xác hơn, TMĐT lμ việc trao
đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử, mμ nói chung lμ không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nμo của toμn bộ quá trình giao dịch
Trong ý nghĩa hẹp, thương mại điện tử có thể được hiểu theo từng cách cụ thể hơn:
Trong khía cạnh truyền thông, TMĐT là sự phân phối hàng hoá, dịch vụ, thông tin hoặc
thanh toán thông qua mạng máy tính hoặc các phương tiện điện tử khác
Trong khía cạnh dịch vụ, TMĐT là công cụ giúp cho các doanh nghiệp, khách hàng cắt
giảm chi phí dịch vụ, nâng cao chất lượng hàng hoá và tăng tốc độ dịch vụ
Trong khía cạnh hoạt động kinh doanh, TMĐT là ứng dụng công nghệ để tự động hoá
các giao dịch và công việc kinh doanh
Các phương tiện kỹ thuật được sử dụng trong TMĐT là: điện thoại; máy điện báo (Telex) và máy Fax; truyền hình; thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử; mạng nội bộ (intranet) và liên mạng
nội bộ (extranet); Internet và Web Các hình thức hoạt động chủ yếu của giao dịch TMĐT là: thư
điện tử, thanh toán điện tử (trao đổi dữ liệu điện tử - Electronic Data Interchange, gọi tắt là
Trang 3EDI), tiền mặt Internet (Internet Cash), túi tiền điện tử (electronic purse-còn gọi là ''ví điện tử),
thẻ thông minh (smart card-còn gọi là ''thư thông minh''), giao dịch ngân hμng số hoá (digital
banking), và giao dịch chứng khoán số hoá (digital securities trading), trao đổi dữ liệu điện tử;
giao gửi số hoá các dung liệu; bán lẻ hàng hoá hữu hình
TMĐT gồm bốn loại giao tiếp: người với người (qua điện thoại, máy Fax, và thư điện tử);
người với máy tính điện tử (trực tiếp hoặc qua các mẫu biểu điện tử, và qua Web); máy tính
điện tử với máy tính điện tử (qua trao đổi dữ liệu điện tử - EDI, thẻ thông minh, các dữ liệu mã
hoá bằng vạch); máy tính điện tử với người (qua thư tín do máy tính tự động sản ra, máy Fax,
và thư điện tử
Mạng TMĐT (Cơ sở hạ tầng)
CT 2
Đáp ứng thông tin Chấp nhận đặt hàng Yêu cầu thanh toán
Yêu cầu thông tin Yêu cầu đặt hàng
Đặt lệnh thanh toán Thông tin về hàng hoá
Đáp ứng các thông tin
Thông báo về chuyển hàng
Chuyển hàng (nếu trực tuyến)
Thông báo thanh toán
Yêu cầu đáp ứng đơn hàng Yêu cầu thay đổi số lượng mua
Yêu cầu xác nhận thanh
toán Chấp nhận thanh toán
chuyển tiển điện tử
Chợ điện tử (Thực hiện giao dịch)
Thông báo thanh toán chuyển tiền điện tử
Chuyển tiền điện tử
Ngân hàng người
mua
Ngân hàng hối
đoái
Ngân hàng người bán
Hình 2.1 Mô hình một phiên giao dịch điện tử
Hình 2.1 minh hoạ một phiên giao dịch của chợ điện tử Trong chợ điện tử các người tham
gia chủ yếu là người quản lý các giao dịch, người mua, người bán, người môi giới Các người này
không ở cùng một nơi, thậm chí ít khi họ biết nhau
2 Các bộ phận cấu thành thương mại điện tử
TMĐT bao gồm 3 phần cơ bản: hạ tầng kỹ thuật, hệ thống hỗ trợ, các ứng dụng (xem hình 2.2)
Trang 4CT 2
Các chính sách
Luật, các văn bản quy phạm, các chương trình…
CáC ứNG DụNG TMĐT (Bán hàng qua mạng, đấu giá qua mạng,
quảng cáo…)
Con người
Người bán, người mua, trung gian…
Dịch vụ hỗ trợ
