4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40 4.1 Ảnh hưởng của các mức bón ñạm ñến sự sinh trưởng và phát 4.1.1 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến thời gian sinh trưởng 4.2 Ảnh hưởng của các mức
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
-***** -
NGUYỄN VĂN GIANG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG PHÂN ðẠM, PHÂN BÓN
LÁ ðẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT
SỐ GIỐNG NGÔ NẾP LAI TRỒNG TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Mã số: 60.62.01 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ QUANG SÁNG
Hà Nội - 2011
Trang 2LỜI CAM đOAN
Tôi xin cam ựoan rằng:
đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi thực hiện trong vụ Thu Ờ
đông 2010 và vụ Xuân Ờ Hè 2011 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS
Vũ Quang Sáng
Số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng ựược sử dụng ựể bảo vệ bất kỳ một luận văn nào ở trong và ngoài nước
Mọi sự giúp ựỡ cho việc thực hiện luận văn này ựã ựược cảm ơn và các thông tin trắch dẫn trong luận văn ựều ựã ựược chỉ rõ nguồn gốc
Nguyễn Văn Giang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện ñề tài nghiên cứu và hoàn thành bản
luận văn này tôi luôn nhận ñược sự giúp ñỡ tận tình quý báu của Ban giám hiệu trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội, Viện ñào tạo sau ðại học, Khoa Nông học, Bộ môn Sinh lý thực vật
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn PGS.TS Vũ Quang Sáng, người ñã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, tạo mọi ñiều kiện giúp ñỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện ñề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo, Viện ñào tạo sau ðại học, Khoa Nông học, ñặc biệt là các thầy cô giáo trong bộ môn Sinh lý thực vật trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã tạo ñiều kiện thuận lợi giúp tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân, người bạn và ñồng nghiệp
ñã thường xuyên ủng hộ, ñộng viên tôi trong suốt quá trình công tác, học tập
và nghiên cứu ðặc biệt là lòng thương yêu vô hạn và sự ñộng viên kịp thời của gia ñình ñã giúp tôi có niềm tin, nghị lực vượt qua thử thách ñể hoàn thành nhiệm vụ học tập và hoàn thành luận văn này
Nguyễn Văn Giang
Trang 41.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài 3
2.1 Vai trò của cây ngô trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới
3.1 Vật liệu, ñịa ñiểm, thời gian nghiên cứu 30
Trang 54 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40 4.1 Ảnh hưởng của các mức bón ñạm ñến sự sinh trưởng và phát
4.1.1 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến thời gian sinh trưởng
4.2 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến các chỉ tiêu sinh
trưởng, phát triển và sinh lý của các giống ngô nếp 43 4.2.1 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến ñộng thái tăng trưởng
4.2.2 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến ñộng thái ra lá của các
4.2.3 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến diện tích lá (dm2
lá/cây) và chỉ số diện tích lá (LAI- m2lá/m2ñất) 47 4.2.4 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến số bắp hữu hiệu, chiều
cao ñóng bắp, vị trí ñóng bắp của các giống ngô nếp 53 4.3 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến khả năng quang hợp
4.4 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến năng suất và các yếu
tố cấu thành năng suất của các giống ngô nếp 58 4.4.1 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến các yếu tố cấu thành
4.4.2 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến năng suất của các
4.4.3 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến ñặc ñiểm hình thái bắp
Trang 64.5 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến khả năng chống chịu
4.6 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến hiệu quả kinh tế của
4.7 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến sự sinh trưởng
4.7.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến thời gian sinh
4.8 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến các chỉ tiêu sinh
trưởng, phát triển và sinh lý của các giống ngô nếp 72 4.8.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến ñộng thái tăng
trưởng chiều cao cây của các giống ngô nếp 72 4.8.2 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến ñộng thái ra lá
4.8.3 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến diện tích lá
(m2lá/cây) và chỉ số diện tích lá (LAI- m2lá/m2ñất) 74 4.8.4 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến số bắp hữu hiệu,
chiều cao ñóng bắp, vị trí ñóng bắp của các giống ngô nếp 76 4.9 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến khả năng quang
4.10 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến năng suất và các
yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô nếp 78 4.11 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến khả năng chống
4.12 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến hiệu quả kinh tế
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Từ viết ñầy ñủ
CIMMYT Trung tâm cải tạo Ngô và Lúa mỳ Quốc tế
CV% Hệ số biến ñộng - Coefficients of Variations
FAO Food and Agricutural Organization
(Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc) LAI Chỉ số diện tích lá
NSLT Năng suất lý thuyết
SPAD Chỉ số diệp lục tố của lá
TGST Thời gian sinh trưởng
TLBHH Tỷ lệ bắp hữu hiệu
Trang 9
DANH MỤC BẢNG
1.3 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới từ 1985 – 2005 11 2.4 Lượng chất dinh dưỡng cây ngô lấy từ ñất ñể ñược 10 tấn
4.9 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến các chỉ tiêu chất lượng và
4.10 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến khả năng chống chịu sâu
4.11 Hạch toán kinh tế ở các mức ñạm bón và các giống ngô 70
Trang 104.12 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến thời gian sinh trưởng
4.13 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến ñộng thái tăng
4.14 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến ñộng thái ra lá của
4.15a Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến diện tích lá của
4.15b Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến chỉ số diện tích lá
4.16 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến ñặc ñiểm hình thái
4.17 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến chỉ số diệp lục tố
