BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI ---***--- NGUYỄN HOÀNG ANH NGHIÊN CỨU ðẶC ðIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA NẾP ðỊA PHƯƠNG VÀ PHÂN B
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-*** -
NGUYỄN HOÀNG ANH
NGHIÊN CỨU ðẶC ðIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA NẾP ðỊA PHƯƠNG VÀ PHÂN BÓN LÁ VỚI GIỐNG LÚA NẾP VƠI TRỒNG TẠI TÂN SƠN,
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam ñoan mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoàng Anh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
để hoàn thành bản luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực phấn ựấu của bản thân tôi ựã nhận ựược sự giúp ựỡ quý báu tận tình của các cấp lãnh ựạo, các tập thể, cá nhân và gia ựình
Trước tiên, cho phép tôi bày tỏ lòng kắnh trọng và biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Nguyễn Thị Kim Thanh ựã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện cũng như hoàn chỉnh luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn lãnh ựạo trường đại học Nông nghiệp Hà Nội, Ban chủ nhiệm khoa Sau ựại học, khoa Nông học, các thầy cô giáo ựã tạo mọi ựiều kiện, giúp ựỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Luận văn ựược thực hiện tại xã Xuân đài huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ tại ựây tôi ựã nhận ựược sự giúp ựỡ và tạo mọi ựiều kiện của đảng ủy, UBND
xã Xuân đài cùng các cán bộ khuyến nông xã bạn bè ựồng nghiệp và bà con nông dân trong xã trong suốt quá trình tôi thực hiện ựề tài Tôi xin chân thành cảm ơn những sự giúp ựỡ quý báu ựó
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn ựến phòng Thống kê, phòng Nông nghiệp, trạm khuyến nông huyện Tân Sơn ựã giúp tạo ựiều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn ựến bố, mẹ, anh, chị em và bạn bè
ựã luôn quan tâm, ựộng viên khắch lệ tôi
Một lần nữa cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ựến tất cả những
sự giúp ựỡ quý báu này
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoàng Anh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM đOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
1 MỞ đẦU 1
1.1 đặt vấn ựề 1
1.2 Mục ựắch - yêu cầu 3
1.2.1 Mục ựắch 3
1.2.2 Yêu cầu 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Giới thiệu sơ lược về cây lúa 5
2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và Việt Nam 7
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên thế giới 7
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Việt Nam 10
2.3 Một số kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng cho cây lúa 13
2.4 Dinh dưỡng qua lá của cây trồng 23
2.4.1 Dinh dưỡng qua lá 23
2.4.2 Tình hình sử dụng phân bón lá trên thế giới và trong nước 23
3 đèi t−ĩng, Néi dung vộ ph−ểng phịp nghiến cụu 28
3.1 đối tượng và vật liệu nghiên cứu 28
Trang 53.1.1 đối tượng nghiên cứu 28
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 29
3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 30
3.2.1 Néi dung nghiến cụu 30
3.2.2 Ph−ểng phịp nghiến cụu 30
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 đánh giá ệẳc ệiÓm sinh tr−ẻng, nẽng suÊt, tÝnh chèng chỡu vộ hiỷu quờ kinh tạ cựa cựa mét sè gièng lóa nạp ệẳc sờn tỰi Tẹn Sển, Phó Thả 35
4.1.1 đánh giá một số chỉ tiêu trên cây mạ trước khi cấy 35
4.1.2 Thời gian sinh trưởng qua các giai ựoạn 37
4.1.3 Số nhánh hữu hiệu và tỷ lệ nhánh hữu hiệu của các giống lúa nếp 39
4.1.4 Một số ựặc ựiểm của thân và bông của các giống lúa nếp 40
4.1.5 Một số ựặc ựiểm hình thái của các giống 42
4.1.6 Tình hình sâu bệnh hại và ựộ cứng của cây 43
4.1.7 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa nếp nghiên cứu 44
4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng phân bón lá ựến sinh trưởng phát triển, năng suất, tắnh chống chịu và hiệu quả kinh tế của giống lúa nếp Vơi trên ựất Tân Sơn, Phú Thọ 48
4.2.1 Ảnh hưởng của phân bón lá ựến thời gian sinh trưởng của giống lúa nếp Vơi 48
4.2.2 Ảnh hưởng của phân bón lá ựến chỉ số diện tắch lá (LAI - m2 lá /m2 ựất) của giống lúa nếp Vơi 49
4.2.3 Ảnh hưởng của phân bón lá ựến khả năng tắch luỹ chất khô của giống lúa nếp Vơi 51
4.2.4 Ảnh hưởng của phân bón lá ựến khả năng chống chịu sâu bệnh và ựộ cứng cây của giống lúa nếp Vơi vụ mùa 2010 53
Trang 64.2.5 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến các yếu tố cấu thành năng suất
của giống lúa nếp Vơi 55
4.2.6 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến hiệu quả kinh tế của giống lúa nếp Vơi 58
5 KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 ðề nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 66
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV: Bảo vệ thực vật Cs: cộng sự
CT: Công thức DT: Diện tích NL: Nhắc lại NSLT: Năng suất lý thuyết NSTT: Năng suất thực thu P1000 hạt: Khối lượng 1000 hạt TB: Trung bình
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 đánh giá một số chỉ tiêu mạ trước khi cấy 36
Bảng 4.2 Thời gian sinh trưởng qua các giai ựoạn 37
Bảng 4.3 Nhánh hữu hiệu và tỷ lệ nhánh hữu hiệu của các giống 40
Bảng 4.4 Một số ựặc ựiểm về thân và bông của các giống lúa nếp 41
Bảng 4.5 Một số ựặc ựiểm hình thái của các giống lúa nếp nghiên cứu 43
Bảng 4.6 Tình hình sâu bệnh hại và ựộ cứng cây của các giống lúa nếp nghiên cứu 44
Bảng 4.7 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa nếp nghiên cứu 45
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của phân bón lá ựến thời gian sinh trưởng của giống lúa nếp Vơi 48
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của phân bón lá ựến chỉ số diện tắch lá
(LAI - m2 lá/m2 ựất) của lúa nếp Vơi 50
Bảng 4.10: Ảnh hưởng của phân bón lá ựến khả năng tắch lũy chất khô của giống lúa nếp Vơi 52
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của phân bón lá ựến tình hình sâu, bệnh hại và ựộ cứng cây của các giống 54
Bảng 4.12 Ảnh hưởng của phân bón lá ựến các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa nếp Vơi 55
Bảng 4.13 Ảnh hưởng của phân bón lá ựến hiệu quả kinh tế của giống lúa nếp Vơi 58
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1 Giống lúa nếp Vơi 28
Hình 3.2 Giống lúa nếp Quà ðen 28
Hình 3.3 Giống lúa nếp Gừng 28
Hình 3.4 Giống lúa nếp Quả Vải 28
Hình 4.1: Năng suất thực thu của các giống lúa thí nghiệm 45
Hình 4.2: Năng suất lúa giống nếp Vơi ở các công thức thí nghiệm 56
Trang 101 MỞ ðẦU 1.1 ðặt vấn ñề
Xã hội phát triển, ñời sống của người dân ngày càng nâng cao, chất lượng
ăn uống ñược cải thiện ñáng kể nhất là khu vực ñô thị, nhu cầu về thực phẩm chất lượng cao ñang ñược ñặt lên hàng ñầu ðặc biệt với việc gia nhập WTO, nông nghiệp nước ta ñứng trước một thách thức hết sức to lớn Mặc dù là nước ñứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo song giá thành cạnh tranh thấp và chưa mang lại hiệu quả cao cho người nông dân ðiều ñó ñòi hỏi chúng ta phải ngày càng nâng cao chất lượng lúa gạo phục vụ tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu Từ buổi ñầu của nền văn minh, cây lúa ñã ñược chia làm hai loại là lúa nếp và lúa tẻ, cả hai loại lúa này ñều ñóng góp vai trò quan trọng trong ñời sống văn hóa ẩm thực của người dân Việt Nam