Nghiên cứu thị trường, dịch vụ khách hàng…
Tổ chức
Các đối tác, đối thủ cạnh tranh, hiệp hội
Hạ tầng dịch vụ
kinh doanh (thẻ
tín dụng, thanh toán điện tử, hệ
thống an ninh, bảo mật…)
Hạ tầng kênh phân phối thông tin (EDI, email, web)
Hạ tầng ngôn ngữ và nội dung mạng (hạ tầng xuất bản thông tin)
Hạ tầng viễn thông (mạng viễn thông, Internet, các phương tiện truy cập có dây, không dây, tốc
độ cao)
Hạ tầng giao diện (kỹ thật giao tiếp CSDL, ứng dụng)
Hình 2.2 Các bộ phận cấu thμnh thương mại điện tử
• Hạ tầng kỹ thuật là các công cụ, cơ sở kỹ thuật để thực hiện các giao dịch điện tử, bao
gồm:
Hạ tầng dịch vụ kinh doanh: cung cấp phương tiện kinh doanh trên mạng như thẻ tín
dụng, thanh toán điện tử, hệ thống an ninh, bảo mật v.v…
Hạ tầng viễn thông: mạng viễn thông, mạng máy tính, mạng Internet, các phương tiện kỹ
thuật truy cập có dây, không dây, tốc độ cao v.v
Hạ tầng kênh phân phối thông tin: đảm bảo trao đổi thông tin giữa các người tham gia
giao dịch và an toàn thông tin, như các công cụ trao đổi thông tin điện tử (EDI), thư điện tử
(email), đối thoại trên mạng (chatting), giao thức truyền tin siêu văn bản (Http) v.v…
Hạ tầng giao diện: các công cụ kỹ thuật cho phép giao tiếp với các cơ sở dữ liệu, các ứng
dụng của đối tác khác nhau
Hạ tầng xuất bản thông tin: các công cụ ngôn ngữ lập trình cho phép xây dựng các trang
thông tin đa phương tiện (văn bản, hình ảnh, âm thanh, phim v.v ) trên mạng
• Hệ thống hỗ trợ là các thành phần có liên quan để tạo ra môi trường giúp thực hiện các
giao dịch trong TMĐT như:
Trang 5Các chính sách: là luật pháp, quy định của nhà nước về thuế, bảo vệ bản quyền, tính
riêng tư, tính bảo mật, các tiêu chuẩn kỹ thuật để các hệ thống bắt tay làm việc với nhau đồng
bộ v.v
Các tổ chức: TMĐT được thực hiện qua toàn bộ chuỗi cung cấp của doanh nghiệp và do
đó có liên quan đến nhiều đối tác kinh doanh, các hiệp hội, tổ chức chính phủ
Con người: là người bán, người mua, các cấp trung gian, nhân lực CNTT, người quản lý
v.v
Dịch vụ hỗ trợ: Để thực hiện TMĐT cần có nhiều dịch vụ hỗ trợ như nghiên cứu thị trường,
các chiến lược tiếp thị trực tuyến, thiết lập nội dung thông tin và các dịch vụ khách hàng, thanh
toán, kho vận, hỗ trợ CNTT, v.v
• Các ứng dụng TMĐT là mô hình kinh doanh trên mạng như tiếp thị trực tiếp, bán hàng
qua mạng, tìm kiếm việc làm, dịch vụ ngân hàng, đấu giá, du lịch, báo điện tử, mua bán chứng
khoán, đào tạo từ xa, giải trí, trò chơi điện tử trực tuyến (games online) v.v Các ứng dụng này
liên tục phát triển dựa trên các ý tưởng sáng tạo của doanh nghiệp và các công cụ kỹ thuật
III THựC TRạNG CƠ Sở Hạ TầNG PHụC Vụ TMĐT TạI VNPT
1 Hạ tầng viễn thông
Mạng viễn thông quốc tế: mạng viễn thông quốc tế của VNPT hiện nay được khai tác trên
4 tuyến cáp quang (TVT, SMW3, CSC, TP.HCM – Phnompenh), 8 trạm thông tin vệ tinh mặt
đất, 231 trạm VSAT đầu cuối các loại, và một số tuyến cáp quang biển nối đến các quốc gia
(APCN, TPC-2, Chiana-US)… Tổng số kênh liên lạc quốc tế 5.044 kênh