4.18 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến các yếu tố cấu thành
4.19 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến năng suất của giống
4.20 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến ñặc ñiểm hình thái
4.21 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến khả năng chống chịu
4.22 Hiệu quả kinh tế của giống ngô nếp lai HN88 khi sử dụng phân
Trang 11Hình 6 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của giống HN88 khi
Trang 12Ngô nếp (Zea mays subsp.ceratina Kulesh) có nội nhũ chứa gần 100% là Amylopectin- là dạng tinh bột có cấu trúc mạch nhánh, trong khi ngô thường chỉ chưa 75% amylopectin và 25% là amyloza - dạng tinh bột không phân nhánh Ngô nếp giàu lyzin, triptophan và protein, khi nấu chín có ñộ dẻo, mùi
vị thơm ngon nên nhu cầu sử dụng ngô nếp làm lương thực cho con người là rất lớn, ñặc biệt là sử dụng luộc ăn tươi
Những năm gần ñây, diện tích trồng ngô nếp tăng rất nhanh do nhu cầu tiêu dùng tăng, ñồng thời ngô nếp ñáp ứng ñược nhu cầu luân canh tăng vụ, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất Giống nếp lai có
ñộ ñồng ñều rất cao, năng suất cao, chất lượng ngon nên diện tích gieo trồng tăng lên rất nhanh mặc dù giá giống cao (khoảng 10-15 USD/kg) Chính vì vậy việc tìm ra giống ngô nếp lai có năng suất cao, chất lượng ngon, chủ ñộng sản xuất ñược hạt giống là một trong những mục tiêu lớn của các nhà chọn tạo giống ngô
Trên cả nước, vùng Bắc Trung bộ là vùng phát triển ngô với diện tích lớn (142,4 ngàn ha, chiếm 12,65% diện tích trồng ngô cả nước, tỉnh Nghệ An (diện tích 61,4 nghìn ha, năng suất 36,3 tạ/ha, 2008) và Thanh Hóa (diện tích 60,7 nghìn ha, năng suất 38,1 tạ/ha, 2008) chiếm diện tích chủ yếu Trong ñó,
Trang 13ngô nếp chiếm khoảng 10% diện tích nhưng năng suất còn thấp, chủ yếu trồng các giống ngô nếp thụ phấn tự do và một số giống lai không quy ước nên năng suất không cao và chất lượng kém
Theo kết quả khảo sát của Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, hiệu xuất sử dụng phân bón ở Việt Nam hiện nay mới chỉ ñạt 40 - 45% ñối với ñạm, lân từ 40 - 45% và kali từ 40 - 50% Như vậy còn khoảng 55 - 60% lượng ñạm, 55 - 60% lượng lân và 50 - 60% kali không ñược sử dụng Trong ñó, một phần nằm lại trong ñất, một phần bị rửa trôi theo nước, phần còn lại bị bốc hơi gây ô nhiễm nhiễm nguồn nước và không khí
Hiện nay, giá phân bón ngày càng leo thang, ñã làm ảnh hưởng rất nhiều ñến người nông dân nói riêng và nền nông nghiệp nói chung Vì vậy, việc nghiên cứu, ñánh giá mức phản ứng của các giống ngô nếp lai ở các mức ñạm bón khác nhau là hết sức cần thiết ñể giảm lượng phân bón, giảm chi phí ñầu
tư và tăng hiệu suất cho người nông dân, mặt khác còn giảm nguy cơ gây ô nhiễm môi trường
Trước thực trạng ñó, ñể góp phần thiết thực vào chương trình chọn, tạo giống và tăng năng suất, chất lượng ngô nếp lai, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân ñạm, phân bón lá ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô nếp lai trồng tại Gia Lâm - Hà Nội”
1.2 Mục ñích, yêu cầu của ñề tài
1.2.1 Mục ñích
Trên cơ sở tìm hiểu ảnh hưởng của liều lượng ñạm bón vµ ph©n bãn lá khác nhau ñến sinh trưởng phát triển, năng suất chất lượng của một số giống
ngô nếp lai trồng vụ thu - ñông 2010, xuân- hè 2011 tại Gia Lâm - Hà Nội ñể
xác ñịnh ñược lượng ñạm bón, phân bón lá thích hợp góp phần xây dựng quy
Trang 14trình thâm canh tăng năng suất, chất lượng ngô nếp lai tại Gia Lâm, Hà Nội
và các vùng lân cận
1.2.2 Yêu cầu
- Xác ñịnh ñược lượng ñạm bón thích hợp cho từng giống ngô nghiên cứu
- Tìm ñược phân bón lá thích hợp cho cây ngô sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng cao
- Theo dõi các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển, một số chỉ tiêu sinh lý
và năng suất của các giống ngô
- Xác ñịnh hiệu quả kinh tế của việc sản xuất ngô nếp lai tại Gia Lâm,
vụ xuân - hè 2011 tại Gia Lâm – Hà Nội
Kết quả nghiên cứu của ñề tài là tài liệu tham khảo góp phần vào việc phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu về cây ngô nếp lai
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của ñề tài
Kết quả nghiên cứu của ñề tài góp phần vào việc xây dựng quy trình thâm canh cây ngô nếp cho năng suất cao, chất lượng tốt
Trang 152 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Vai trò của cây ngô trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới và Việt
Nam
2.1.1 Vai trò của cây ngô trên thế giới
Ngô là một trong ba cây ngũ cốc chủ yếu, cung cấp lương thực cho loài người trên toàn thế giới Ngô là cây lương thực nuôi sống gần 1/3 số dân trên toàn thế giới, ở một số nước như Mexico, Peru, Kenia… sử dụng ngô là lương thực chính [16]
Ngoài ra ngô còn cung cấp phần lớn thức ăn cho ngành chăn nuôi và cung cấp nguyên liệu cho nhà máy sản xuất cồn, tinh bột, dầu, glucoza, bánh kẹo… Những năm gần ñây cây Ngô ñược coi là cây thực phẩm, người ta sử dụng bắp ngô bao tử làm rau cao cấp [39]
Cây ngô là cây có nền di truyền rộng thích ứng với nhiều vùng sinh thái khác nhau, do vậy ngô ñược trồng hầu hết các nước trên thế giới Trên thế giới khoảng 75 nước trồng ngô bao gồm cả các nước công nghiệp và các nước ñang phát triển, mỗi nước trồng ít nhất 100.000 ha ngô [39] Theo số liệu FAO, năm 2003 tổng diện tích trồng ngô là 142.331.335 ha, ñem lại sản lượng 637.444.480 tấn ngô ngũ cốc một năm, trị giá trên 65 tỷ $ (giá bán quốc
tế 2003 là 108$ trên một tấn)
Vào cuối thế kỷ 20 và những năm ñầu thế kỷ 21, cây ngô vượt lên ñứng ñầu về năng suất và sản lượng trên phạm vi toàn cầu, bình quân sản lượng ba năm 2002 - 2004 ñạt 654,91 triệu tấn/năm, ñứng ñầu trong các cây lương thực
và năm 2005 sản lượng ngô tiếp tục duy trì vị trí của mình, ñạt 692 triệu tấn chiếm 31% tổng sản lượng lương thực [54]
Thực tế, ngô ñã cung cấp lương thực nuôi sống 1/3 dân số thế giới, các nước trồng ñều sử dụng ngô làm lương thực hay thực phẩm nhưung ở mức ñộ khác nhau theo thống kê trên thế giới sử dụng 21% sản lượng ngô làm lương thực cho người [49] Trong ñó các vùng Trung Mỹ, Nam Á và Châu Phi dùng
Trang 16ngô làm lương thực chắnh Các nước vùng đông Nam Phi sử dụng 85% sản lượng ngô làm lương thực Trung Mỹ và Caribe sử dụng 61% sản lượng ngô làm lương thực [55] Vùng đông Nam Á và Thái Bình Dương sử dụng 39% còn vùng đông Âu và các nước trong SNG sử dụng 40% sản lượng ngô làm lương thực, (Ngô Hữu Tình) [38] Hàng năm trung bình mỗi người dân Mexico tiêu thụ trên 100 kg ngô hạt làm lương thực chủ yếu dưới dạng bánh từ bột