Lúa nếp ñược trồng từ rất lâu ñời và ñược sử dụng vào nhiều mục ñích khác nhau như: nấu xôi, làm các loại bánh trưng, bánh dày, bánh dẻo, làm ñồ uống như rượu và nhiều loại ñồ ăn khác, ñó là những thứ không thể thiếu trong các dịp lễ, tết Lúa nếp ñã góp phần làm nên hương vị ñộc ñáo, giàu tính nhân văn của văn hóa ẩm thực Việt Nam Lúa nếp chiếm khoảng 10 % diện tích sản xuất lúa và khoảng 10% lượng gạo ñược tiêu dùng của người Việt Nam
Từ thời ñại các vua Hùng, gạo nếp ñã ñược biết ñến trong truyền thuyết bánh chưng, bánh dày và các sản vật chế biến từ gạo nếp trong các dịp lễ, tết Trong một thời gian dài trước ñây, khi lương thực còn thiếu trầm trọng, cái ñói luôn rình rập, các giống lúa có năng suất cao luôn ñược quan tâm hàng ñầu Khi nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng tăng cao về sử dụng các giống lúa có chất lượng cao, thì người ta thường quay trở lại với các giống lúa bản ñịa truyền thống tuy năng suất không cao nhưng lại có chất lượng tốt Trong thời gian vừa qua, trên ñịa bàn tỉnh chủ yếu gieo trồng giống lúa nếp có năng suất cao nhưng phẩm chất cơm thấp (IRI 352), nhưng thị trường trong
Trang 11tỉnh vẫn có rất nhiều loại gạo nếp ựược nhập từ các nơi về (nếp điện Biên, nếp Tú Lệ, ) với chất lượng tốt Trong khi ựó, trên ựịa bàn huyện Tân Sơn, Thanh Sơn và Yên Lập, có rất nhiều giống lúa nếp bản ựịa, ựặc sản với chất lượng tốt, nhưng lại không mở rộng phát triển ựược, thậm chắ còn có nguy cơ mất hẳn giống
Xã Xuân đài thuộc huyện Tân Sơn năm 2009 có diện tắch lúa vụ chiêm
159 ha, vụ mùa 163 ha, năng suất bình quân ựạt 47 tạ/ha; tỷ lệ diện tắch lúa lai ựạt 40% Trước ựây, vụ mùa tỷ lệ diện tắch lúa nếp chiếm 50% là các giống nếp ựịa phương như nếp Vơi, nếp Quà ựen, nếp Gừng, nếp quả vải, .; vụ chiêm là các giống lúa tẻ ựịa phương Hệ thống thủy lợi chủ yếu là nước ựược dẫn từ ựập dâng, khe núi tự chảy, ựịa hình ruộng bậc thang, khe rộc
Như vậy, trên cơ sở thu thập thông tin ban ựầu tại ựịa phương cho thấy, trên ựịa bàn huyện Tân Sơn nói riêng, các huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ nói chung có nhiều giống lúa nếp bản ựịa ựặc sản, nhưng ựể khôi phục lại ựược nguyên bản các ựặc tắnh quý vốn có của giống thì phải tiến hành khảo nghiệm, ựánh giá so sánh giống; sau ựó là phục tráng giống ựể có hạt giống lúa nếp siêu nguyên chủng và nguyên chủng phục vụ sản xuất ựại trà
Xuất phát từ ựặc tắnh của các giống lúa nếp ựặc sản của Tân Sơn là các giống lúa phản ứng với ựiều kiện ánh sáng ngày ngắn, lại phải ựược sinh trưởng trong ựiều kiện sinh thái tại Tân Sơn (vùng nguyên sản), nên ựề tài tiến hành trong ựiều kiện thời tiết vụ mùa, ựặt tại xã Xuân đài, huyện Tân Sơn là một trong những xuất xứ của các giống lúa nếp Tân Sơn, tại ựây ựã có câu ỘTiền nhà Chúa, lúa Xuân đàiỢ để lựa chọn ựược giống có khả năng thắch ứng tốt, năng suất, chất lượng cao ở ựiều kiện ựịa phương, chúng tôi tiến hành ựề tài:
ỘNghiên cứu ựặc ựiểm sinh trưởng, phát triển, năng suất của một số
giống lúa nếp ựịa phương và phân bón lá với giống lúa nếp Vơi trồng tại Tân Sơn, Phú Thọ vụ mùa 2010.Ợ
Trang 121.2 Mục ựắch - yêu cầu
1.2.1 Mục ựắch
- đánh giá ệẳc ệiÓm sinh tr−ẻng vộ nẽng suịt cựa cịc gièng lóa nạp ệẳc sờn tỰi huyỷn Tẹn Sển lộm cể sẻ ựể chọn gièng cã nẽng suÊt chÊt l−ĩng nhớt phỉ hĩp vắi ệiÒu kiỷn sinh thịi cựa huyỷn Tẹn Sển, tửnh Phó Thả
- Xịc ệỡnh chạ phÈm phun qua lị phỉ hĩp nhỪm lộm tẽng nẽng suÊt gièng lóa nạp Vểi tỰi huyỷn Tẹn Sển, tửnh Phó Thả
Trến cể sẻ ệã ệÒ xuÊt gièng lóa cho nẽng suÊt vộ hiỷu quờ kinh tạ cao,
ệăng thêi khuyạn cao loỰi phẹn bãn lị thÝch hĩp cho gièng lóa nạp Vắi nhỪm lộm tẽng hiỷu quờ kinh tạ cho ng−êi sờn xuÊt tỰi huyỷn Tẹn Sển Tẹn Sển tửnh Phó Thả
- Xịc ệỡnh loỰi phẹn bãn lị lộm tẽng nẽng suÊt vộ hiỷu quờ kinh tạ cho ng−êi sờn xuÊt tỰi huyỷn Tẹn Sển tửnh Phó Thả
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kạt quờ nghiến cụu sỳ cung cÊp dÉn liỷu khoa hảc vÒ ệẳc ệiÓm sinh tr−ẻng phịt triÓn cựa cịc gièng lóa nạp ệỡa ph−ểng tham gia thÝ nghiỷm ậăng thêi cung cÊp dÉn liỷu vÒ ờnh h−ẻng cựa chạ phÈm phun qua lị ệạn sinh tr−ẻng, phịt triÓn, nẽng suÊt gièng nạp Vểi tỰi huyỷn Tẹn Sển tửnh Phó Thả
Trang 13Kết quả của ủề tài cú thể làm tài liệu tham khảo cho học tập và nghiờn cứu trờn giống lỳa nếp ủịa phương và ủặc biệt giống lỳa nếp Vơi tại Phỳ Thọ
1.3.2 í nghĩa thực tiễn
Qua kết quả nghiên cứu ủó xác định và ủề xuất giống lúa nếp đặc sản cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao tại Tõn Sơn, Phỳ Thọ Đồng thời đề xuất loại phân bón lá bổ sung vào quy trỡnh thõm canh tăng năng suất và tăng hiệu quả kinh tế cho người sản xuất trên giống lúa nếp Vơi trồng tại Tân Sơn tỉnh Phú Thọ
Trang 142 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu sơ lược về cây lúa
*Nguồn gốc cây lúa
Cây lúa là cây trồng có lịch sử trồng trọt lâu ựời căn cứ vào các tài liệu khảo cổ của Trung Quốc, Ấn độ, Việt NamẦcây lúa ựã có mặt từ 3000 -
4000 năm trước công nguyên, ở Trung Quốc vùng Triết Giang ựã xuất hiện cây lúa khoảng 5000 năm, ở hạ lưu sông Dương Tử 4000 năm trước [11] Ở
Việt Nam, cây lúa ựược coi là cây trồng Ộbản ựịaỢ, nó không phải là loại cây
từ nơi khác ựưa vào (Bùi Huy đáp - 1985) [9] Việt Nam nằm trong cái nôi lớn sinh ra nghề trồng lúa của loài người, nhiều tác giả khi nghiên cứu về nguồn gốc của cây lúa trồng ở trong và ngoài nước ựã xác ựịnh ựó là vùng bán ựảo đông Dương, Miến điện và Thái Lan [9]
Theo nghiên cứu của Ting (1933), SaniPaath và Rao (1951) về xuất xứ
của lúa trồng O.sativa L có nguồn gốc từ Trung Quốc, Ấn độ Theo kết luận của Chang (1976) thì O.Sativa L xuất hiện tại Hymalaya, Miến điện, Lào,
Việt Nam và Nam Trung Quốc
Từ các trung tâm này, lúa Indica phát tán lên khu vực sông Hoàng Hà
và sông Dương Tử rồi sang Nhật Bản, Triều Tiên và từ ựó biến thành chủng Japonica, Sinica Lúa Javanica ựược hình thành ở Inựônêxia nó là sản phẩm của quá trình chọn lọc từ Indica [16]
Về nguồn gốc cây lúa cũng có nhiều ý kiến khác nhau, có ý kiến cho rằng cây lúa ựược hình thành ựầu tiên ở vùng Tây Bắc - Ấn độ, Myanma, Thái Lan, Lào, Nam Trung Quốc và Việt Nam Một số tác giả cho rằng cây lúa bắt nguồn từ Ấn độ (Watt G, 1908; Vavilop N.T 1926) Một số tác giả khác coi Nam Trung Quốc là vùng xuất hiện cây lúa ựầu tiên (Decaựolle A, 1885;
Trang 15Roshevit Ru 1930) Lại có người cho rằng: cây lúa có nguồn gốc ở Việt Nam, Campuchia (Chevalier A.1937, Komarov V.L 1938, Erughin P.S.1950) Cũng có ý kiến cho rằng: Quê hương của cây lúa là vùng ựồng bằng đông Nam Á [11]
* Phân loại lúa trồng
đối với lúa trồng cũng có nhiều cách phân loại khác nhau:
- Theo ựiều kiện sinh thái, Kato (1930) chia lúa trồng thành 2 nhóm Japonica (lúa cánh) và Indica (lúa tiên) Dinh Dĩnh (1958) cho rằng lúa cánh bắt nguồn từ Trung Quốc nên gọi là Sino - Japonica
Lúa tiên: phân bố ở vùng vĩ ựộ thấp như Ấn độ, Nam Trung Quốc, Việt Nam, Inựônêxia Lúa tiên cao cây, lá nhỏ, xanh nhạt, bông xoè, hạt dài,