Mạng viễn thông liên tỉnh: hoạt động trên hệ thống truyền dẫn liên tỉnh với tuyến trục cáp
quang công nghệ DWDM dung lượng 20Gbps Bên cạnh đó là một số tuyến truyền dẫn liên tỉnh
riêng L3 bao gồm mạng vòng trung kế tại Hà nội, Đà nẵng và TP.HCM Hệ thống chuyển mạch
gồm 7 tổng đài TOLL tại Hà nội, Đà nẵng, Tp HCM và Cần thơ
CT 2
Mạng nội hạt: gồm 2980 tổng đài các loại và 17.085 km cáp quang nội tỉnh
Mạng thế hệ mới NGN: gồm mạng trục với 02 điểm chuyển mạch mềm (Soft Switch), 03
nút mạng trung tâm NGN (Core Router M160) tại Hà Nội, Đà nẵng và Tp.HCM và 33 thiết bị
mạng Media Gateway tại 24 Bưu điện tỉnh/thành phố Tổng trung kế kết nối giữa các Media
gateway và mạng NGN với các hướng đạt 1.520 luồng E1 Mạng NGN cũng kết nối với hệ thống
Internet/VDC qua giao diện Gigabit Ethernet tạo nên sự kết hợp giữa mạng viễn thông, Internet
và mạng truyền thông đảm bảo linh hoạt trong việc tổ chức khai thác các dịch vụ điện thoại,
truyền số liệu, Internet, truyền hình…
Mạng di động MobiFone và VinaPhone: gồm 2.530 BTS Dịch vụ chuyển vùng mở tại
61/64 tỉnh thành (trừ Hà nội, Tp.HCM, Đà nẵng) Dịch vụ chuyển vùng quốc tế khai thác với 156
đối tác tại 84 quốc gia
Về mạng truyền số liệu: hiện nay 64/64 tỉnh thành đã có dịch vụ cung cấp kết nối
MegaWan liên tỉnh Riêng tại Tp.HCM đã triển khai dịch vụ MetroNet với mạng trục đạt 10
Gbps Các hệ thống X25 hoạt động ổn định Dung lượng kết nối Frame Relay đạt 42Mbps đi
các hướng Nhật bản, Hồng kông, Đài loan và Singapore
Hệ thống Internet: hệ thống Internet quốc tế khai thác trên 6 hướng với tổng dung lượng
Trang 63.2 Gbps Hệ thống trung kế Backbone trong nước đạt 2.5Gbps Hệ thống Wifi khai thác trên 11 Hospot tại một số khu vực trọng điểm
Như vậy hệ thống hạ tầng viễn thông do VNPT quản lý là rất lớn, hiện chiếm khoảng 85%
về tổng số vốn đầu tư và 80% về quy mô của các hệ thống này trên toàn quốc Định hướng của VNPT trong các năm gần đây và lộ trình đến 2010 là tập trung vào các dịch vụ băng rộng, các dịch vụ mới sử dụng công nghệ NGN với đặc điểm là đa dịch vụ với tốc độ cao (Triple play – Voice, Data, Video) Đây là hướng đi rất đúng, phù hợp với xu thế về công nghệ và dịch vụ Xét riêng trên lĩnh vực TMĐT, có thể khẳng định là hạ tầng viễn thông mà VNPT đang có hoàn toàn
đủ khả năng đáp ứng các nhu cầu hạ tầng cơ sở cho TMĐT từ việc kết nối liên mạng giữa các tổ chức để triển khai các mô hình EDI, hay thiết lập các nối kết liên thông giữa các ngân hàng để
hình thành hệ thống Payment gateway cho đến việc triển khai các ứng dụng TMĐT, các công
nghiệp nội dung số trực tuyến với hàng hoá kinh doanh là hàng số hoá như: tài liệu, sách báo,
âm nhạc, phim ảnh…
2 Hạ tầng bưu chính
Trong thương mại điện tử một vấn đề cực kỳ quan trọng là việc vận chuyển hàng từ người bán đến người mua sau khi hai bên đã hoàn tất một phiên giao dịch (giai đoạn Delivery) Đây là yếu tố mà ít doanh nghiệp Việt Nam chú ý đến Thông thường để làm được công việc này các nhà kinh doanh TMĐT thường phải thiết lập các quan hệ đối tác khá phức tạp với các nhà giao nhận vận chuyển chuyên nghiệp để đảm bảo sau khi một lệnh đặt hàng được thiết lập thì món hàng thực tế phải đến tay người đặt hàng trong thời gian sớm nhất