Ngô ngoài sử dụng làm lương thực, những năm gần ựây ngô còn là cây thực phẩm, người ta dùng bắp ngô bao tử làm rau cao cấp, nghề này phát triển rất mạnh ở Thái Lan và đài Loan [16] Sở dĩ ngô rau ựược ưa chuộng như vậy
là vì nó sạch, an toàn và có hàm lượng sinh dưỡng cao: chất béo 0,2%, hàm lượng protein 1,9% so với khối lượng tươi, hydrat cacbon 8,2 mg/1kg ngô tươi cao hơn hẳn các loại rau cao cấp khác Ngoài ra ngô rau còn chứa nhiều Vitamin, khoáng chất: Ca, F2, PẦ (Ngô Hữu Tình, 1997) [37]
Theo dự báo của Viện Nghiên cứu chương trình lương thực Thế giới (IFPRI, 2003) [69], nhu cầu ngô trên thế giới vào năm 2020 lên tới 852 triệu tấn (sản lượng năm 2005 chỉ mới ựạt 705,3 triệu tấn), tăng 45% so với năm
1997, chủ yếu ở các nước ựang phát triển (72%), riêng đông Nam Á tăng 70%
so với năm 1997
Bảng 1.1 Dự báo nhu cầu ngô thế giới ựến năm 2020
Trang 17Như vậy, nhu cầu về ngô trên thế giới ngày càng tăng từ năm 1997 ựến
2020 nhu cầu cần tăng thêm 45%, trong ựó số lượng tăng nhiều ở các nước ựang phát triển (năm 1997 nhu cầu 295 triệu tấn lên 508 triệu tấn vào năm 2020), sự thay ựổi lớn nhất thuộc về các nước đông Á với sự tăng thêm 85% vào năm 2020
Theo số liệu của Tổ chức Nông - Lương Liên Hợp Quốc (FAO), năm
2007 diện tắch ngô ựã vượt qua lúa nước, với 158,0 triệu ha, năng suất 50,1 tấn/ha và sản lượng ựạt kỷ lục 791,8 triệu tấn So với năm 1961, năm 2007 năng suất ngô trung bình của thế giới tăng thêm hơn 31,1 tạ/ha (từ 19 lên 50,1 tạ/ha)(FAOSTAT, 2009) [62]
Bảng 1.2 Sản xuất ngô trên thế giới giai ựoạn 1961-2007
NS Ngô Năm
D tắch (triệu ha) (tạ/ha) Sản lượng (triệu
Dân số thế giới ngày càng tăng nhanh, trong khi ựó diện tắch ựất canh tác ngày càng thu hẹp do sa mạc hóa và xu thế ựô thị hóa Nền nông nghiệp thế giới ngày nay luôn phải trả lời làm thế nào ựể giải quyết ựủ năng lượng cho 8 tỷ
Trang 18người vào năm 2021 và 16 tỷ người vào năm 2030 ðể giải quyết ñược câu hỏi này, ngoài biện pháp phát triển nền nông nghiệp nói chung thì phải nhanh chóng chọn ra những giống cây trồng trong ñó có các giống ngô năng suất cao, ổn ñịnh có khả năng chống chịu tốt với ñiều kiện khí hậu ngày càng biến ñổi phức tạp Một trong những thành tựu quan trọng trong chọn tạo giống sinh vật nói chung và cây ngô nói riêng là việc nghiên cứu thành công và phát triển nhanh giống biến ñổi gien Với cây ngô, chỉ sau 12 năm áp dụng, năm 2008, diện tích trồng ngô chuyển gien trên thế giới ñã ñạt 37,3 triệu ha, riêng ở Mỹ
ñã lên ñến 30 triệu ha, chiếm 85% trong tổng số 35,2 triệu ha ngô của nước này (GMO-COMPASS, 2009) [63] Nhờ chuyển gien kháng thuốc trừ cỏ và kháng sâu ñục thân, việc sản xuất ngô ñược thuận tiện hơn, giảm thuốc bảo vệ thực vật từ ñó giảm sự ô nhiễm môi trường và tăng hiệu quả kinh tế
Những nghiên cứu về chuyển gien chịu hạn, chịu rét, chịu chua, chịu mặn, chịu ñất nghèo ñạm và kháng một số bệnh do virut ở ngô cũng ñã những kết quả bước ñầu Khi những nghiên cứu trên ñược ứng dụng vào thực tiễn
sẽ góp phần khai thác tối ña tiềm năng năng suất ở ngô ðiều ñó sẽ có một ý nghĩa vô cùng lớn ñối với ngành sản xuất ngô thế giới, ñặc biệt ở các nước ñang phát triển việc sản xuất ngô phụ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên, trong ñó
có Việt Nam
2.1.2 Vai trò của cây ngô ở Việt Nam
Cây ngô ñược ñưa vào trồng ở Việt Nam cách ñây khoảng 300 năm và ñược coi là cây màu chính, thích ứng rộng, chịu thâm canh cao, là loại cây ñứng ñầu về năng suất trong các loại cây lương thực [29]
Cây ngô ñược mở rộng diện tích gieo trồng nhanh chóng do mang nhiều ñặc ñiểm quý báu như hiệu suất quang hợp cao, sử dụng nước tiết kiệm mà cây ngô sớm ñược ñưa vào trồng với diện tích lớn và ñược coi là cây lương thực chính quan trọng nhất là ở những vùng núi cao nơi có tỷ lệ dân nghèo và sản xuất chủ yếu dựa vào nước trời [43]
Trang 19Theo thống kê của FAO năm 2003 diện tắch trồng ngô của các nước đông Nam Á là 480.580 nghìn ha, ở vùng này những quốc gia có tốc ựộ tăng sản lượng hàng năm cao nhất là Lào, Campuchia, Myanmar và Việt Nam, tốc
ựộ hàng năm trên 10% (Việt Nam 11,1%) Năng suất ngô trên thế giới tăng từ 3,62 tấn/ha năm 1993 nên 4,47 tấn/ha năm 2003 tốc ựộ tăng bình quân/năm là 1,7%, trong ựó năng suất ngô Việt Nam tăng hàng năm là 5,3%, [9], ngô ựược
sử dụng ựa dạng cho tiêu dùng và chế biến các sản phẩm chế biến ựược tạo ra
từ nhiều loại ngô trắng, ngô vàng là chắnh
Hiện nay, cả nước ựã hình thành 8 vùng sản xuất ngô Trong ựó 5 vùng
có diện tắch lớn nhất cả nước là Tây Nguyên chiếm 21,8%, đông Bắc 21,9%, Tây Bắc 15,35%, Bắc Trung bộ 14,36% và đông Nam bộ 12,11% Tổng diện tắch 5 vùng này chiếm 84,71% Còn lại là ựồng bằng sông Hồng 7,69% duyên hải Nam Trung bộ 4,14% và ựồng bằng sông Cửu Long 3,47% [20]
Trong những năm gần ựây nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày càng cao, cùng với sự phát triển cao của nền chăn nuôi ựại công nghiệp ựòi hỏi một khối lượng lớn ngô dùng cho chế biến thức ăn gia súc Do ựó, diện tắch trồng ngô không ngừng ựược mở rộng và sản lượng không ngừng tăng lên để ựạt ựược năng suất và sản lượng ngô ựáp ứng ựược nhu cầu thực tế thì không thể không nói tới ngô lai Với những ưu thế về năng suất, hàm lượng dinh dưỡng cao hơn rất nhiều so với các giống ngô truyền thống và các giống ngô thụ phấn tự do Các giống ngô lai ngày càng ựược sử dụng rộng rãi và ngày càng ựược phổ biến nhiều trong sản xuất Năm 1991 diện tắch ngô lai mới chỉ có
500 ha (Trần Hồng Uy, 2000) [43], ựến năm 2005 diện tắch ngô lai ựã tăng 840.000 ha (Viện Nghiên cứu Ngô, 2005) [46]
Qua ựiều tra ựánh giá ựiều kiện kinh tế xã hội, ựiều kiện tự nhiên thì rất nhiều vùng sinh thái của nước ta có khả năng mở rộng diện tắch ngô lai như: Vùng Tây Bắc diện tắch trồng ngô lai có thể lên tới 70- 80% [3], đông Bắc 60%, Bắc Trung bộ 70% Kế hoạch ựặt ra trong thời gian tới tỷ lệ sử dụng
Trang 20giống ngô lai trên toàn quốc ñạt 90% và 10% ñể trồng giống thụ phấn tự do ở những vùng ñặc biệt khó khăn [23]
2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu ngô trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Một trong những tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp thành công rực rỡ nhất ở thế kỷ 20 là ngô lai Nghề trồng ngô trên thế giới vào những năm cuối của thế
kỷ 20 ñã có những bước tiến nhảy vọt nhờ ứng dụng rộng rãi công nghệ ưu thế lai, kỹ thuật nông học tiên tiến và những thành tựu to lớn của công nghệ sinh học, công nghệ chế biến và bảo quản, công nghệ tin học… góp phần giải quyết nhu cầu lương thực và protein ñộng vật cho hơn 6 tỷ người trên hành tinh chúng