vỏ trấu mỏng, lúa tiên thường khô cơm, nở nhiều Lúa cánh: phân bố ở vùng
vĩ ựộ cao như Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc, Châu ÂuẦ Lúa cánh thấp cây, lá to, xanh ựậm, bông chụm, hạt ngắn, vỏ trấu dày về phẩm chất lúa cánh thường dẻo, ắt nở
Ngoài hai loài phụ Indica và Japonica còn có loài phụ Javanica ựược phân bố nhiều ở Inựônêxia, Malayxia, PhilippinẦ Loài phụ này có ựặc ựiểm cao cây lá to, ựẻ nhánh kém, hạt thưa và rộng
- Theo mùa vụ gieo cấy trong năm và thời gian sinh trưởng người ta chia ra làm lúa chiêm và lúa mùa
- Căn cứ vào thời gian sinh trưởng khác nhau, Trung Quốc chia ra lúa sớm và lúa muộn hoặc lúa xuân và lúa mùa Từ lâu ở nước ta ựã hình thành 2
vụ lúa chiêm và lúa mùa Về nguồn gốc lúa chiêm ựược hình thành từ lúa mùa sớm nhưng do sinh trưởng trong vụ ựông xuân, nhiệt ựộ thấp nên thực tế thời gian sinh trưởng của lúa chiêm lại dài hơn lúa mùa
Trang 16Lúa chiêm mẫn cảm với ñiều kiện nhiệt ñộ, ngược lại lúa mùa nhất là lúa mùa trung và mùa muộn phản ứng chặt với quang chu kỳ
- Theo ñiều kiện tưới và gieo trồng
Do ruộng lúa ñược phân bố trong các ñiều kiện ñịa hình khác nhau, chế
ñộ tưới và mức nước tưới ngập khác nhau ñã hình thành lúa cạn (lúa ñồi, lúa nương) và lúa nước, lúa chịu nước sâu hay lúa nổi Về nguồn gốc: người ta cho rằng lúa cạn là từ lúa nước mà hình thành Trong thân, lá của lúa cạn vẫn
có tổ chức mô thông khí, một ñặc trưng hình thái của cây lúa nước, vì vậy khi
ñưa lúa cạn “xuống ruộng” chúng vẫn sinh trưởng và cho năng suất bình
thường thậm chí còn tăng cao do gặp ñiều kiện thuận lợi [11]
- Theo chất lượng và hình dạng hạt: Kornik và Atefeld phân chia lúa ở Java (Inñônêxia) thành lúa tẻ (Utinissma) và lúa nếp (Glutinosa) lúa tẻ và lúa nếp khác nhau là do cấu tạo và thành phần tinh bột… Lúa tẻ có thành phần tinh bột là amyloza, các phân tử có cấu tạo mạch ngang (liên kết 1 - 4) Lúa nếp có thành phần tinh bột chủ yếu là amylopectin, ngoài mạch ngang còn có cấu tạo mạch dọc (liên kết 1 - 6) Người ta cho rằng lúa nếp là do lúa tẻ biến
dị mà thành [11]
Ngoài các nhóm trên ở Việt Nam còn có một số giống lúa thích nghi với các tiểu vùng sinh thái chuyên biệt khác nhau như giống lúa chịu mặn, các giống này thường ñược trồng ở vùng Duyên Hải, Bắc, Nam Trung Bộ Các vùng ñó thường xuyên bị nước biển xâm nhập nhưng nếu ñược thau rửa nước ngọt vẫn có thể canh tác ñược
2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên thế giới
Lúa là một trong ba cây lương thực quan trọng trên thế giới, là cây có giá trị dinh dưỡng cao Trên thế giới hiện nay có trên 100 quốc gia trồng lúa,
Trang 17diện tích lúa gạo tương ñối lớn, ñứng thứ hai sau lúa mỳ Trong ñó Châu Á là châu lục ñứng ñầu thế giới về diện tích cũng như sản lượng, tiếp theo là Châu Phi, Bắc Mỹ ñến Nam Mỹ
Theo thống kê của tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên hợp quốc (FAO) thì trong vòng 30 năm từ năm 1970 - 2000 diện tích trồng lúa tăng từ 134.390 nghìn ha lên 154.377,1 nghìn ha Tổng sản lượng lương thực tăng từ 308,767 triệu tấn lên 598,98 triệu tấn
Nhìn tổng quan về diện tích và năng suất thì năm 2008 có diện tích trồng lúa thấp nhất ñạt 148.730 nghìn ha nhưng lại có năng suất cao nhất là 42,1 tạ/ha Sở dĩ có ñược sản lượng cao như vậy là do áp dụng ñược các tiến
bộ về khoa học kỹ thuật như: ðầu tư phân bón, sử dụng các giống lúa mới có năng suất cao và phẩm chất tốt, xây dựng cơ sở vật chất, hoàn chỉnh về biện pháp kỹ thuật Năng suất bình quân trên thế giới trong mấy năm gần ñây có
xu hướng tăng lên rõ rệt, thể hiện: Năm 2004, năng suất ñạt 39,7 tạ/ha và năm
2006 ñạt 40,3 tạ/ha và ñến năm 2008 năng suất ñạt 42,1 tạ/ha
Về sản lượng lúa của thế giới trong những năm gần ñây tăng nhanh, trong ñó sản lượng ñạt thấp nhất vào năm 2004 là 608,493 triệu tấn Năm
2008 có sản lượng cao nhất ñạt 626,153 triệu tấn, có ñược sản lượng này là do năm 2008 có năng suất cao nhất ñạt 42,1 tạ/ha
Châu Á là vùng ñông dân cư, cũng là vùng gieo trồng và sản xuất lúa gạo lớn nhất trên thế giới với diện tích trồng lúa 133.251 nghìn ha, năng suất
36 tạ/ha, sản lượng 447.267 nghìn tấn, chiếm 90% lượng thóc thế giới và tiêu thụ 90% lượng gạo thế giới Trong thập kỷ qua, Châu Á có những tiến bộ ñáng kể trong việc nâng cao năng suất và sản lượng lúa gạo 85% sản lượng lúa trên thế giới phụ thuộc 8 nước Châu Á: Trung Quốc, Ấn ðộ, Indonesia,
Trang 18Banglades, Việt Nam, Thái Lan, Myanma và Nhật Bản Trung Quốc luơn là nước đứng đầu thế giới về sản lượng lúa gạo Năm 2000 sản lượng thĩc của Trung Quốc đạt 180 triệu tấn, đứng thứ hai là Ấn ðộ đạt 135 triệu tấn thĩc Năm 1990 tổng diện tích trồng lúa của Châu Á là 131.903 nghìn ha, cho năng suất 36,5 tạ/ha và sản lượng đạt 480,772 triệu tấn Năm 1992 tổng diện tích gieo trồng là 130.974 nghìn ha, năng suất đạt 36,6 tạ/ha và sản lượng 479,588 triệu tấn
Xét về tiêu dùng thì lúa được tiêu thụ nhiều nhất, chiếm 85% tổng sản lượng sản xuất ra, sau đĩ là lúa mỳ chiếm 60% và ngơ chiếm 25% Năm 1996 lúa gạo đã được tiêu thụ trên 176 quốc gia trên thế giới với 5,8 tỷ dân
Tốc độ tăng năng suất và sản lượng lúa của các nước trong khu vực Châu
Á đã gĩp phần đảm bảo lương thực, thực phẩm, cung cấp cho tồn cầu một cách tích cực và cĩ vai trị quan trọng Năm 2008, tổng sản lượng lương thực về lúa của Châu Á là 582,391 triệu tấn, chiếm 94,9% sản lượng lúa tồn thế giới Như vậy, Châu Á cĩ thể coi là nguồn cung cấp lương thực cho tồn cầu
Theo số liệu dự đốn về sự phát triển dân số thế giới đến năm 2050 thì đến năm 2010 dân số thế giới sẽ là 6.795 tỷ người với tỷ lệ tăng hàng năm 1,2% ðến năm 2050 là 8.909 tỷ người với tỷ lệ tăng hàng năm 0,4% Với tốc
độ tăng dân số nhanh chĩng, diện tích đất trồng trọt ngày càng bị thu hẹp thì vấn đề an ninh lương thực vẫn luơn đĩng vai trị quan trọng hàng đầu với nhiều quốc gia trên thế giới
Những tiến bộ trong sản xuất lúa trên thế giới trong vài ba thập kỷ qua rất đáng khích lệ Việc đầu tư thâm canh, áp dụng giống mới, xây dựng cơ sở vật chất, hồn chỉnh các biện pháp kỹ thuật… là những lý do để đạt được kết quả trên
Trang 192.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước có ñiều kiện khí hậu nhiệt ñới nên rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng, trong ñó ñặc biệt là cây lúa Từ lâu cây lúa ñã trở thành cây lương thực chủ yếu và có ý nghĩa ñáng kể trong nền kinh tế xã hội của ñất nước Với ñịa bàn trải dài trên
15 vĩ ñộ Bắc bán cầu, ñã hình thành những vùng ñồng bằng châu thổ trồng lúa phì nhiêu tong ñó có ñồng bằng Châu thổ sông Hồng và ñồng bằng sông Cửu Long là hai vựa lúa lớn nhất của nước ta ñã cung cấp nguồn lương thực chủ yếu nuôi sống cả mấy chục tiệu con người
Trước năm 1945, diện tích trồng lúa của hai ñồng bằng Bắc Bộ và Nam
Bộ là 1,8 triệu ha và 2,7 triệu ha với sản lượng tương ứng là 2,4 triệu tấn và 3,0 triệu tấn, năng suất bình quân là 13 tạ/ha Khoảng hai thập kỷ sau, vào những năm 60 miền Bắc có phong trào phấn ñấu dành 5 tấn/ha/năm cho ñến năm 1974 ñã ñạt ñược mục tiêu này Năng suất lúa bình quân ñạt 51,4 tạ/ha/năm Sau năm 1975 ñất nước ta hoàn toàn thống nhất, sản xuất lúa ở nước ta ñã có những bước phát triển ñáng kể, ñã ñưa ñất nước ta từ một nước nhập khẩu khoảng 0,8 triệu tấn trở thành một nước tự túc lương thực cho 70 triệu dân, ngoài ra cũng có một phần dành cho xuất khẩu [11]