Trên lĩnh vực này, VNPT có một thế mạnh đặc biệt bởi hệ thống chân rết hùng hậu của các
điểm phục vụ (các bưu cục) và hệ thống vận chuyển, giao nhận hình thành từ hơn 60 năm qua
Trong trường hợp VNPT thiết lập được thêm các khâu thanh toán trực tuyến (hệ thống payment
gateway), hệ thống chứng thực (CA), một kết quả có thể thấy là các hệ thống này sẽ kết hợp
với hệ thống giao nhận vận chuyển (Delivery) vμ hệ thống viễn thông hiện có để trở thành
một nhà cung ứng dịch vụ hạ tầng TMĐT không có đối thủ tại Việt Nam Thêm vào đó nếu VNPT có ý định xây dựng các ứng dụng TMĐT cụ thể, như các website kinh doanh B2B, B2C… thì với nền tảng của các hệ thống trên, các ứng dụng của VNPT chắc chắn sẽ có chỗ đứng ở vị thế dẫn đầu thị trường
CT 2
Trong những năm qua mạng bưu chính của VNPT không ngừng được mở rộng, đa dạng hoá và hiện đại hoá Cụ thể như sau:
Tổng số điểm phục vụ trên toàn quốc đạt 17.118 điểm (số liệu cuối năm 2005), trong đó có: 2.978 bưu cục, 7.534 điểm Bưu điện – Văn hoá xã, 6.549 đại lý Bưu điện và 57 kiốt Bán kính phục vụ bình quân đạt 2.24 km/điểm, số dân bình quân phục vụ hiện xuống còn 4.806 người/điểm, đạt tỷ lệ bình quân cao nhất so với các nước trong khu vực Các điểm giao dịch cũng được đa dạng hoá và hiện đại hoá: 2.397 điểm Bưu điện – Văn hoá xã đã có cung cấp dịch vụ Internet, 1.738 bưu cục có dịch vụ chuyển tiền nhanh, 5.928 điểm mở dịch vụ thư chuyển tiền, 814 điểm mở dịch vụ tiết kiệm bưu điện
Mạng vận chuyển và khai thác bưu chính không ngừng phát triển: đường thư (đường vận chuyển tư từ, hàng hoá) quốc tế hoạt động trên 25 tuyến đường hàng không, 4 đường thư thủy
bộ trực tiếp Đường thư trong nước sử dụng 20 tuyến đường bay nội địa, mạng đường thư cấp I với 36 tuyến xe chuyên ngành với tổng chiều dài 11.864 km, 56/64 tỉnh/thành phố có 2 tuyến
Trang 7thư cấp 1 bằng phương tiện ô tô, tuyến đường sắt Hà Nội – Tp.HCM rút ngắn thời gian vận
chuyển xuống 38h Mạng vận chuyển bưu chính hiện có 1.162 xe ô tô các loại, 4.522 cân điện
tử, 1.785 máy in cước
Hiện nay và trong nhiều năm tới tại Việt Nam, vẫn chưa thể có nhà cung cấp các dịch vụ
bưu chính cơ bản nào có thể cạnh tranh được với VNPT
3 Hiện trạng kinh doanh và thị trường
Về thị trường, trong những năm gần đây, TMĐT được các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước
và xã hội đặc biệt quan tâm Bởi vì, nếu có thể tận dụng được mô hình kinh doanh mới mẻ này,
hiệu quả và các tác động của nó là vô cùng lớn Nhất là trong giai đoạn hội nhập hiện nay, có
thể xem TMĐT là phương tiện, công cụ tối quan trọng của các doanh nghiệp để có thể nâng cao
năng lực cạnh tranh Nhu cầu là rất lớn, theo thống kê năm 2006 của Bộ Bưu chính Viễn thông
cho biết số người dùng Internet tại Việt Nam đã đạt 15,6 triệu người, tăng 36% so với năm 2005,
và dự kiến sẽ tiếp tục tăng nhanh trong các năm tới với sự phổ biến của các mạng băng rộng,