ta Ngô lai ñã phát triển nhanh chóng và hấp dẫn như vậy là do ứng dụng tiến bộ
kỹ thuật về ưu thế lai, các biện pháp kỹ thuật liên hoàn Chính ngô lai ñã kích thích các nhà khoa học mở rộng ñối tượng và phạm vi nghiên cứu nhằm thu ñược các giống lai có ưu thế lai lớn hơn và phong phú hơn [44]
Trong những năm gần ñây, xu hướng sử dụng ngô làm lương thực giảm dần, sử dụng làm thức ăn gia súc tăng nhanh Qua ñiều tra thức ăn tổng hợp cho gia súc có tới 70% hàm lượng chất tinh lấy từ ngô Theo thống kê của Cao ðắc ðiểm (1988) [14] cho thấy các nước có nền nông nghiệp phát triển hầu hết sử dụng ngô làm thức ăn gia súc như: Pháp 90%, Mỹ 89%, Rumani 69% còn các nước SNG trồng khoảng 20 triệu ha ngô trong ñó chỉ sử dụng 3 triệu ha ñể lấy hạt còn lại lấy thân lá ủ chua làm thức ăn cho gia súc [57] Theo Cao ðắc ðiểm, có khoảng 95 nước trồng ngô, tỷ lệ sử dụng các giống ngô lai bình quân trên thế giới là 63 - 65%, nhóm các nước ñang phát triển là 38% và các nước phát triển là 100% [14]
Vào cuối thế kỷ 20 và những năm ñầu thế kỷ 21, cây ngô vượt lên ñứng ñầu về năng suất và sản lượng trên phạm vi toàn cầu, bình quân sản lượng ba năm 2002 - 2004 ñạt 654,91 triệu tấn/năm, ñứng ñầu trong các cây lương thực
Trang 21và năm 2005 sản lượng ngô tiếp tục duy trì vị trí của mình, ñạt 692 triệu tấn chiếm 31% tổng sản lượng lương thực [83]
Diện tích trồng ngô trên thế giới niên vụ 2002-2003 ñạt vào khoảng 142 triệu ha tỷ lệ sử dụng ngô lai bình quân khoảng 72-85%, năng suất bình quân 4,3 tấn/ha [56] Năm 2005 năng suất ngô trung bình của Mỹ ñạt 9,32 tấn/ha với diện tích gieo trồng là 30,1 triệu ha và sản lượng ñạt 280,3 triệu tấn Các nước có tỷ lệ sử dụng ngô lai cao là Mỹ 100%, trong ñó ngô lai ñơn chiếm tới 90% Ngày nay, năng suất ngô tại các ñiểm năng suất cao ở Mỹ ñã ñạt 15-18 tấn/ha, năng suất thí nghiệm ñạt 25 tấn/ha
Ở Châu Á, Bắc Triều Tiên ñã sử dụng 100% là giống ngô lai trong sản xuất tiếp sau ñó là Trung Quốc, là nước ñứng ñầu Châu Á về năng suất, sản lượng và thứ hai trên thế giới về diện tích và sản lượng ngô với diện tích 24,8 triệu ha tổng sản lượng 121,3 triệu tấn, năng suất bình quân ñạt 4,85 tấn/ha [53]
Sản lượng ngô của một số nước trên thế giới: EU là 34,1 triệu tấn, Braxin: 33,5 triệu tấn, Mêhicô:18 triệu tấn, Thái Lan: 4,1 triệu tấn, Philippin: 4,5 triệu tấn, Nam Phi: 9 triệu tấn, Canada: 8,9 triệu tấn (Báo NN&PTNT, 2000) trong ñó năng suất ngô của các nước phát triển là 8,3 tấn/ha, các nước ñang phát triển là 2,9 tấn/ha [78]
Chỉ tính riêng thời kỳ 1985 – 2005 nhịp ñộ tăng trưởng sản lượng ngô thế giới ñạt 3,15%, năng suất ngô 2,1%, tuy nhiên tăng trưỏng diện tích khá thấp 0,8% (FAO/WFP, 2007) [76] và ñây là thách thức lớn nhất của giai ñoạn này từ nay ñến 2020 vì 80% nhu cầu thế giới tăng (266 triệu tấn) mà lại tập chung ở các nước ñang phát triển (IFPRI 2006 – 2007, 2007)
Ở bảng 1.3 các nước ñang phát triển có tỷ lệ tăng năng suất 2,55%/ năm,
kể cả Trung Quốc (1,9%/năm) chậm hơn 2 thập kỷ trước ñó 1956 -1985 (2,8% và 4,8%/ năm), tuy nhiên vẫn chiếm 20% sản lượng ngô trên thế giới trong suốt thập kỷ qua
Trang 22Bảng 1.3 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới từ 1985 – 2005
Các nước ñang phát triển
Trang 23Năm 2003, Mỹ và Trung Quốc chiếm 36,75% tổng diện tích và 58,21% tổng sản lượng ngơ trên tồn thế giới Về năng suất ngơ ở Mỹ cao nhất, đạt 89,2 tạ/ha, Trung Quốc là nước cĩ diện tích và sản lượng ngơ đứng thứ 2 trên thế giới (sau Mỹ) nhưng năng suất ngơ của Trung Quốc chỉ đạt ở mức trung bình là 48,5 tạ/ha (năm 2003) năm 2006/2007 Trung Quốc vẫn là nước nhập khẩu ngơ Tiêu thụ ngơ ở nước này niên vụ 2006 - 2007 dự kiến đạt 145 triệu tấn và năm 2007/2008 đạt 147 triệu tấn trong đĩ tiêu thụ ngơ trong ngành cơng nghiệp đạt 37,5 triệu tấn, tăng 2 triệu tấn tức là khoảng 6% so với niên
vụ trước [20] Sản lượng sản xuất ngơ trên thế giới trung bình hàng năm từ 696,2 – 723,3 triệu tấn (2005 - 2007) Trong đĩ nước Mỹ sản xuất 40,62% tổng sản lượng ngơ và 59,38%, cịn lại là do các nước khác sản xuất [29]
Những thành tựu mà ngành ngơ thế giới đạt được trong những năm gần đây cĩ thể nĩi là đã vượt ngồi mọi dự đốn lạc quan nhất Năm 1995, sản lượng ngơ thế giới là 517 triệu tấn, năm 1998 đã đạt 615 triệu tấn, năm 2000
do điều kiện khí hậu khĩ khăn giảm xuống cịn 593 triệu tấn, vậy mà vào năm
2007 đã đạt tới 792 triệu tấn Tức là chỉ sau cĩ 12 năm, sản lượng ngơ thế giới đã tăng thêm hơn 50% Riêng 7 năm gần đây đã tăng thêm gần 300 triệu tấn và giá ngơ thế giới vẫn ở mức cao Trong khi đĩ, vào năm 2003, Viện Nghiên cứu Chương trình lương thực thế giới (IFPRI) dự báo nhu cầu ngơ trên thế giới vào năm 2020 chỉ lên đến 852 triệu tấn [69]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngơ trên thế giới
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu ngơ lai trên thế giới
Hàng năm lượng ngơ lưu thơng trên thị trường thế giới khoảng 70 triệu tấn, các nước xuất khẩu chính là Mỹ, Pháp, Agentina, Trung Quốc và Thái Lan ðiều này cho thấy ngơ đứng hàng đầu trong các mặt hàng nơng sản cĩ tỷ
lệ lưu thơng trao đổi lớn trên thị trường quốc tế [56]
Trang 24Con người biết sử dụng ngô lai cách ựây gần 1 thế kỷ, ựể ựạt ựược những thành công như ngày nay quá trình phát triển ngô lại ựược chia làm ba thời kỳ (Nguyễn Thế Hùng, 2002) [23]
Thời kỳ 1: từ lúc con người biết lợi dụng ưu thế lai trong chọn giống ngô (1900) kéo dài ựến những năm 1920 Giai ựoạn này do hiểu biết còn hạn chế, trình ựộ kinh tế kỹ thuật còn thấp, ngô lai tồn tại như một loại giống lai cải lương giữa các giống với nhau (giống ngô thụ phấn tự do OPV) đặc ựiểm của các giống ngô thời kỳ này là năng suất ựạt thấp 1,5-1,6 tấn/ha, hiệu quả sản xuất ngô không cao Ngô lai thời kỳ này chủ yếu ựược trồng ở Mỹ, các nước Châu Âu (Nguyễn Thế Hùng, 2002)[23]
Thời kỳ 2: (1920-1960) đặc ựiểm chắnh của thời kỳ này là nhờ các kết quả thu ựược trong quá trình chọn tạo dòng thuần, các giống lai kép ựược sử dụng rộng rãi Năng suất ngô tăng nhanh, vào cuối giai ựoạn, tại nước Mỹ năng suất bình quân 3 tấn/ha, nhờ trồng các giống lai kép, năng suất ngô ở nước Mỹ tăng trung bình 60 kg/ha/năm trong suốt thời gian dài khoảng 30 năm Giai ựoạn này ngô lai kép ựược sử dụng rộng rãi tại Mỹ, Canada, các nước Châu Âu và vùng đông Á