Sau năm 1975, trong ñiều kiện ñất nước thống nhất sản xuất lúa ở nước
ta ñã có những thuận lợi mới và ñã có những bước phát triển ñáng kể
Bình quân lương thực tiêu thụ của Việt Nam năm 1975 ñạt 200 kg/người/năm, năm 1985 ñạt 300 kg/người/năm và ñến năm 2001 ñạt 420 kg/người/năm
Theo ñánh giá của tổ chức lương thực và nông nghiệp liên hợp quốc (FAO), hiện tại trong 10 nước trồng lúa lớn nhất thế giới, Việt Nam xếp hạng thứ 5 với 7,5 triệu ha gieo trồng, sản lượng 34,5 triệu tấn lúa/năm, xếp sau Trung
Trang 20Quốc (30,5 triệu ha, 190 triệu tấn), Ấn ðộ (44,6 triệu ha, 134 triệu tấn), Indonesia (11,5 triệu ha, 51 triệu tấn) và Banglades (10,7 triệu ha, 35,8 triệu tấn)
Những năm gần ñây sản xuất lúa gạo ở Việt Nam ñã ñạt ñược những thành tựu rất ấn tượng với cộng ñồng quốc tế Từ một nước thiếu lương thực Việt Nam ñã từng bước vươn lên trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu lúa gạo hàng ñầu thế giới
Kể từ năm 1989, năm ñầu tiên Việt Nam có gạo xuất khẩu ñến nay Việt Nam ñã ñóng góp với thế giới trên 40,7 triệu tấn gạo với giá trị trên 9 tỷ USD, từng bước vươn lên trở thành quốc gia ñứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo
Năng suất và sản lượng lúa tăng có nhiều nguyên nhân, trong ñó trước tiên là những thay ñổi về cơ chế chính sách mới trong nông nghiệp nông thôn, sau ñó là những thay ñổi trong kỹ thuật trồng lúa Nhờ có sự quan tâm của ðảng và Nhà Nước, với chủ trương của Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn, tình hình sản xuất lúa của nước ta trong mấy chục năm gần ñây ñã có sự tăng trưởng
Về diện tích trồng lúa những năm gần ñây của nước ta không ổn ñịnh
và có xu hướng giảm xuống, biến ñộng từ 7.411 nghìn ha xuống còn 7.313 nghìn ha Trong ñó, năm có diện tích trồng lúa lớn nhất là năm 2004 với diện tích 7.411 nghìn ha, năm có diện tích thấp nhất là năm 2008 với diện tích 7.313 nghìn ha Diện tích trồng lúa của nước ta trong năm gần ñây có xu hướng giảm qua các năm và nguyên nhân gây lên sự biến ñổi ñó là do dân số tăng, các khu công nghiệp và ñô thị hoá hình thành ðây là xu hướng không
có lợi cho việc phát triển nông nghiệp nói chung và ngành trồng lúa nói riêng
Năng suất lúa có xu hướng ngày càng tăng ñược thể hiện qua các năm Năm 2004, năng suất lúa ñạt 47,9 tạ/ha, năm 2006 ñạt 49,0 tạ/ha và
Trang 21năm 2008 năng suất ñạt 51,1 tạ/ha Có ñược sự tăng trưởng trên là do nhà nước ñã có những chính sách ñúng ñắn trong phát triển ngành nông nghiệp, ñặc biệt là ñối với nghề trồng lúa cùng với việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Cùng với sự tăng năng suất thì sản lượng lúa của Việt Nam trong những năm gần ñây cũng có xu hướng tăng nhanh Tăng từ 35,5 triệu tấn năm 2004 lên tới 37,55 triệu tấn năm 2008, mặc dù diện tích trồng lúa từ năm 2004 ñến năm 2008 giảm xuống chỉ còn 7.313 nghìn ha Tốc ñộ tăng trưởng sản lượng lúa như vậy là một dấu hiệu ñáng mừng cho ngành nông nghiệp nước nhà
Năng suất và sản lượng lúa của nước ta trong những năm qua và mấy năm gần ñây tăng lên cũng là do nhiều nguyên nhân khác nhau trong
ñó trước tiên là những thay ñổi về chính sách trên phạm vi vĩ mô từ thời
kỳ ñổi mới mơ cửa, sau ñó là những thay ñổi về cơ cấu giống chuyển ñổi mùa vụ, giải quyết tưới tiêu, cải tạo ñất phèn ðặc biệt từ năm 1961 với cuộc cách mạng xanh việc ñưa giống mới và áp dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất ñã từng bước nâng cao năng suất cũng như sản lượng của nước ta ngày càng tăng nhanh [10]
ðể ñẩy mạnh phát triển diện tích trồng lúa cần phải có nhiều giống lúa
có năng suất, chất lượng cao Các giống lúa lai ñã góp một phần ñáng kể vào việc nâng cao năng suất và tổng sản lượng cây trồng
Trên ñồng ruộng cây lúa chịu ảnh hưởng tổng hợp của các ñiều kiện khác nhau Sự sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tô khách quan và chủ quan như ñiều kiện thời tiết, khí hậu, ñất ñai, giống, phân bón, chế ñộ nước và kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh,… trong ñó chế ñộ dinh dưỡng hợp lý là yếu tố quan trọng ñể tăng năng suất lúa
Trang 222.3 Một số kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng cho cây lúa
Ở Việt Nam, diện tích ñất canh tác bình quân ñầu người trong vòng 65 năm qua ñã giảm từ 2.548 m2 xuống còn 732 m2/người, tương ñương với mức ñộ giảm 1,1%/năm [28] Như vậy trong nông nghiệp hiện nay, sản lượng cây trồng
sẽ ñược quyết ñịnh chủ yếu bằng yếu tố năng suất thông qua thâm canh và áp dụng các kỹ thuật mới trong công tác chọn tạo giống, bảo vệ thực vật và chế biến, bảo quản sau thu hoạch, trong ñó vai trò của phân bón là cực kỳ quan trọng ðiều này cũng phù hợp với kinh nghiệm lâu ñời của ông cha ta là “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” Phân bón góp phần làm tăng năng suất cây trồng thông qua nhiều cơ chế tác ñộng khác nhau, song quan trọng hơn cả là phân bón cung cấp cho cây trồngnhững dinh dưỡng cần thiết mà ñất không ñủ khả năng cung cấp, duy trì ñộ phì nhiêu trong quá trình canh tác Ngoài ra, cùng với năng suất kinh tế, phân bón làm tăng lượng sinh khối cây do ñó tăng nguồn hữu cơ trả lại cho ñất, góp phần ổn ñịnh ñộ phì của ñất
Theo kết quả tổng kết của Mai Văn Quyền trên 60 thí nhiệm khác nhau, thực tiễn ở 40 nước có khí hậu khác nhau cho thấy : Nếu ñạt năng suất lúa 3 tấn thóc/ha, thì lúa lấy ñi hết 50kg ñạm, 260kg lân, 80kg kali, 10kg CaO, 6kg
Mg, 5kg S và nếu ruộng lúa ñạt năng suất ñến 6 tấn/ha thì lượng dinh dưỡng cây lúa lây ñi là 100kg ñạm, 50kg lân, 160kg kali, 19kg CaO, 12kg Mg, 10kg
S Lấy trung bình, cứ tạo 1 tấn thóc cây lúa lấy ñi hết 17kg ñạm, 8kg lân, 27kg kali, 3kg CaO, 2kg Mg và 1,7kg S [26]
* Phân ñạm (N) ñối cới cây lúa
Theo Yoshida (1980), ñạm là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất ñối với cây lúa trong các giai ñoạn sinh trưởng và phát triển
Trang 23Theo kết quả nghiên cứu của Mitsui (1973) về ảnh hưởng của ựạm ựến hoạt ựộng sinh lý của lúa như sau:
Sau khi tăng lượng ựạm thì cường ựộ quang hợp, cường ựộ hô hấp và hàm lượng diệp lục của cây lúa tăng lên, nhịp ựộ quang hợp, hô hấp không khác nhau nhiều nhưng cường ựộ quang hợp tăng mạnh hơn cường ựộ hô hấp gấp 10 lần cho nên vai trò của ựạm làm tăng tắch luỹ chất khô - dẫn theo Nguyễn Thị Lẫm, 1994 [21]
Viện Nông hoá thổ nhưỡng ựã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của ựất, mùa vụ và liều lượng phân ựạm bón vào ựến tỷ lệ ựạm do cây lúa hút [29] Không phải do bón nhiều ựạm thì tỷ lệ ựạm của lúa sử dụng nhiều Ở mức phân ựạm 80 kgN/ha, tỷ lệ sử dụng ựạm là 46,6%, so với mức ựạm này có phối hợp với phân chuồng tỷ lệ ựạm hút ựược là 47,4% Nếu tiếp tục tăng liều lượng ựạm ựến 160N và 240N có bón phân chuồng thì tỷ lệ ựạm mà cây lúa sử dụng cũng giảm xuống Trên ựất bạc màu, so với ựất phù sa sông Hồng thì hiệu suất sử dụng ựạm của cây lúa thấp hơn Khi bón liều lượng ựạm từ 40N - 120N thì hiệu suất sử dụng phân giảm xuống, tuy lượng ựạm tuyệt ựối do lúa sử dụng có tăng lên [29]
Kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón ựạm trên ựất phù sa sông Hồng của Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam ựã tổng kết các thắ nghiệm 4 mức ựạm từ năm 1992 ựến năm 1994, kết quả cho thấy : Phản ứng của phân ựạm ựối với cây lúa phụ thuộc vào thời vụ, loại ựất và giống lúa [29]
Viện nghiên cứu lúa ựồng bằng sông Cửu Long ựã có nhiều thắ nghiệm
về ảnh hưởng của liều lượng ựạm khác nhau ựến năng suất lúa vụ đông Xuân
và Hè Thu trên ựất phù sa ựồng bằng sông Cửu Long Kết quả nghiên cứu trung bình nhiều năm, từ năm 1985 - 1994 của Viện lúa ựồng bằng sông Cửu Long, kết quả này ựã chứng minh rằng : Trên ựất phù sa ựược bồi hàng năm
Trang 24có bón 60P2O5 và 30 K2O làm nền thì khi bón ựạm ựã làm tăng năng suất lúa
từ 15 - 48,5% trong vụ đông Xuân và Hè Thu tăng từ 8,5 - 35,6% Hướng chung của hai vụ ựều bón ựến mức 90N có hiệu quả cao hơn cả, bón trên mức 90N này năng suất lúa tăng không ựáng kể [29] Theo Nguyễn Thị Lẫm (1994) [21], khi nghiên cứu về bón phân ựạm cho lúa cạn ựã kết luận : Liều lượng ựạm bón thắch hợp cho các giống có nguồn gốc ựịa phương là 60N/ha đối với những giống thâm canh cao như (CK136) thì lượng ựạm thắch hợp từ
90 - 120N/ha
Theo Nguyễn Như Hà (1999), khi nghiên cứu ảnh hưởng của mật ựộ cấy và ảnh hưởng của liều lượng ựạm tới sinh trưởng của giống lúa ngắn ngày thâm canh cho thấy : Tăng liều lượng ựạm bón ở mật ựộ cấy dày có tác dụng tăng tỷ lệ nhánh hữu hiệu [13]
Phân ựạm ựối cới lúa lai là rất quan trọng Lúa lai có bộ rễ khá phát triển, khả năng huy ựộng từ ựất rất lớn nên ngay trường hợp không bón phân năng suất lúa lai vẫn cao hơn lúa thuần Các nhà nghiên cứu Trung Quốc ựã kết luận : cùng một mức năng suất, lúa lai hấp thu lượng ựạm và lân thấp hơn lúa thuần, ở mức năng suất 75 tạ/ha lúa lai hấp thu ựạm thấp hơn lúa thuần 4,8%, hấp thu lân thấp hơn 18,2% nhưng hấp thu kali cao hơn 30% Với ruộng lúa cao sản thì lúa lai hấp thu ựạm cao hơn lúa thuần 10%, hấp thu kali cao hơn 45%, còn hấp thu lân thì bằng lúa thuần [18]
Kết quả thắ nghiệm trong chậu cho thấy : Trên ựất phù sa sông Hồng bón ựạm ựơn ựộc làm tăng năng suất lúa lai 48,7% trong khi ựó năng suất giống lúa CR203 chỉ tăng 23,1% Với thắ nghiệm ựồng ruộng, bón ựạm, lân cho lúa lai có kết quả rõ rệt [18] Nhiều thắ nghiệm trong phòng cũng như ngoài ựồng ruộng cho thấy hiệu quả của ựạm, 1kgN bón cho lúa lai làm tăng năng suất 9 - 18kg thóc, so với lúa thuần thì tăng 2 - 13kg thóc Như
Trang 25vậy, trên các loại ựất có vấn ựề như ựất bạc màu, ựất gley khi các yếu tố khác chưa ựược khắc phục về ựộ chua, lân và kali thì vai trò của phân ựạm không phát huy ựược, do bón ựạm, lân nên năng suất lúa lai tăng có 17,7% trên ựất bạc màu và 11,5% trên ựất gley
Với ựất phù sa sông Hồng, bón ựạm với mức 180kg/ha trong vụ Xuân
và 150kgN/ha trong vụ Mùa cho lúa lai vẫn không làm giảm năng suất lúa Tuy nhiên, ở mức ựạm bón 120kgN/ha làm cho hiệu quả cao hơn các mức khác [26] Thời kỳ bón ựạm là thời kỳ rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực của phân ựể làm tăng năng suất lúa Với phương pháp bón ựạm (bón tập trung vào giai ựoạn ựầu và bón nhẹ vào giai ựoạn cuối) của Việt Nam vẫn cho năng suất lúa cao, năng suất lúa tăng thêm từ 3,5 tạ/ha [18], [20], [32]
Kết quả nghiên cứu thời kỳ bón ựạm cho thấy rất rõ hiệu quả của phân ựạm trên ựất phù sa sông Hồng ựạt cao nhất ở thời kỳ bón lót từ 50 - 75% tổng lượng ựạm, lượng ựạm bón nuôi ựòng chỉ từ 12,5 - 25%
* Phân lân (P 2 O 5 ) ựối với cây lúa
Năm 1996, theo Mai Thành Phụng và một số tác giả cho rằng trên ựất phèn nặng, muốn trồng lúa có hiệu quả cần phải liên tục cải tạo: Sử dụng nước ngọt tưới ựể rửa phèn, bón phân lân liều lượng cao trong những năm ựầu
ựể tắch luỹ lân Trên ựất phù sa sông Cửu Long ựược bồi hàng năm, bón lân vẫn có hiệu quả rất rõ Vụ đông xuân, bón 20 Kg P2O5/ha ựã tăng năng suất ựược 20% so với công thức không bón lân Tuy nhiên, bón thêm với liều lượng cao hơn, năng suất lúa có tăng nhưng không rõ cho nên ruộng thâm canh thường ựược bón phối hợp từ 20 - 30 kg P2O5 là ựủ Trong vụ Hè thu, cây lúa có nhu cầu lượng lân cao và hiệu quả xuất hiện rõ hơn vụ Xuân, bón
20 kg P2O5 thì ựã bội thu ựược 43,7%, tiếp tục bón tăng lượng lân năng suất lúa có tăng nhưng không rõ [38]
Trang 26Năm 1994, kết quả thí nghiệm bón lân cho lúa của trường ðại học Nông nghiệp II tại xã Thuỷ Dương - Huyện Hương Thuỷ (Thừa Thiên - Huế) cho thấy: Trong vụ Xuân bón lân cho lúa từ 30 - 120 kg P2O5/ha ñều làm tăng năng suất lúa từ 10 - 17% Với liều lượng bón 90 kg P2O5 là ñạt năng suất cao nhất và nếu bón hơn liều lượng 90 kg P2O5/ha thí năng suất có xu hướng giảm Trong vụ Hè thu, với giống lúa VM,1, bón supe lân hay lân nung chảy ñều làm tăng năng suất rất rõ rệt [4]
Tất cả các thí nghiệm trong chậu và ngoài ñồng ñều cho thấy hiệu suất sử dụng lân ở lúa lai là 10 - 12 kg thóc/kg P2O5 so với lúa thuần là 6 - 8 kg thóc/ kg P2O5 [18]
* Phân kali (K 2 O) ñối với cây lúa
Năm 1996, Mai Văn Quyền cho biết: Trên vùng ñất xám ở ðức Hoà - Long An, Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam năm 1993 ñã thí nghiệm với 2 giống lúa KSB 218 - 9 - 3 và giống 2B cho thấy ở các công thức bón từ mức 30 ñến 120 kg K2O/ha ñều làm cho năng suất lúa cao hơn ñối chứng từ 15,8 - 32,4% với giống KSB - 218 và từ 6 - 18,7% ñối với giống 2B
Dinh dưỡng kali là một trong 3 yếu tố dinh dưỡng quan trọng ñối với cây lúa, trước tiên là cây lúa hút kali, sau ñó hút ñạm ðể thu ñược 1 tấn thóc, cây lúa lấy ñi 22 - 26 kg K2O nguyên chất, tương ñương với 36,74 - 43,4 kg KCl (60% K), kali là nguyên tố ñiều khiển chất lượng tham gia vào các quá trình hình thành các hợp chất và vật chất, kali còn có tác dụng làm tăng tỷ lệ ñường, giúp vận chuyển chất dinh dưỡng nhanh chóng về hoa và tạo hạt
Kết quả thí nghiệm của IRRI tiến hành tại 3 ñiểm khác nhau trong 5 năm (1968 - 1972) cho thấy: Kali có ảnh hưởng rất rõ tới năng suất lúa ở cả 2
vụ trong năm Trong ñiều kiện mùa khô với mức 140N, 60P2O5 và bón 60kg
K2O/ha thì năng suất lúa ñạt 6,78 tấn/ha, cho bội thu năng suất do bón kali là
Trang 2712,8 kg thóc/kg K2O Trong mùa mưa với mức 70N, 610P2O5; bón 60 kg
K2O/ha thì năng suất lúa ñạt 4,96 tấn/ha cho bội thu năng suất do bón kali trung bình năm vụ ñạt 440 kg thóc, với hiệu suất phân bón là 6,1 kg thóc/ kg K2O
Trên ñất phù sa sông Hồng, trong thâm canh lúa ngắn ngày, ñể ñạt ñược năng suất lúa hơn 5 tấn/ ha ở vụ Mùa và trên 6 tấn/ha ở vụ Xuân, nhất thiết phải bón kali ðể ñạt năng suất lúa Xuân 7 tấn/ha thì cần bón 102 - 135
kg K2O/ha/vụ (với mức 193 kg N/ha, 120 kg P2O5/ha) và năng suất lúa vụ mùa ñạt 6 tấn cần bón 88 - 107 kg K2O/ha/vụ (với mức 160kg N/ha/vụ, 88kg
P2O5/ha/vụ) Hiệu suất phân kali có thể ñạt 6,2 - 7,2 kg thúc/ kg K2O [3], [13]
Vai trò cân ñối ñạm và kali càng lớn khi lượng ñạm sử dụng càng cao Nếu không bón kali thì hệ số sử dụng ñạm chỉ ñạt 15 - 30% trong khi bón kali thì