và nhiều loại hình dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng), tuy nhiên hiện nay thị trường cung ứng các
công cụ và ứng dụng cho TMĐT là còn rất manh mún, tự phát và thiếu tính hệ thống Sự phát
triển hay đột phá nếu có xảy ra, cũng chỉ là một vài công cụ ứng dụng nhỏ lẻ ở một khâu nào đó
trong toàn trình của một mô mình TMĐT toàn diện Như vậy là thị trường là hoàn toàn rộng mở
đối với mọi doanh nghiệp, trong đó có VNPT
Có thể xem nhu cầu về các ứng dụng, mô hình kinh doanh TMĐT ở Việt Nam hiện nay
đang ở trạng thái cầu lớn hơn cung rất nhiều Vấn đề là các doanh nghiệp trong nước phải
nhanh chóng nắm bắt cơ hội, tập trung đầu tư phát triển một các nghiêm túc để có thể chiếm
lĩnh ngay thị trường, trước khi các doanh nghiệp nước ngoài với khả năng hơn hẳn về công
nghệ, kinh nghiệm, vốn liếng sẽ nhảy vào lĩnh vực đầy tiềm năng này VNPT, với tiềm lực mạnh,
hội tụ được mọi yếu tố cần thiết, là doanh nghiệp có thuận lợi đặc biệt trong thị trường này Vì
vậy, hơn ai hết, VNPT phải có những chiến lược và kế hoạch cụ thể để nhanh chóng tham gia
vào thị trường với vai trò là một doanh nghiệp nòng cốt Điều này không chỉ mang lại một cơ hội
kinh doanh quý giá cho VNPT mà nó còn mang tính toàn xã hội, bởi một khi VNPT đã đột phá
vào những khâu quan trọng nhất sẽ tạo tiền đề và nền tảng cho các doanh nghiệp cùng ngành
khác (các doanh nghiệp cung ứng giải pháp) có thể đẩy mạnh việc phát triển và cung cấp các
giải pháp, cũng như giúp các doanh nghiệp ứng dụng thực sự có thể áp dụng TMĐT vào công
việc làm ăn của mình Trong tình hình hiện nay, khi mà các vấn đề về pháp lý đang dần được
hoàn tất, các điều liện về xã hội, nhận thức và nhu cầu đã sẵn sàng, đây là thời cơ tốt nhất để
VNPT có thể chính thức xâm nhập mạnh mẽ vào lĩnh việc này
CT 2
Về mặt kinh doanh của VNPT trên lĩnh vực TMĐT, do việc phát triển còn mang tính tự phát,
thiếu tập trung, công thêm là các điều kiện khách quan trức đây chưa thuận lợi (pháp lý, chính
sách, nhận thức…) nên VNPT nói chung cũng như các doanh nghiệp trực thuộc VNPT nói riêng
trong những năm qua chưa thu được những kết quả như mong muốn Doanh thu từ các dịch vụ
cung ứng, các ứng dụng TMĐT còn rất thấp Nếu có một vài sự tăng trưởng nào đó, chẳng hạn
như doanh thu từ các dịch vụ nội dung (content) cho di động của VASC, cũng chỉ là những lĩnh
vực có liên quan đến TMĐT chứ không chính thức là từ TMĐT Các dịch vụ hạ tầng chính cho
TMĐT như dịch vụ thanh toán payment gateway hay chứng thực số CA chưa mang lại doanh
thu đáng kể nào Tương tự như vậy, các ứng dụng TMĐT thực tế B2B, B2C cũng chỉ mang lại
các khoản thu khiêm tốn khoảng 1-2 tỷ/năm So với doanh thu vài chục nghìn tỷ (khoảng 33