Thời kỳ 3 (từ 1960 ựến nay) Nhờ tác ựộng của các nghiên cứu mới và nhu cầu của sản xuất hàng hóa, hàng loạt giống ngô lai ựơn ra ựời, thay thế dần các giống ngô lai kép năng suất thấp, ựộ ựồng ựều kém Tại nước Mỹ nhờ
sử dụng các giống ngô lai mới, mức tăng năng suất ngô hàng năm tăng gấp hai lần thời kỳ trước, ựạt mức 118kg/ha/năm Cùng với việc tạo ra các giống ngô mới, ngô lai trở thành một loại hàng hóa quan trọng nhất trong sản xuất ngô, ựiều này kắch thắch các cơ sở nghiên cứu, các công ty tư nhân tham gia vào việc chọn tạo, phân phối hạt giống ngô lai, nhờ vậy ngô lai ựược sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới, với diện tắch ngày càng lớn, ựem lại cho loài người lượng sản phẩm khổng lồ [23]
Trang 25Theo số liệu của ðại học tổng hợp Nebrask (2005) lý do năng suất ngô ở
Mỹ tăng lên trong 50 năm qua là:
- 50% do cải tạo nền di truyền của các giống lai
- Khoảng 50% do áp dụng các biện pháp canh tác cải tiến:
+ Bón N hợp lý (tăng hiệu quả sử dụng ñạm, giảm bay hơi ñạm, không làm ô nhiễm nguồn nước, cân bằng dinh dưỡng với P và K)
+ Mật ñộ gieo trồng hợp lý
+ Cải thiện khả năng giữ ẩm của ñất
+ Giảm mức rửa trôi ñất canh tác ngô
+ Mở rộng diện tích ngô có tưới và cải thiện phương pháp tưới
Việc nghiên cứu và sử dụng giống ngô lai ở châu Âu bắt ñầu muộn hơn
Mỹ khoảng 20 năm nhưng cũng ñạt ñược những thành tựu quan trọng Nước
có năng suất cao nhất thế giới là Isarael với 16 tấn/ha sau ñó là Bỉ 12,2 tấn/ha, Chi Lê 11 tấn/ ha, Tây Ban Nha 9,9 tấn/ha… (FAOSTAT DATABASE 2009) [62] Tương tự như ở Mỹ và châu Âu, tuy có xuất phát ñiểm muộn hơn trong việc nghiên cứu và sử dụng giống ngô lai nhưng Trung Quốc là nước có diện tích ngô thứ 2 trên thế giới và là cường quốc ngô lai số 1 châu Á với diện tích 2004 là 25,6 triệu ha trong ñó tới 90% diện tích ñược trồng bằng giống lai (FAOStat Datase, 2009)
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu nhu cầu phân bón cho cây ngô trên thế giới
Cây ngô là một cây ngũ cốc quang hợp theo chu trình C4, là cây ưa nhiệt, có hệ thống rễ chùm phát triển [29] Cây ngô là cây có tiềm năng năng suất lớn Trong các biện pháp thâm canh tăng năng suất ngô, phân bón giữ vai trò quan trọng nhất Theo Berzeni và Gyorff (1996) [4] thì phân bón ảnh hưởng tới 30,7% năng suất ngô còn các yếu tố khác như mật ñộ, phòng trừ cỏ dại, ñất trồng có ảnh hưởng ít hơn Sự hút các chất dinh dưỡng thay ñổi theo các giai ñoạn sinh trưởng, phát triển của ngô Dựa vào biến ñổi hình thái của cây ñể xác ñịnh nhu cầu dinh dưỡng từng thời kỳ cho ngô
Trang 26Với vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng Vì vậy, ñã có rất nhiều công trình nghiên cứu về phân bón cho ngô và những kết quả này ñã ñược ñưa vào áp dụng trong sản xuất
Theo kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu về lân- kali ở Atlanta-
Mỹ ñể tạo ra 10 tấn ngô hạt/ha cây ngô lấy ñi lượng dinh dưỡng như sau:
Bảng 2.4: Lượng chất dinh dưỡng cây ngô lấy từ ñất ñể ñược 10 tấn
hạt/ha [32]
Bộ phận cây N (kg) P205
(kg)
K20 (kg)
Mg (kg)
S (kg)
Kết quả Nghiên cứu cho thấy, chỉ có bón cân ñối NPK năng suất ngô mới ñạt cao và ổn ñịnh Nếu chỉ bón riêng phân ñạm thì năng suất ngô ñạt tương ñối khá ở 1 hoặc 2 vụ ñầu, các vụ sau năng suất giảm nhanh và rất thấp Các tổ hợp NP, NK cho năng suất khá hơn và sự suy giảm chậm hơn Khi bón cân ñối NPK thì năng suất ngô ñạt cao và ổn ñịnh suốt 28 vụ trồng ngô ñộc canh liên tục [18]
Một vài nghiên cứu gần ñây xem xét tỷ lệ phân ñạm tối ưu cho ruộng sản xuất hạt ngô chỉ ra rằng, lượng bón từ 56- 112 kg N/ha cho năng suất hạt
và chất lượng tốt nhất Một số loại phân bón vi lượng cũng rất quan trọng ñối với ngô như Mg cần thiết cho sự nảy mầm của cây ngô, Zn cần thiết cho quá trình hình thành hạt và Mo cần cho sự phát triển nội nhũ của cây ngô [31]
Trang 27Theo nhiều tác giả nước ngoài thì ñể sản xuất 100 kg ngô hạt cần 4,8- 5,3 kg tổng cộng các loại NPK nguyên chất, trong ñó N chiếm 2,0- 2,2 kg,
P205 là 0,8- 0,9 kg, K20 là 2,0- 2,2 kg và tỷ lệ N:P:K là 2:1:2 [1], [41]
Ở các nước trồng nhiều ngô trên thế giới, cây ngô là cây lương thực quan trọng nên họ ñầu tư nghiên cứu rất nhiều về phân bón hợp lý cho ngô nhằm ñạt năng suất, hiệu quả kinh tế cao và ổn ñịnh trong nhiều vụ
Ở Brazin, người nông dân áp dụng mức phân bón cho ngô ñể ñạt năng suất 160 tạ/ha là 485 kg N + 485 kg P205 + 510 kg K20 + 440 kg S + 1 kg B + 6,9 kg Zn
Viện Kỹ thuật Cây ngũ cốc và Thức ăn gia súc (Pháp) chia quá trình sinh trưởng phát triển của cây ngô ra làm 4 giai ñoạn:
- Giai ñoạn tăng trưởng chậm: Từ khi mọc ñến khi 7 - 8 lá: ðây là giai ñoạn hình thành và phát triển bộ rễ ðây cũng là giai ñoạn phân hoá tạo bông
cờ Giai ñoạn này lượng dinh dưỡng cây hút không lớn chỉ bằng 1 - 4% tổng lượng dinh dưỡng so với cả vòng ñời cây hút
Sự hút chất dinh dưỡng ở thời kỳ ñầu tuy chậm nhưng rất quan trọng cho ngô, bao gồm các dạng dễ hấp thu của các hợp chất chứa NPK so với tổng lượng dinh dưỡng và tổng chất khô ñã tích luỹ ñược Sau mọc 20 - 30 ngày ngô tích luỹ ñược 4% chất khô, 9% lân, 10% ñạm, 14% kali; sau 60 ngày: 45% chất khô, 57% lân, 66% ñạm, 92% kali
- Giai ñoạn tăng trưởng nhanh: Từ 7 - 8 lá ñến sau trỗ 15 ngày: Ở giai ñoạn này các bộ phận trên mặt ñất (thân lá) và dưới mặt ñất ñều tăng trưởng rất nhanh Các cơ quan sinh trưởng phát triển mạnh, lượng tinh bột và chất khô trong bắp tăng nhanh ðây là giai ñoạn cây hấp thu tối ña dinh dưỡng bằng 75 - 95% tổng lượng dinh dưỡng so với cả vòng ñời cây hút Thiếu chất dinh dưỡng ở thời kỳ 8 - 11 lá sẽ cản trở sinh trưởng của lá và giảm từ 10 - 20% năng suất, ñặc biệt ở thời kỳ trỗ cờ phun râu cây ñòi hỏi dinh dưỡng rất gay gắt, nếu thời kỳ này một nửa số lá héo khô lúc này sẽ làm giảm 25 - 30%
Trang 28ựó các giống ngắn ngày cần ắt hơn, khoảng 35 - 40 ngày trong thời gian hình thành hạt, mỗi ngày bình quân tạo thành 2,5 - 3% khối lượng hạt khi chắn hoàn toàn
Trong giai ựoạn chắn cây ngô thực hiện các chức năng phân phối lại lượng dinh dưỡng ựã hấp thụ Lượng dinh dưỡng cây hấp thụ ựược không chỉ tắch luỹ ở hạt mà còn một lượng lớn ở thân lá, [64]
để ựạt năng suất cao và ổn ựịnh, ngô cần ựược bón phân cân ựối, ựặc biệt là giữa các yếu tố NPK điều này ựược chứng minh rất rõ qua các thắ nghiệm bón các tổ hợp phân cho ngô trong suốt 28 vụ của Viện Kali quốc tế cho thấy chỉ có bón cân bằng NPK năng suất ngô mới cao và ổn ựịnh
Theo Shan (1994) [64], mức bón phân ựược khuyến cáo cho ngô ở đài Loan là 175 kg N + 95 kg P2O5 + 70 kg K2O/ha