hệ số này tăng lên ñến 39 - 49% Như vậy, năng suất tăng không hẳn là do kali (bởi vì bón kali riêng không tăng năng suất) mà là kali ñiều chỉnh dinh dưỡng ñạm, làm cho cây sử dụng ñược nhiều ñạm và các dinh dưỡng khác nhiều hơn
Trong vụ Xuân ở miền Bắc, nhiệt ñộ thấp, thời tiết âm u nên hiệu lực
sử dụng phân kali cao hơn, cho nên cần bón kali nhiều ở vụ này [6]
Dinh dưỡng kali ñối với giống lúa lai Lúa lai sử dụng kali cao hơn ñạm, hút kali mạnh vào giai ñoạn lúa làm ñòng ñến giai ñoạn lúa trỗ hoàn toàn [6] Thời gian lúa hút kali kéo dài hơn lúa hút ñạm và lân, lúa hút kali ñến cuối thời kỳ sinh trưởng [3] Nhu cầu kali của cây lúa rõ nhất ở 2 thời kỳ: thời kỳ ñẻ nhánh và làm ñòng Nếu thời kỳ ñẻ nhánh thiếu kali thì ảnh hưởng ñến năng suất lúa Tuy nhiên, lúa hút kali nhiều nhất ở thời kỳ làm ñòng, từ cuối giai ñoạn ñẻ nhánh ñến trỗ lúa lai hấp thu kali nhiều hơn lúa thuần Sau khi trỗ bông, lúa thuần giảm dần hút kali trong khi lúa lai vẫn hấp thu kali mạnh
Kali ñược sử dụng, trong nguyên sinh chất tế bào như một tác nhân
Trang 28kích thích các hoạt ñộng chuyển hoá vật chất vô cơ thành hữu cơ ñồng thời thúc ñẩy quá trình vận chuyển sản phẩm quang hợp vận chuyển lên lá, vào hoa và hạt Sự có mặt của kali thời kỳ sau trỗ của lúa lai là một ưu thế thúc ñẩy quá trình mẩy của hạt giúp nâng cao năng suất Lúa lai có khả năng ñồng hoá dinh dưỡng cao nhất là ñạm với kali Lượng ñạm hút thường trên 20 - 22
kg N/tấn thóc và lượng hút kali cũng tương tự Trong vụ Xuân ñể ñạt năng suất cao thì cần phải bón sớm Bón kali là yêu cầu bắt buộc với lúa lai ngay cả trên ñất giàu kali [5]
Trong những năm gần ñây, nông lâm nghiệp Việt Nam ñã có những bước phát triển vượt bậc Tốc ñộ tăng trưởng bình quân hàng năm 4,3%; sản xuất lương thực tăng 5,8%, năng suất lúa tăng 52% Từ một nước nông nghiệp thường xuyên phải nhập khẩu lương thực, ñến năm 2000 Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới [28], trong ñó phân bón có nhiều ñóng góp tích cực Cho ñến nay Việt Nam mới chỉ sản xuất ñáp ứng khoảng 20% nhu cầu về ñạm và 80% nhu cầu về lân Số phân bón thiếu hụt hàng năm Nhà nước phải bỏ ra hàng nửa tỷ USD ñể nhập khẩu
Do sự thiếu cân ñối trong việc bón các yếu tố dinh dưỡng cũng như các yếu tố ngoại cảnh khác nên hiệu quả sử dụng phân bón hoá học không cao, gây lãng phí và ảnh hưởng xấu ñến môi trường Số liệu thống kê cho thấy, lượng sử dụng phân khoáng ở Việt Nam chưa cao so với một số nước trên thế giới, song do bón phân khoáng không cân ñối, thiếu hợp lý và không ñòng bộ nên hiệu quả sử dụng phân bón thấp Ở Việt Nam, hiệu quả sử dụng phân bón ñạt 35 - 45% ñối với ñạm và 50 - 60% ñối với lân và kali ðiều ñó làm gia tăng sự mất cân ñối về dinh dưỡng ñối với cây trồng, trong khi lượng hút các chất dinh dưỡng cùng với sản phẩm thu hoạch vượt quá lượng dinh dưỡng bón vào Kết quả là nguồn dự trữ dinh dưỡng chứa trong ñất ngày càng cạn kiệt Việc tăng
Trang 29lượng phân ñạm bón lên gấp ñôi từ năm 1985 - 1992 ñã dẫn ñến mất cân ñối hàng năm khoảng 5000.000 tấn K2O mà cây trồng bắt buộc lấy
ñi từ ñất Thêm vào ñó khoảng 200.000 tấn K2O hoàn toàn bị lấy ñi khỏi ñất Việt Nam theo các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu Sự thiếu hụt lân cũng ở mức trầm trọng khoảng 20.000 tấn [28]
Bón phân không cân ñối dẫn ñến tình trạng vừa thừa vừa thiếu dinh dưỡng ñồng thời gây nên hiện tượng chai cứng, giảm ñộ phì, thay ñổi tính chất vật lý , hoá học và sinh học của ñất trồng Việt Nam thuộc vùng nhiệt ñới nóng ẩm, mưa nhiều, hiện tượng xói mòn, rửa trôi do thời tiết là ñiều không thể tránh khỏi Nếu không có biện pháp canh tác, bón phân và sử dụng phân bón hợp lý chỉ qua một vụ mưa lượng mùn bị rửa trôi bằng cả thời gian chục năm hình thành và tích tụ Do không cân ñối dinh dưỡng ñất nên hiện tượng suy kiệt dinh dưỡng ñất ñã và ñang xảy ra ngày càng trầm trọng
Ngoài ra, phân bón hoá học có chứa nhiều kim loại nặng ñặc biệt là cadmium (Cd) khi ñược bón vào ñất, cây trồng sẽ sử dụng và gây nên nguy cơ tích luỹ kim loại nặng trong nông sản
Thực tế sản xuất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam ñã khẳng ñịnh, phân bón trong giai ñoạn vừa qua ñã có nhiều ñóng góp tích cực Số lượng, chất lượng và chủng loại phân bón ngày một tăng cao, góp phần quan trọng trong việc bảo ñảm an ninh lương thực Song mặt khác, việc sử dụng gia tăng phân bón hoá học trong sự mất cân ñối nghiêm trọng giữa các yếu tố dinh dưỡng ñã gây ra nhiêu ảnh hưởng xấu ñến hiệu quả sản xuất và môi trường sinh thái ðể phát triển nông nghiệp bền vững, cần phải có chiến lược an toàn dinh dưỡng cho ñất và cây trồng: ñó là bảo ñảm cung cấp ñủ liều lượng càn thiết các chất dinh dưỡng thiết yếu ñúng lúc cây cần, theo tỷ lệ cân ñối giữa các chất trong phân bón phù hợp với yêu cầu từng loại cây trên các vùng ñất trồng dưới các ñiều kiện thời tiết, khí hậu khác nhau An toàn dinh dưỡng cho
Trang 30cây và ñất trồng cũng có nghĩa bảo ñảm và phát triển hệ sinh thái ñất ðất tồng không chỉ là tập hợp các nguyên tố hoá học mà còn là một thế giới sống - nơi trú ngụ và sinh sống của hàng triệu triệu sinh vật, nơi từng giờ, từng phút diễn ra hàng loạt các phản ứng lý, hoá và sinh học Thông qua các phản ứng
lý, hoá, sinh học và các hoạt ñộng của sinh vật sống, ñất trồng mới có ñiều kiện ñể hồi phục và cân bằng thông qua các quy luật của tự nhiên Nếu phá vỡ các quy luật này ñất sẽ bị huỷ hoại và không phát huy ñược vai trò của nó Bảo ñảm an toàn dinh dưỡng cho cây và ñất trồng không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế
mà còn góp phần bảo vệ môi sinh, môi trường thông qua việc tạo thế cân bằng trong tự nhiên, giảm bớt hoá chất ñộc sử dụng trong phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng Chiến lược an toàn dinh dưỡng cho cây và ñất trồng là sử dụng cân ñối lượng phân bón cho cây trồng phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng và ñiều kiện ñất ñai, khí hậu
Một trong những tiến bộ khoa học thường xuyên, liên tục ñược áp dụng vào sản xuất nông nghiệp ñó chính là việc sử dụng các loại phân bón thế hệ mới ñược nhập khẩu từ các nước có ngành nông nghiệp phát triển như: Mỹ, Canada, Pháp, ðức…vv
Các quan niệm về dinh dưỡng cây trồng ñã có những thay ñổi ñáng kể trong những năm gần ñây Trước kia và cả hiện nay vẫn còn ñang phổ biến cách hiểu dinh dưỡng cây trồng là các khoáng chất ñược cấp bằng các loại phân bón có chứa N, P, K Các kinh nghiệm canh tác cũng tập trung vào các chương trình bón các phân bón vô cơ này, trong ñó phân ñạm ñược sử dụng tăng lên nhiều ñáng kể
Ngày nay, quan niệm về dinh dưỡng cây trồng ñang thay ñổi Những người trong nông nghiệp ñã thấy rằng cần phải ñánh giá lại các quan niệm
Trang 31trước kia về việc sử dụng phân bón vô cơ, về vai trò của từng loại phân bón với sự phát triển của cây trồng, thấy rõ hơn cây trồng cần nhiều chất dinh dưỡng hơn, ví dụ như các vi lượng, các trung lượng, các dinh dưỡng hữu cơ như các axít amin, các vitamin và cần một chương trình phân bón cân ñối Các chất dinh dưỡng này làm tăng năng suất, chất lượng nông sản và tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, sự thay ñổi bất thường của thời tiết