Trang 8nghìn tỷ năm 2005) của VNPT thì khoản thu này thật quá khiêm tốn Tuy nhiên, vào giai đoạn này (2006-2008) là thời điểm mang tính cơ hội rất lớn để VNPT có thể tham gia vào thị trường với kỳ vọng về một khoản thu nhập lớn trong tương lai Chẳng hạn, tổng doanh số bán buôn và bán lẻ nội địa tại thị trường Việt Nam năm 2005 đạt khoảng 25 tỷ USD Nếu khoảng 1/10 giao dịch này thực hiện qua mạng thì doanh số giao dịch điện tử sẽ là khoảng 2,5 tỷ USD Giả định VNPT chiếm khoảng 50% thị phần về các dịch vụ cung ứng, phục vụ TMĐT và tỷ lệ được hưởng của nhà cung ứng là khoảng 3% trên tổng doanh số (mức trung bình của thế giới) thì doanh số trên lĩnh vực dịch vụ phục vụ cho TMĐT của VNPT sẽ là: 2,5 tỷ USD x 50% x 3% = 37.5 triệu USD, tương đương khoảng 600 tỷ đồng Đây là một khoản doanh thu không nhỏ, đó là chưa kể
đến sự phát triển (GDP) của Việt Nam cũng như doanh thu từ các dịch vụ liên quan TMĐT khác mang lại như: viễn thông, bưu chính, cho thuê hạ tầng…
4 ứng dụng phân tích SWOT phân tích một số điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của VNPT trên thị trường cung ứng các giải pháp, dịch vụ phục vụ TMĐT
Trong tương lai nhu cầu về các dịch vụ hạ tầng cơ sở và các ứng dụng hỗ trợ cho TMĐT ở nước ta hiện nay là đầy tiềm năng Đây sẽ là mảnh đất màu mỡ trong tương lai cho các doanh nghiệp nếu nắm bắt được cơ hội này
Về phía VNPT, đây là doanh nghiệp có đầy đủ các thế mạnh để có thể trở thành một đơn vị dẫn đầu trên thị trường cung ứng các sản phẩm dịch vụ hỗ trợ cho TMĐT Trên thực tế, VNPT cũng đã nhận thức được vấn đề này và trong quan điểm chiến lược của mình, VNPT cũng đã xác định đây là lĩnh vực quan trọng, có sự ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của đơn vị trong tương lai Vấn đề là ở chỗ, VNPT phải nhanh chóng có kế hoạch và thực hiện ngay việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ then chốt nhằm chiếm lĩnh thị trường Bởi vì chúng ta đều biết việc cho ra đời một sản phẩm dịch vụ mới phải trải qua giai đoạn phát triển sản phẩm với 4 công
đoạn bắt buộc không hề đơn giản: nghiên cứu sản phẩm, dịch vụ; thiết kế sản phẩm dịch vụ; sản xuất và thử nghiệm; chuẩn bị các điều kiện kinh doanh
CT 2
Có thể phân tích một số điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của VNPT trên thị trường cung ứng các giải pháp, dịch vụ phục vụ TMĐT như sau:
Về cơ hội: về vấn đề này là tương đối rõ Thứ nhất, thị trường hiện nay đang có nhu cầu
tiềm năng rất lớn vì TMĐT ở Việt Nam mới chỉ ở khoảng giữa giai đoạn chấp nhận và ứng dụng Doanh số bằng hình thức TMĐT ở nước ta còn quá ít, quá nhỏ bé so với các hình thức thương mại thông thường đang thông dụng trên thị trường Thứ nhì, các đơn vị cung ứng các sản phẩm dịch vụ cho TMĐT hiện không nhiều, nếu không muốn nói là khá ít và trình độ cũng như năng lực còn hạn chế, khó có thể so sánh với VNPT Bên cạnh đó, chủ trương của nhà nước là khuyến khích các doanh nghiệp có khả năng đẩy mạnh việc cung ứng các sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ TMĐT là một thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực này, trong đó có VNPT
Về các điều kiện xã hội khác như nhận thức chung về TMĐT, mức sống người dân, trình độ quản lý của các doanh nghiệp… cũng đang được cải thiện và ngày một nâng lên đáng kể sẽ là
chất xúc tác mạnh để TMĐT phát triển
Về nguy cơ: mặc dù cơ hội là khá lớn, tuy nhiên các nguy cơ không phải là không có Thứ