Theo Sinclair và Muchow (1995) [77], hàng thập kỷ gần ựây, năng suất ngô tăng lên có liên quan chặt chẽ với mức cung cấp N cho ngô đạm ựược cây ngô hút với một lượng lớn và ựạm có ảnh hưởng khác nhau rõ rệt ựến sự cân bằng cation và anion ở trong cây Khi cây hút N Ờ NH4+ sự hút các cation khác chẳng hạn như K+, Ca2+, Mg2+ sẽ giảm trong khi sự hút anion ựặc biệt là Photpho sẽ thuận lợi Xảy ra chiều hướng ngược lại, khi cây hút N nitrat (Mengel, 1968) (dẫn theo Arnon, 1974) [50] Tùy thuộc vào tuổi của cây, với cây ngô non sự hút amonium-N nhanh hơn sự hút ựạm nitrat, trái lại các cây ngô già dạng ựạm hút chủ yếu là ựạm nitrat và có thể chiếm tới hơn 90% tổng lượng ựạm cây hút (Coic, 1964) (dẫn theo Arnon, 1974) [50] đạm cũng là
Trang 29thành phần cấu trúc của vách tế bào (William, 1993) [84] ðạm là yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng của cây và là thành phần của tất cả các protein ðạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất ñể xác ñịnh năng suất ngô Khi thiếu N chồi
lá mầm sẽ không phát triển ñầy ñủ, sự phân chia tế bào ở ñỉnh sinh trưởng bị kìm hãm và kết quả là giảm diện tích lá, kích thước của cây và năng suất giảm Phân ñạm có thể tạo ra sự tăng diện tích lá hiệu quả ngay từ ñầu vụ và duy trì một diện tích lá xanh lớn vào cuối vụ ñể quá trình ñồng hóa quang hợp ñạt cực ñại (Wolfe và CS, 1988) [85]
Mức ñạm thấp làm giảm số hạt và năng suất hạt (Barbieri và CS, 2000) [51] Các giống ngô lai khác nhau có thể sử dụng phân ñạm ở mức ñộ khác nhau, năng suất cây trồng cao cần phải cung cấp một lượng lớn phân bón, ñặc biệt là ñạm (Debreczeni, 2000) [60]
ðể ñạt ñược năng suất cao một lượng ñạm hữu hiệu phải ñược cây hút (Mitsuru và CS, 1991a; 1992; 1994) (Mitsuru, 1994) [74] Từ 50 - 60% ñạm trong hạt ñã ñược lấy từ ñạm ñồng hoá ở trong lá và thân, trước thời kỳ ra hoa (Crowford và CS, 1982; Mitsuru và CS, 1991b) (Mitsuru, 1995) [74]
Dự trữ ñạm ở cây ngô có ảnh hưởng rất lớn ñối với sự sinh trưởng và phát triển lá, sự tích luỹ sinh khối và sự tăng trưởng của hạt (Thomas và CS, 1995) [81], ảnh hưởng về sau của ñạm là quan trọng khi ñánh giá phản ứng của cây trồng ñối với phân N Số liệu dẫn ra ở một thí nghiệm ngô tưới nước theo rãnh cho thấy: Năng suất ngô 1.200 kg/ha khi không bón ñạm và 6.300 kg/ha khi bón 224 kg/ha N trên ñất chưa bao giờ trồng ngô và năm trước ñó không bón ñạm Ở năm tiếp theo năng suất ngô là 4.400 kg/ha khi không bón ñạm và 7.000 kg/ha khi bón N ở mức 224 kg/ha
Năng suất ngô vùng Nhiệt ñới thấp hơn năng suất ngô vùng Ôn ñới bởi
số hạt/ diện tích ñất và chỉ số thu hoạch (HI) của ngô Nhiệt ñới thấp hơn ngô của vùng Ôn ñới (Mitsuru, 1995 [74]) Nhìn chung, cây ngô quang hợp theo chu trình C4 và nó phù hợp nhiệt ñộ cao, người ta thừa nhận là ngô có thể
Trang 30ñạt năng suất chất khô cao ở vùng Nhiệt ñới (Mitsuru, 1995)
Lân cũng là yếu tố ña lượng quan trọng ñối với cây ngô Lân ñược cây hút và tích luỹ nhiều trong hạt thấp hơn trong thân lá Theo một số thí nghiệm cho thấy, lân có trong hạt ngô ở tỷ lệ 0,55- 0,60% và trong thân lá là 0,30- 0,35% Lân trong cây có vai trò quan trọng trong quá trình trao ñổi chất, hút chất dinh dưỡng và vận chuyển các chất ñó trong cây Tác dụng chủ yếu của lân ñối với cây ngô là :
- Thúc ñẩy phân chia tế bào
- Thúc ñẩy quá trình trao ñổi chất béo và prôtêin
- Thúc ñẩy việc ra hoa và hình thành hạt và quyết ñịnh phẩm chất hạt
- Thúc ñẩy việc ra rễ và góp phần tạo dựng bộ rễ khoẻ mạnh
- Tăng cường sức sống và khả năng chống chịu với ñiều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, ñặc biệt là nhiệt ñộ thấp và thiếu nước
- Thúc ñẩy ra hoa sớm, giảm tác hại của thừa ñạm [33]
Lân có vai trò quan trọng ñối với cây ngô nhưng khả năng hút lân ở giai ñoạn cây non lại rất yếu Thời kỳ 3- 4 lá, cây ngô không hút ñược nhiều lân nên ñó là thời kỳ khủng hoảng lân của cây ngô Nếu thiếu lân giai ñoạn này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng ñến năng suất ngô Cây ngô hút nhiều lân nhất khoảng 62% tổng lượng lân ngô cần ở thời kỳ 6- 12 lá, sau ñó giảm ñi ở các thời kỳ sau
Kali có khả năng ñiều khiển quá trình thẩm thấu nước vào tế bào, cây nên liên quan ñến hút khoáng Kali còn có khả năng ñiều khiển ñóng mở của khí khổng liên qua ñến khả năng quang hợp Làm tăng tính cứng cho thân Làm tăng khả năng chống chịu rét cho cây Ka li là nguyên tố có vai trò quan trọng bậc nhất ñến dòng vận chuyển hợp chất hữu cơ huy ñộng từ lá về cơ quan kinh tế nên liên quan trực tiếp ñến năng suất kinh tế [5]
Kali ñược cây ngô hút mạnh ngay từ giai ñoạn ñầu Từ khi cây mọc cho ñến khi trỗ cờ hút khoảng 70% lượng kali cây cần Khi thiếu kali rễ cây ngô
Trang 31có xu hướng ăn ngang nhiều hơn nên cây dễ ngã ñổ Các chóp lá khô dọc xuống mép lá rồi chuyển dần thành màu nâu Bắp ngô nhỏ, tỷ lệ ñuôi chuột cao, năng suất ngô thấp
Nghiên cứu ñánh giá ảnh hưởng vai trò của phân ñạm và S ñến sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng của giống ngô lai, tác giả Hussain và CS, (1999) [68], cho rằng sự cung cấp phân bón ở các mức 150 N + 30 S và 150 N + 20 S (kg/ha) làm tăng một cách tương ứng khối lượng chất khô/cây, số hạt/ bắp và khối lượng hạt/ bắp so với các xử lý khác Năng suất ngô ñạt cao nhất (5,59 tấn/ ha) ở công thức bón 150 N + 30 S (kg/ha)
Theo Velly và CS (De, 1973) [59], khi bón cho ngô với liều lượng: 40 kg N/ha năng suất thu ñược 12,11 tạ/ha; 80 kg N/ha năng suất thu ñược 15,61 tạ/ha; 120 kg N/ha năng suất thu ñược 32,12 tạ/ha; 160 kg N/ha năng suất thu ñược 41,47 tạ/ha; 200 kg N/ha năng suất thu ñược 52,18 tạ/ha Theo Thomas Dieroff và CS (2001), lượng dinh dưỡng mà ngô hút như sau:
- Ngô lai năng suất 4,5 tấn/ha tổng lượng hút 115 kg N; 20 kg P2O5; 75
Ở Canada, ñể ñạt năng suất 184 tạ/ha, người ta bón phân cho ngô với
tỷ lệ 640 kg N + 240 kg P205 + 432 kg K20 + Ca + Mg + S + Zn + Mn + Cu +
Trang 32B với mật ñộ từ 90.000 cây ñến 103.000 cây/ha
Ở Philippin với mật ñộ trồng 90.000 cây/ha, muốn ñạt năng suất
156 tạ/ha ngô hạt người ta bón 500 kg N + 300 kg P205 + 300 kg K20 cho
01 ha [58]
2.2.3 Tình hình nghiên cứu ngô ở Việt Nam
2.2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngô lai ở Việt Nam
Giống ngô lai có ñặc ñiểm là năng suất cao, ñộ thuần cao ở hầu hết các tính trạng như chiều cao cây, ñộ ñóng bắp, kích thước bắp, màu sắc hạt, giữ ñược ổn ñịnh trong ñiều kiện ñất ñai thích hợp và kỹ thuật chăm sóc ñồng ñều Khả năng chống chịu các ñiều kiện bất thuận như hạn, úng, ñất xấu, thiếu phân bón thường thấp hơn các giống ngô thụ phấn tự do