Chúng ta thường ñược biết cây lấy nước và chất dinh dưỡng từ ñất qua
rễ, nhưng ít ai chý ý rằng rễ chỉ chiếm rất nhỏ phần trong ñất (chỉ 1 - 2%), nhưng lại biết rất rõ là ñạm, lân, kali bị mất ñi rất nhiều vào môi trường, cây trồng chỉ sử dụng ñược dưới 50% lượng phân bón sử dụng ðể tăng suất, sử dụng nhiều phân bón là giải pháp hàng ñầu, dẫn ñến phân bón ngày càng phải dùng nhiều và hiệu quả sử dụng cũng ngày càng ít ñi
Trong quá trình trồng cây, rất nhiều kinh nghiệm ñã ñược ñúc kết qua
sử dụng phân bón N, P, K ñể có kết quả tốt nhất, những chỉ dẫn quen thuộc là tính trực tiếp lượng phân bón theo năng suất cây trồng Nhưng chúng ta cũng thấy rằng từ mấy chục năm nay, về cơ bản vẫn sử dụng các loại phân bón cũ, năng suất ñến chất lượng nông sản phụ thuộc chủ yếu vào kinh nghiệm và sự may rủi Việc áp dụng phân bón mới và phương thức bón phân bón mới tạo ra
sự chủ ñộng cao trong việc nâng cao năng suất và chất lượng nông sản Phương pháp canh tác mới ñược áp dụng phổ biến ở các nước nông nghiệp phát triển là cung cấp chất dinh dưỡng cho cây qua lá Việc cung cấp chính xác lượng dinh dưỡng theo từng giai ñoạn phát triển của cây sẽ làm giảm ñáng kể phân bón phải sử dụng
Trang 322.4 Dinh dưỡng qua lá của cây trồng
2.4.1 Dinh dưỡng qua lá
Bên cạnh quá trình hút chất dinh dưỡng từ rễ là chính và chủ yếu, cây vẫn có thể lấy một phần chất dinh dưỡng từ lá thông qua khí khổng và tầng cutin Chất dinh dưỡng ñi vào lá nhiều hay ít phụ thuộc vào tốc ñộ xâm nhập, tốc ñộ khô của dung dịch trên mặt lá, khả năng tan của các muối khoáng trên mặt lá, và mức ñộ hoạt ñộng của khí khổng…
Do vậy, trong sản xuất người ta áp dụng phổ biến phương pháp dinh dưỡng qua lá Phương pháp này có lợi là tiết kiệm ñược lượng phân bón, thời gian, nguyên liệu, sức lao ñộng
Ngày nay, nhờ những tiến bộ kỹ thuật về hoá học, sinh học, các dạng phân bón lá ñược cải tiến sử dụng có hiệu quả Phân bón lá ñược sử dụng như một phương tiện cung cấp dinh dưỡng vi lượng, ña lượng, hoocmon kích thích sự sinh trưởng, phát triển của cây Những ảnh hưởng quan sát ñược của việc bón phân qua lá là tăng năng suất cây trồng, tăng khả năng chịu sâu bệnh của cây
Bón phân qua lá là cách ñưa dinh dưỡng trực tiếp vào cây nhằm bổ sung,
hỗ trợ thêm cho cây các chất dinh dưỡng cần thiết, là một sự kích thích "mềm dẻo" trong một số giai ñoạn khủng hoảng dinh dưỡng cho cây như: Phân nhánh, ra hoa, kết trái trong những ñiều kiện bất thuận như ngập úng, hạn hán, mặn, phèn… Cây tiếp nhận dinh dưỡng qua lá với diện tích bằng 15 - 20 lần diện tích tán cây che phủ
2.4.2 Tình hình sử dụng phân bón lá trên thế giới và trong nước
Phân bón lá trên thị trường trong nước và thế giới rất phong phú, thường sản xuất dưới dạng các chế phẩm bón qua lá, có thể chia thành 3 nhóm:
Trang 33- Nhóm chỉ có các yếu tố dinh dưỡng ựa lượng và vi lượng phối hợp hoặc riêng rẽ
- Nhóm có thêm các chất kắch thắch sinh trưởng nhằm thúc ựẩy sinh trưởng hoặc thúc ựẩy ra hoa kết trái, giảm tỷ lệ rụng quả, thúc ựẩy quá trình chắn hoặc làm mau ra rễ
- Nhóm có các loại thuốc hoá học phòng trừ sâu bệnh hoặc phối trộn với tỷ lệ thắch hợp
* Trên thế giới
Việc phát hiện ra các chất kắch sinh trưởng như Auxin (1880- Darwin,
1928 - Went, 1934 - Kogl), Gibberellin (1926 - Kurosawa, 1938 -Yabuta),
Xytokinin (1955 - Miller, Skoog), các chất ức chế sinh trưởng như axit abxixic (1961 - Liu, Cam, 1963 - Ohkuma, Eddicott), Ethylen, các hợp chất phenolẦ và sử dụng các chất này làm phương tiện hoá học ựể ựiều chỉnh quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng, ựược coi như bước tiến ựầu tiên sử dụng chế phẩm bón qua lá cho cây trồng (dẫn theo Cao Kỳ Sơn, Nguyễn Văn
Bộ, Bùi đình Dinh, 1998) [27]
Trong những năm gần ựây nhiều nước trên thế giới như: Mỹ, Nhật, Anh, đức, Thái Lan, Trung Quốc,Ầ ựã sản xuất và sử dụng nhiều chế phẩm phân bón qua lá có tác dụng làm tăng năng suất, phẩm chất nông sản, nhưng không làm ô nhiễm môi trường: YoGen, AtonikẦ(Nhật Bản), Organic, Cheer (Thái Lan), Bloom Plus, Solu Spray, Spray - N - GrowẦ(Hoa Kỳ), đặc ựa thu, đặc phong thu, Diệp lục tốẦ(Trung Quốc)
Nhiều chế phẩm ựã ựược khảo nghiệm và cho phép sử dụng trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
* Ở Việt Nam
để ựạt năng suất cao, chất lượng tốt ựối với cây trồng ngoài việc cung cấp ựầy ựủ các nguyên tố dinh dưỡng ra còn phải cung cấp kịp thời và cân ựối các nguyên tố dinh dưỡng Cây trồng ngoài có khả năng hút dinh dưỡng từ rễ
Trang 34còn có khả năng hút dinh dưỡng thông qua lá Cung cấp dinh dưỡng qua lá ngoài tác dụng cung cấp kịp thời các nguyên tố dinh dưỡng cho cây khi thiếu,
nó còn mang tắnh ưu việt như tăng hiệu quả kinh tế, tác dụng nhanh, không gây ô nhiễm môi trường ựất, nước và không khắ
Tác giả đường Hồng Dật (2002) [8] cho thấy bón qua lá phân phát huy hiệu lực nhanh, tỷ lệ cây sử dụng chất dinh dưỡng thường ựạt ở mức cao 90 - 95%, trong khi bón qua ựất cây chỉ sử dụng 40 - 50%
Các tác giả Cao Kỳ Sơn, Nguyễn Văn Bộ, Bùi đình Dinh (1998) cho biết: chế phẩm bón qua lá ựã làm tăng chất lượng nông sản, giảm hàm lượng
NO3 trong dưa chuột 28 - 35%, trong bắp cải 25 - 70%, trong cải xanh 20 - 35% Phun phân bón lá TP-108 cho cà chua làm tăng tỷ lệ tinh bột lên 29%, tăng hàm lượng muối khoáng lên 17,6%, vitamin C lên 11,1%, hàm lượng ựường lên 23% Phun HVP cho trái thanh long làm thời gian lưu giữ kéo dài thêm 10 - 12 ngày so với ựối chứng Sử dụng chế phẩm bón lá HVP 401-N làm tăng ựộ Bric của trái quýt Tiêu 3,7% [27]
đối tượng với hoa cây cảnh, kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón lá trên các ựối tượng này còn chưa nhiều Tuy nhiên, khi khảo nghiệm phân bón lá Agriconik trên cây hoa hồng và hoa thược dược ở Hà nội cho kết quả: Số lượng và ựường kắnh hoa ựều tăng so với ựối chứng phun nước sạch, còn phun phân bón lá Komix-Fl cho hoa cây cảnh làm tăng số hoa, ựường kắnh hoa, giữ cho hoa lâu tàn [30]
Xử lý phân bón lá SNG, Atonik cho cây hoa cúc ựã tác ựộng mạnh ựến giai ựoạn sinh trưởng sinh thực của cây, làm tăng tỷ lệ hoa hữu hiệu (11% so với ựối chứng không phun), tăng năng suất, chất lượng, kéo dài tuổi thọ của hoa, còn xử lý SNG và BPF, nồng ựộ 10ml/l cho cây hoa cúc lúc bắt ựầu ra
nụ, ựã làm ựường kắnh hoa tăng lên ựáng kể, màu sắc hoa tươi hơn, thân lá xanh ựậm, cuống hoa to hơn,Ầ [31]
Trang 35Theo Nguyễn Thị Kim Lý (2001) [22], xử lý phân bón lá "Thiên Nông", GA3"Thiên Nông", KPTHT "Thiên Nông" cho cây hoa cúc CN97 trong 2 vụ ựông xuân 1999 và 2000 (tại Hà Nội), trong ựó phân bón lá GA3phun liên tục 7 ngày/lần, từ sau trồng 15 ngày ựến khi cây chớm phân hoá mầm hoa, KPTHT xử lý khi cây bắt ựầu phân hoá mầm hoa cho ựến khi nứt cánh Các loại chế phẩm trên ựều ảnh hưởng tốt ựến sinh trưởng, phát triển của cây, cho hiệu quả kinh tế gấp 12,3 lần so với ựối chứng Tác giả kết luận:
GA3 tác dụng mạnh ở giai ựoạn cây sinh trưởng sinh dưỡng, KPTHT có hiệu quả cao ở giai ựoạn sinh trưởng sinh thực, phân bón lá tác dụng ựiều hoà cả 2 quá trình này
Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá phức hữu cơ Pomior trên các cây hoa cúc, ựồng tiền và hoa hồng, Hoàng Ngọc Thuận (2005)[37], cho thấy:
- Khi sử dụng phân bón lá Pomior 0,3% cho cây hoa cúc trong vườn ươm nhân giống bằng nuôi cấy mô tế bào, tỷ lệ sống khi ra ngôi con trong ống nghiệm tăng 35% so với ựối chứng phun nước sạch, cây con mập, sau 10 ngày ra ngôi, tốc ựộ tăng trưởng chiều cao tăng nhanh gấp 1,45 lần
- Thắ nghiệm sử dụng phân bón lá Pomior 0,4% cho cây cúc vàng hè đà Lạt, kết qủa năng suất, chất lượng, ựộ bền hoa cắt, khả năng chống chịu sâu bệnh ựều cao hơn ựối chứng đặc biệt, có thể sử dụng phân bón lá Pomior ựể bón thúc cho cây hoa cúc mà không phải bón thêm các loại phân khoáng nào khác
- Trên cây cúc ựồng tiền kép, thắ nghiệm bón thúc bằng phân bón lá Pomior các nồng ựộ: 0,2%, 0,3%, 0,4% và 0,5% ựều cho khả năng sinh trưởng và năng suất cao hơn, tuy nhiên ở nồng ựộ Pomior 0,4% cho hiệu quả cao nhất, ựường kắnh hoa tăng 1,14 lần, năng suất hoa tăng 1,22 lần, số hoa loại I tăng 1,44 lần so với ựối chứng
- Trên cây hoa hồng đỏ nhung (Pháp) khi phun phân bón lá Pomior 0,3% cho cây 5 ngày/lần kết quả, năng suất, chất lượng hoa ựều cao hơn, hiệu
Trang 36quả kinh tế tăng 1,27 lần so với ñối chứng bón thúc bằng phân khoáng qua rễ (cùng nền bón lót) Các thí nghiệm trên cây hoa hồng ðỏ san (Hà Lan) và các cây trồng khác: lúa, rau, cây ăn quả… ñều cho kết quả tương tự
Theo Trịnh An Vĩnh (1995) [39], nếu xét về khía cạnh lành mạnh môi trường thì phân bón lá, phân vi sinh và các phân tương tự khác ñược khuyến khích nghiên cứu và ñưa vào sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa lớn trong sự phát triển nông nghiệp bền vững, trong vấn ñề an toàn dinh dưỡng cây trồng
Rõ ràng phân bón lá không thể thay thế các loại phân bón qua rễ, nhưng vai trò của nó là không thể phủ nhận Vũ Cao Thái (1996) [29], cho rằng: Sử dụng phân bón qua lá là một giải pháp chiến lược của ngành nông nghiệp, khi
sử dụng hiệu quả phân bón qua lá thì sản lượng trung bình tăng 20 - 30% với cây lấy lá, 10 - 20% với cây ăn quả, 5 - 10% với cây lúa, 10 - 30% với cây công nghiệp ngắn ngày ðiều này hoàn toàn có cơ sở khoa học vì lá là cơ quan tổng hợp trực tiếp chất hữu cơ, cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng qua các quá trình sinh lý, sinh hoá và quang hợp, khi bón lá, khắc phục ñược các hạn chế của bón phân qua ñất bị rửa trôi, bốc hơi hoặc giữ chặt trong ñất ðây là cơ sở khoa học ñể ñưa các nguyên tố vi lượng quý hiếm vào các chế phẩm phân bón lá, giúp cây trồng trong những ñiều kiện hạn hán, lũ lụt, thời
kỳ khủng hoảng dinh dưỡng của cây… giúp cho cây nhanh chóng phục hồi
Trang 373 đối tượng, Nội dung và phương pháp NGHIÊN CứU
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiờn cứu
3.1.1 ðối tượng nghiờn cứu
+ Giống lỳa: ủề tài tiến hành trờn 4 giống lỳa nếp ủặc sản, ủõy là giống lỳa trồng lõu ủời tại huyện Tõn Sơn, tỉnh Phỳ Thọ Cỏc giống lỳa nếp ủều ủược ủỏnh giỏ là thơm, ngon và phự hợp với thị hiếu người tiờu thụ
- Giống nếp Vơi
- Giống nếp Quà ðen
- Giống nếp Quả Vải
- Giống nếp Gừng
Hỡnh 3.1 Giống lỳa nếp Vơi Hỡnh 3.2 Giống lỳa nếp Quà ðen
Hỡnh 3.3 Giống lỳa nếp Gừng Hỡnh 3.4 Giống lỳa nếp Quả Vải
Trang 38* ðặc ñiểm giống nếp Vơi: sinh trưởng phát triển mạnh, có thời gian
sinh trưởng dài khoảng 5 tháng trong ñiều kiện vụ mùa Chiều cao cây lớn nhất trong các giống lúa nếp ñịa phương, khả năng chống ñổ kém, chống chịu sâu bệnh bình thường Khóm lúa xoè, phiến lá rộng, thế lá nằm ngang, bông lúa dài và to, hạt ñóng ñố xít; hạt lúa to tròn, vỏ trấu mầu vàng sáng, mỏ hạt
có râu dài Cơm thơm, dẻo; tiềm năng năng suất cao hơn hẳn các giống khác,
bình quân 41-44 tạ/ha
* ðặc ñiểm giống nếp Quà ðen: sinh trưởng phát triển mạnh, chống
chịu sâu bệnh trung bình, chiều cao cây trung bình, khả năng chống ñổ yếu, khóm lúa gọn, bông lúa to, hạt ñóng ñố xít, hạt lúa to tròn, vỏ trấu có có mầu ñen sọc vàng; cơm dẻo, thơm; thời gian sinh trưởng dài khoảng 5 tháng trong ñiều kiện vụ mùa tại ñịa phương Tiềm năng năng suất khá cao, bình quân khoảng 36-37 tạ/ha
* ðặc ñiểm giống nếp Gừng: sinh trưởng phát triển khá, chiều cao cây
thấp, khả năng chống ñổ kém, khóm lúa gọn, thời gian trỗ tập trung; bông lúa
to, hạt ñóng ñố xít, vỏ trấu màu vàng có sọc màu ñen; cơm thơm và dẻo; thời gian sinh trưởng khoảng 4 tháng trong ñiều kiện vụ mùa tại ñịa phương; tiềm năng năng suất bình quân khoảng 36-37 tạ/ha
* ðặc ñiểm giống nếp Quả Vải: Sinh trưởng phát triển khá tốt, khóm
gọn; cứng cây chống ñổ tốt, thời gian sinh trưởng khoảng 5 tháng trong ñiều kiện vụ mùa ñịa phương Nhiễm nhẹ sâu bệnh, bông lúa dài, hạt lúa to tròn,
vỏ trấu màu tím vàng, tiềm năng năng suất bình quân khoảng 36-37 tạ/ha
3.1.2.Vật liệu nghiên cứu
* Phân bón lá:
- ðầu trâu 502: Sản phẩm của công ty Bình ðiền, sản xuất theo tiêu
chuẩn: TC 01 - 2003/PBBð
Trang 39Trạng thái phân bón dạng bột
Thành phần dinh dưỡng: N: 30% ; P2O5: 12% ; K2O: 10% ; Mg: 0,05% ; Ca: 0,05%; Zn: 0,05%; Cu: 0,05%; B: 0,05%; Fe: 0,01%; Mn: 0,01%; Mo: 0,001%; Penac P: 0,002%; GA3: 100ppm; αNAA: 100ppm; βNOA: 100ppm
- K-H: Sản phẩm của công ty cổ phần sinh hóa Minh đức
Trạng thái phân bón dạng lỏng
Thành phần dinh dưỡng: N: 7,5% ; P2O5: 2% ; K2O: 0,3%
Zn: 900 ppm; Cu: 900 ppm; Bo: 900 ppm; S: 1.300 ppm; Mg: 400 ppm; Mo: 70 ppm; Mn: 1.200 ppm
- Atonik: Sản phẩm của công ty ADC
Trạng thái phân bón dạng lỏng
- Pomior p Ờ 298: Sản phẩm của dự án KC07.DA14/06 thuộc Chương
trình Khoa học công nghệ trọng ựiểm cấp Nhà nước giai ựoạn 2006 Ờ 2010
* địa ựiểm thực hiện: Tại xã Xuân đài huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ
* Thời gian nghiên cứu: Vụ mùa năm 2010
3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Néi dung nghiến cụu
- đánh giá ệẳc ệiÓm sinh tr−ẻng vộ nẽng suÊt, tÝnh chèng chỡu vộ hiỷu quờ kinh tạ cựa mét sè gièng lóa nạp ệẳc sờn tỰi ệỡa ph−ểng tại Tân Sơn, Phú Thọ
- Nghiến cụu ờnh h−ẻng cựa chạ phÈm phẹn bãn lị ệạn sinh tr−ẻng phịt triÓn, nẽng suÊt, tÝnh chèng chỡu vộ hiỷu quờ kinh tạ cựa gièng lóa nạp Vểi trến ệÊt Tẹn Sển, Phó Thả
3.2.2 Ph−ểng phịp nghiến cụu
ThÝ nghiỷm 1 : đánh giá ệẳc ệiÓm sinh tr−ẻng phát triển, nẽng suÊt và tÝnh chèng chỡu cựa mét sè gièng lóa nạp ệẳc sờn tỰi Tẹn Sển, Phó Thả
Trang 40ThÝ nghiÖm gåm 4 c«ng thøc ( mçi gièng 1 c«ng thøc), ®−îc bè trÝ theo kiÓu ngÉu nhiªn hoµn toµn, 3 lÇn nh¾c l¹i Mçi lÇn nh¾c l¹i 10 m2
- C«ng thøc 1(CT1): Gièng nÕp V¬i
- C«ng thøc 2(CT2): Gièng nÕp Quµ §en
- C«ng thøc 3(CT3): Gièng nÕp Qu¶ V¶i (ñ/c)
Bón thúc lần 2 (bón ñón ñòng): Bón toàn bộ số phân còn lại
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá ñến sinh trưởng phát triển, năng suất, tính chống chịu và hiệu quả kinh tế của giống lúa nếp Vơi trên ñất Tân Sơn, Phú Thọ
Thí nghiệm gồm 5 công thức, bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn, 3 lần nhắc lại Mỗi lần nhắc lại 10 m2
- Công thức 1(CT1): Nền + Phun nước lã (ðối chứng)