nhất, nhiều doanh nghiệp cả trong và ngoài nước cũng đều nhận thấy những tiềm năng rất lớn
về thị trường TMĐT tại Việt Nam Đã có không ít doanh nghiệp bộc lộ ý định hết sức rõ ràng là
sẽ đầu tư mạnh vào lĩnh vực này Thứ hai, đây là một thị trường rất mới mẻ, do vậy khả năng
Trang 9nắm bắt mức độ chấp nhận của thị trường là không cao Trên thực tế là cũng chưa có đơn vị nào
đi trước để có thể học tập các thành công hay thất bại nhằm điều chỉnh hoặc phát huy những kế
hoạch và giải pháp Bên cạnh đó, các điều kiện về pháp lý, trình độ, thói quen xã hội… mặc dù
có nhiều tiến triển nhưng còn nhiều hạn chế, chưa phải là hoàn hảo để TMĐT có thể phát triển
mạnh mẽ
Về điểm mạnh: như phân tích ở các phần trước, VNPT có thế mạnh gần như tuyệt đối trên
lĩnh vực cung ứng cảc sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ TMĐT Thứ nhất VNPT có một hạ tầng viễn
thông, bưu chính, CNTT mạnh vào bậc nhất trong số các nhà cung cấp hiện nay Thứ nhì,
VNPT hiện đã có một số lượng khách hàng to lớn mà khó đơn vị nào có thể có được Hầu hết
các doanh nghiệp, các gia đình, hộ cá nhân có khả năng tiếp cận với TMĐT hiện đều là khách
hàng của VNPT Thứ ba, qua nhiều năm phát triển, VNPT có một bộ máy hùng hậu về trình độ,
bề dày kinh nghiệm, khả năng quản lý, vận hành, hậu mãi… đây có thể xem là điểm mạnh hết
sức quan trọng so với các nhà cung cấp khác Bên cạnh đó, VNPT cũng có quan hệ khăng khít
với nhiều nhà cung cấp giải pháp hàng đầu trên thế giới, nên có thể dễ dàng tiếp cận và nhận
chuyển giao công nghệ mới nhất trên nhiều lĩnh vực, trong đó có TMĐT Một thế mạnh khác
không thể không kể đến là VNPT có tiềm lực tài chính mạnh, điều kiện đủ để có thể phát triển
các sản phẩm dịch vụ và chịu đựng được các khó khăn tài chính trong giai đoạn đầu của việc
kinh doanh Và cuối cùng, VNPT là một doanh nghiệp nhà nước lớn, có uy tín, có quan hệ tốt
với các cơ quan chức năng do vậy có nhiều lợi thế trong việc triển khai các dịch vụ cần có sự
ủng hộ của các cơ quan này, đặc biệt là các dịch vụ thuộc hạ tầng như thanh toán hay chứng
thực chứng chỉ số
Về điểm yếu: thứ nhất VNPT là một tập đoàn kinh doanh đa ngành với tham vọng rất lớn,
do vậy có thể xảy ra trường hợp trong điều kiện nào đó, VNPT bị phân tán về nguồn lực, không
thể tập trung cho một số lĩnh vực trong đó có thể có TMĐT Thứ hai, việc phát triển và kinh
doanh các sản phẩm hỗ trợ TMĐT là còn tương đối mới nên cho dù có bề dày trên các lĩnh vực
liên quan nhưng cũng không thể nói đội ngũ của VNPT có đầy đủ kinh nghiệm trong việc khai
thác các dịch vụ này Bên cạnh đó VNPT có một cấu trúc tổ chức khá phức tạp, có thể dẫn đến
tình trạng nhiều đơn vị trong tập đoàn cùng triển khai các sản phẩm dịch vụ giống nhau nhưng
không đại diện cho toàn tập đoàn Ngoài ra cũng vì lý do tổ chức cồng kềnh nên rất dễ bị tình
trạng trì trệ, không năng động như các đơn vị khác và vì đó có thể làm mất đi cơ hội kinh doanh
CT 2
Tổng kết các cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh và điểm yếu của VNPT thể hiện ở bảng 3.1
Với các phân tích nêu trên, chiến lược kinh doanh chung của VNPT trên lĩnh vực cung ứng
các sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ thương mại điện tử nên thực hiện như sau :
Chiến lược thâm nhập thị trường: khai thác các thế mạnh S2, S3, tận dụng các các cơ hội
O1, O2, O3, O4
Chiến lược phát triển sản phẩm dịch vụ: phát triển các sản phẩm dịch vụ khai thác thế
mạnh S1, S4, S5, S6
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực nhằm khắc phục điểm yếu W2, hạn chế nguy cơ T3
Chiến lược về phân bổ nguồn lực (tổ chức và tài chính) để khắc phục các điểm yếu W1,
W3, W4
Chiến lược phát triển các kênh phân phối, chiến lược cạnh tranh, chiêu thị trên cơ sở các
thế mạnh S2, S3, S5 nhằm hạn chế nguy cơ T1, T2, T4
Trang 10Bảng 3.1 Phân tích SWOT của VNPT trong thị trường các sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ TMĐT
1 VNPT là doanh nghiệp có ưu thế và thế
mạnh trong lĩnh vực hạ tầng Bưu chính,
Viễn thông, CNTT
2 Có sẵn số lượng khách hàng
3 VNPT là doanh nghiệp có bộ máy quản
lý, vận hành và hậu mãi với bề dày kinh
nghiệm
4 Có được mối quan hệ khăng khít với
nhiều đơn vị cung cấp giải pháp trong nước
và trên thế giới
5 Có tiềm lực tài chính mạnh
6 Có quan hệ tốt với các cơ quan quản lý
nhà nước
1 Dễ bị khả năng phân tán nguồn lực do lĩnh vực hoạt động quá rộng
2 Đội ngũ chư có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ TMĐT
3 Bộ máy phức tạp dẽ bị chồng chéo trong phát triển và kinh doanh dịch vụ
4 Sự cồng kềnh dễ dẫn đến trì trệ, đánh mất cơ hội kinh doanh
1 Thị trường còn rất mới mẻ nên nhiều tiềm
năng
2 Các nhà cung cấp trên thị trường ít và
còn nhiều hạn chế về khả năng
3 Sự ủng hộ, khuyến khích của nhà nước
4 Các điều kiện xã hội ngày một thuận lợi
1 Có nhiều đơn vị khác đã và đang đầu tư và
đưa dịch vụ ra thị trường
2 Chưa nắm bắt được mức độ chấp nhận của thị trường
3 Chưa có đơn vị đi trước để học tập kinh nghiệm thành công/thất bại để phát huy/điều chỉnh
4 Trình độ, thói quen xã hội còn nhiều hạn chế
CT 2
IV Kết luận
Những phân tích trên đây là cơ sở để đề xuất giải pháp xây dựng và kinh doanh một số cơ
sở hạ tầng phục vụ thương mại điện tử tại VNPT Vấn đề này chúng tôi sẽ đề cập tới trong bài viết sau
Tài liệu tham khảo
[1] Hoμng Mạnh Cường Luận văn Thạc sỹ kinh tế Trường ĐH GTVT năm 2006
[2] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần IX
[3] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần X
[4] Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT ở Việt Nam từ 2006 đến 2010 của Chính phủ
[5] Luật Giao dịch điện tử
[6] Báo cáo TMĐT toàn cầu các năm 2004, 2005 - UNCTAD
[7] Chíến lược phát triển CNTT và truyền thông Việt Nam đến 2010 và định hướng đến 2020 của Chính phủ
[8] Đề án hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng CNTT phục vụ hội nhập và phát triển giai đoạn 2005-2010 của Chính phủ
[9] Báo cáo TMĐT Việt Nam 2003-2004-2005 – Bộ Thương mại
[10] Thương mại điện tử -2002 Nhà xuất bản Bưu điện
[11] Báo Dân trí điện tử ngày 14/6/2007Ă