Giống ngô lai có thể tạo ra ñược chia làm 2 loại là ngô lai quy không quy ước và ngô lai quy ước
- Các giống ngô lai không quy ước là giống ngô lai trong ñó ít nhất có một bố hoặc mẹ không thuần Giống ngô lai không quy ước ước gồm giống lai giữa giống, lai giữa dòng thuần với giống (lai ñỉnh), lai giữa các gia ñình, lai giữa một lai ñơn và một giống (lai ñỉnh kép) Trong các lai trên thì lai ñỉnh
và lai ñỉnh kép ñược sử dụng rộng rãi hơn Các giống lai không quy ước phổ biến hiện nay ở nước ta là LS4, LS5, LS6, LS8,
- Các giống ngô lai quy ước là những giống ngô lai các dòng tự phối thuần với nhau Ngô lai quy ước gồm các kiểu lai sau:
Lai ñơn: là giống ñược tạo ra từ lai 2 dòng tự phối thuần (A x B) Các giống phổ biến hiện nay là DK888, LN10, LVN12, LVN20, LVN25, LVN4, P3011, P3012, Bioseed 9797, B06,
Lai ba: là giống ñược tạo ra từ lai 3 dòng tự phối thuần (A x B) x C Các giống phổ biến hiện nay là Uniseed38, T1, LVN11, LVN17, T9,
Lai kép: là giống tạo ra từ lai 4 dòng tự phối thuần (A x B) x (C x D) Các giống phổ biến hiện nay là P11, P60, B9681, LVN12, T3, T4, T5, T7, [9]
Trang 33đây là các giống ngô lai có khả năng cho năng suất cao nhất nhưng ựòi hỏi ựiều kiện thâm canh tốt Trong các phép lai trên, lai ựơn thường ựược phát triển nhiều trên thế giới vì nó cho năng suất cao và ựồng ựều nhưng nó rất khó nhân dòng bố mẹ và sản xuất hạt lai [21]
Trong những năm gần ựây nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày càng cao, cùng với sự phát triển cao của nền chăn nuôi ựại công nghiệp ựòi hỏi một khối lượng lớn ngô dùng cho chế biến thức ăn gia súc Do ựó, diện tắch trồng ngô không ngừng ựược mở rộng và sản lượng không ngừng tăng lên để ựạt ựược năng suất và sản lượng ngô ựáp ứng ựược nhu cầu thực tế thì không thể không nói tới ngô lai Với những ưu thế về năng suất, hàm lượng dinh dưỡng cao hơn rất nhiều so với các giống ngô truyền thống và các giống ngô thụ phấn tự do Các giống ngô lai ngày càng ựược sử dụng rộng rãi và ngày càng ựược phổ biến nhiều trong sản xuất Năm 1991 diện tắch ngô lai mới chỉ có
500 ha (Trần Hồng Uy, 2000) [43], ựến năm 2005 diện tắch ngô lai ựã tăng 840.000 ha (Viện Nghiên cứu Ngô, 2005) [46]
Trong những năm gần ựây, Nhà nước ựã có những chắnh sách thắch hợp ựưa ngô lai vào sản xuất Phân theo diện tắch, nước ta có các nhóm giống sau: nhóm có diện tắch lớn hơn 10.000 ha là LVN10, CP888, CP999, C919, G49, P11, B9681, CP989; nhóm có diện tắch 5.000- 10.000 ha là LVN4, B9797, P60, Nếp Nù, Tẻ ựịa phương; nhóm có diện tắch 1.000- 5.000
ha là HQ2000, VN4, TSB1, NK46, LVN17, Nếp Vàng, P848, LVN2, VN2, MX4, MX2, B9999
Với khả năng thắch nghi rộng, ngô lai ựã ựược trồng trên hầu hết các vùng sinh thái nông nghiệp nước ta Nếu như Việt Nam có 8 vùng nông nghiệp chắnh thì cả 8 vùng ựều trồng ựược ngô lai, tập trung chủ yếu ở ựồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, đông Nam bộ và Tây Nguyên Trong ựó vùng ựồng bằng sông Hồng là vùng có nhiều lợi thế ựể phát triển ngô lai, ựến năm 2004 diện tắch ngô lai chiếm 96,2% tổng diện tắch trồng ngô toàn vùng
Trang 34và tập trung chủ yếu ở các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Bắc Giang,Ầ tỷ lệ sử dụng ngô lai ở các tỉnh này ựạt tới 95- 100%
Qua ựiều tra ựánh giá ựiều kiện kinh tế xã hội, ựiều kiện tự nhiên thì rất nhiều vùng sinh thái của nước ta có khả năng mở rộng diện tắch ngô lai như: Vùng Tây Bắc diện tắch trồng ngô lai có thể lên tới 70- 80%, đông Bắc 60%, Bắc Trung bộ 70% Kế hoạch ựặt ra trong thời gian tới tỷ lệ sử dụng giống ngô lai trên toàn quốc ựạt 90% và 10% ựể trồng giống thụ phấn tự do ở những vùng ựặc biệt khó khăn
2.2.3.2 Tình hình nghiên cứu nhu cầu phân bón cho cây ngô ở Việt Nam
đối với cây ngô, ựạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng ựối với việc tạo năng suất và chất lượng đạm tham gia tắch cực vào quá trình sinh trưởng và phát triển của cây ngô Nhiều kết quả nghiên cứu ựã chỉ ra rằng cây ngô phản ứng rất rõ với yếu tố ựạm, nếu có ựủ ựạm cây ngô sinh trưởng khoẻ, lá xanh, cây mập
Những vùng ựất nghèo dinh dưỡng, ựạm là yếu tố quyết ựịnh chủ yếu ựến năng suất của cây.Vì thế cần bổ xung ựạm bằng phân bón cho cây ựể ắt nhất ựảm bảo ựược nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu (Cao đắc điểm, 1998 ; Ngô Hữu Tình, 2003)
Theo đường Hồng Dật (2003) [13] trung bình với năng suất 60 tạ/ha ngô hạt, cây ngô lấy từ ựất 155 kg N, 60 kg P2O5, 115 kg K2O (tương ựương 337
kg urê, 360 kg supe lân, 192 kg clorua kali)
Trong phạm vi nghiên cứu thuộc chương trình phát triển lương thực, Tạ Văn Sơn (1995) [34] ựã nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cây ngô ở vùng ựồng bằng sông Hồng, thu ựược kết quả như sau:
- để tạo ra 1 tấn hạt, ngô lấy ựi từ ựất trung bình một lượng ựạm, lân, kali là: N = 22,3 kg; P2O5 = 8,2 kg; K2O = 12,2 kg
- Lượng NPK tiêu tốn ựể sản xuất ra 1 tấn ngô hạt là: N = 33,9 kg; P2O5 = 14,5 kg; K2O = 17,2 kg
Trang 35- Tỉ lệ nhu cầu dinh dưỡng NPK là: 1: 0,35: 0,45
- Tỉ lệ N: P: K thay ựổi trong quá trình sinh trưởng phát triển như sau:
Bảng 2.5: Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong giai ựoạn sinh trưởng (%)
Nguồn: Tạ Văn Sơn (1995) [34]
Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của nước ngoài và thể hiện rõ là hút kali ựược hoàn thành sớm trước phun râu, còn các chất dinh dưỡng khác như ựạm và lân còn tiếp tục ựến lúc ngô chắn
Theo tác giả Ngô Hữu Tình (1997) [37], trên ựất phù sa sông Hồng tỷ lệ nhu cầu dinh dưỡng của N, P, K cho cây ngô ựạt năng suất cao là 1 : 0,35 : 0,45 và liều lượng bón phân cho năng suất cao là: 180 N Ờ 60 P2O5 Ờ 120 K2O;
ở Duyên hải miền Trung: 120 N Ờ 90 P2O5 Ờ 60 K2O; miền đông Nam bộ: 90
N Ờ 90 P2O5 Ờ 30 K2O; đồng bằng sông Cửu Long: 150 N Ờ 50 P2O5 Ờ 0 K2O Theo Nguyễn Văn Bộ (2007) [7], lượng phân bón khuyến cáo cho ngô phải tuỳ thuộc vào ựất, giống ngô và thời vụ Giống có thời gian sinh trưởng dài hơn, có năng suất cao hơn cần phải bón lượng phân cao hơn đất chua phải bón nhiều lân hơn, ựất nhẹ và vụ gieo trồng có nhiệt ựộ thấp cần bón nhiều kali hơn Liều lượng khuyến cáo chung cho ngô là:
+ đối với giống chắn sớm:
- Trên ựất phù sa: 8 - 10 tấn phân chuồng; 120 - 150 kg N; 70 - 90 kg
P2O5 ; 60 - 90 kg K2O/ha
- Trên ựất bạc màu: 8 - 10 tấn phân chuồng; 120 - 150 kg N; 70 - 90 kg
P2O5;100 - 120 kg K2O/ha
+ đối với giống chắn trung bình và chắn muộn:
- Trên ựất phù sa: 8 - 10 tấn phân chuồng; 150 - 180 kg N; 70 - 90 kg
Trang 36P2O5 Ờ 100 K2O cho năng suất 65 - 75 tạ/ha
Theo Phạm Kim Môn (1991) [30], với ngô đông trên ựất phù sa sông Hồng liều lượng phân bón thắch hợp là: 150 - 180 kg N; 90 kg P2O5; 50 - 60
kg K2O/ha
Tác giả Vũ Cao Thái cũng cho rằng liều lượng và tỷ lệ phân bón cho ngô khác nhau trên các loại ựất khác nhau Theo ông, trên ựất phù sa nên bón 120
kg N - 60 kg P2O5 - 90 kg K2O/ha, tỷ lệ N:P:K là 1:0,5:0,75 Trên ựất xám bạc màu bón 100 kg N - 100 kg P2O5 - 150 kg K2O/ha với tỷ lệ là 1:1:1,5
Theo Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam (đỗ Trung Bình, 2000), liều lượng phân bón cho 1 ha ngô ở vùng đông Nam bộ và Tây Nguyên là:
120 kg N - 90 kg P2O5 - 60 kg K2O cho vụ hè thu, còn vụ thu ựông (vụ 2) có thể tăng lượng K2O lên 90 kg (dẫn theo Ngô Hữu Tình, 2003) [38]
Theo Nguyễn Văn Bào (1996) [3], liều lượng phân bón thắch hợp cho ngô ở các tỉnh miền núi phắa Bắc (Hà Giang) là 120 kg N - 60 kg P2O5 - 50 kg
K2O/ha cho các giống thụ phấn tự do và 150 kg N - 60 kg P2O5 - 50 kg
K2O/ha cho các giống lai
Theo Lê Quý Tường và Trần Văn Minh, lượng phân bón thắch hợp cho ngô lai trên ựất phù sa cổ ở duyên hải Trung bộ trong vụ ựông xuân là 10 tấn phân chuồng + 150-180 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O/ha (tỷ lệ NPK là 1,7:1:0,7 hoặc 2:1:0,7), tiêu tốn lượng ựạm từ 22,6 - 28,8 kg N/1 tấn ngô hạt;
vụ hè thu bón 10 tấn phân chuồng + 150 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O/ha (tỷ
lệ NPK là 1,7:1:0,7), tiêu tốn lượng ựạm từ 27,9 - 28,4 kg N/1tấn ngô hạt
Trang 37(dẫn theo Trần Văn Minh, 2004) [29]
Bón phân vô cơ kết hợp phân hữu cơ cho ngô ựã làm tăng năng suất ngô
và giúp cải thiện ựộ phì trong ựất, theo Bùi đình Dinh (1988, 1994) ựể ựảm bảo cho cây trồng có năng suất cao, ổn ựịnh, bón phân hữu cơ chiếm 25% tổng số dinh dưỡng, còn 75% phân hoá học [15]
Bón cân ựối ựạm - kali có hiệu lực cao hơn nhiều so với lúa Bội thu do bón cân ựối (trung bình của nhiều liều lượng ựạm) có thể ựạt 33 tạ/ha trên ựất phù sa sông Hồng; 37,7 tạ/ha trên ựất bạc màu; 11,7 tạ/ha trên ựất xám và 3,9 tạ/ha trên ựất ựỏ vàng Xét về hiệu quả kinh tế thì bón phân cân ựối cho ngô trên ựất bạc màu, ựất xám có lãi hơn nhiều so với ựất phù sa và ựất ựỏ vàng (Nguyễn Văn Bộ, 2007) [7]
Theo tác giả Bùi Huy Hiền (2002) [22], từ năm 1985 ựến nay tình hình sử dụng phân ựạm ở nước ta tăng trung bình là 7,2%/năm, phân lân là 13,9%/năm, phân kali là 23,9%/năm Tổng lượng N + P2O5 + K2O trong 15 năm qua tăng trung bình 9,0%/năm Tỷ lệ N : P2O5 : K2O trong 10 năm qua
ựã cân ựối hơn với tỷ lệ tương ứng qua các năm 1990, 1995 và 2000 là 1 : 0,12 : 0,05; 1 : 0,46 : 0,12 và 1 : 0,44 : 0,37 Lượng phân bón/ha cũng ựã tăng lên qua các năm 1990, 1995, 2000 với tổng lượng N : P2O5 : K2O tương ứng là 58,7; 117,7 và 170,8 kg/ha, tỷ lệ này còn thấp so với các nước phát triển như Mỹ, Hàn Quốc, Pháp, Nhật với tổng lượng N : P2O5 : K2O khoảng 240 - 400 kg/ha
Theo Vũ Hữu Yêm (1995) [48], ảnh hưởng của bón ựạm như sau: Không bón năng suất ựạt 40 tạ/ha; bón 40 kg N năng suất ựạt 56,5 tạ/ha; bón 80 kg N năng suất ựạt 70,8 tạ/ha; bón 120 kg N năng suất ựạt 76,2 tạ/ha; bón 160 kg N năng suất ựạt 79,9 tạ/ha
Trên ựất phù sa cổ, ựối với giống ngô lai LVN4 bón ựạm ở các liều lượng nền 1 + 150 N, nền 1 + 180 N, nền 1 + 210 N ựều làm năng suất hơn ựối
Trang 38chứng 1 (không bón phân) từ 26,64 - 32,48 tạ/ha trong vụ đông Xuân và 28,43 - 30,98 tạ/ha trong vụ hè thu Lượng ựạm tăng từ 120 Ờ 210 N thì năng suất ngô cũng tăng theo, nhưng hiệu quả kinh tế cao nhất là bón 10 tấn phân chuồng + 150 N + 90 P2O5 + 60 K2O/ha (Lê Quý Tường và CS, 2001) [42] Hiệu quả của phân bón chỉ có thể phát huy ựầy ựủ khi có chế ựộ phân bón hợp lý, bón cân ựối giữa các nguyên tố Bón phân cho ngô ựể ựạt hiệu quả kinh tế cao phải căn cứ vào ựặc tắnh của loại giống ngô, yêu cầu sinh lý của cây ngô qua các thời kỳ sinh trưởng, tình trạng của cây trên ựồng ruộng, tắnh chất ựất, ựặc ựiểm loại phân bón, kỹ thuật trồng trọt và ựiều kiện khắ hậu thời tiết
Khi nghiên cứu về phân bón cho ngô trên ựất bạc mầu, Nguyễn Thế Hùng (1996) [23], ựã chỉ ra rằng phân N có tác dụng rất rõ ựối với ngô trên ựất bạc màu, song lượng bón tối ựa là 225 kg/ha, ngưỡng bón N kinh tế là 150 kg/ha trên nền cân ựối P - K
Khi nghiên cứu về phân bón cho ngô trên ựất bạc mầu, Nguyễn Thế Hùng (1996) [23], ựã chỉ ra rằng phân N có tác dụng rất rõ ựối với ngô trên ựất bạc màu, song lượng bón tối ựa là 225 kg/ha, ngưỡng bón N kinh tế là 150 kg/ha trên nền cân ựối P - K
Kết quả nghiên cứu của Lê Quý Kha (2001) [24] ựã chỉ ra rằng mặc dầu trong ựiều kiện ắt có khả năng ựầu tư ựạm và thiếu nước, vắ dụ như nhờ nước trời, tốt hơn hết vẫn phải chia nhỏ lượng ựạm làm nhiều lần ựể bón thì hiệu quả sử dụng ựạm của cây ngô mới cao
Theo tác giả Lê Văn Khoa , cho rằng vai trò của lân ựối với sự sống có một nghĩa lớn vì lân tồn tại trong tế bào của ựộng thực vật, nó có trong nhân tế bào, enzim, vitamin Lân tham gia vào việc tạo thành và chuyển hoá hidrat Cacbon, chất chứa nitơ, tắch luỹ năng lượng tế bào sống Lân còn ựóng vai trò quan trọng trong hô hấp và lên men Hiệu lực phân lân ựối với ngô bội thu 8 - 10
kg ngô hạt/kg P2O5, trong nhiều trường hợp hiệu lực lân không rõ hoặc làm
Trang 39giảm năng suất do kỹ thuật bón không phù hợp hoặc nhất là lượng bón lân quá cao so với lượng ựạm hoặc bón không kèm kali (Nguyễn Văn Bộ, 1993) [5]
Theo Nguyễn Vy (1998) [47], Vũ Hữu Yêm và CS (1999) [48], trên ựất phù sa Sông Hồng hiệu lực phân kali tăng dần chứng tỏ việc trồng ngô liên tục trong ựất phù sa trong ựê làm ựất kiệt dần kali Ngô rất cần bón kali, kali trong ựất rất linh ựộng, ựất trồng ngô liên tục thường bị thiếu, bởi kali có mặt chủ yếu trong thân, lá ngô sẽ bị lấy ựi khi người dân thu hoạch cây ra khỏi ruộng Trên ựất bạc màu ngô rất cần bón kali, bón ựến 150 kg/ha hiệu suất vẫn còn cao Trên ựất bạc màu, không bón kali, cây trồng chỉ hút ựược 80 -
90 kg N/ha trong khi ựó bón kali làm cây trồng hút ựược tới 120 - 150 kg N/ha (Nguyễn Văn Bộ, 2007) [7]
Theo tác giả đỗ Tuấn Khiêm (1996) [25], thắ nghiệm ở vùng đông Bắc cho thấy sử dụng các chế phẩm phân bón sinh học như Komix BFC, Thiên Nông, Agrofil có tác dụng làm tăng năng suất ngô từ 8 - 14%
Theo PGS.TS Nguyễn Tất Cảnh, ựề tài nghiên cứu sử dụng phân viên nén trong thâm canh ngô trên ựất dốc tại tỉnh Sơn La, làm tăng năng suất 17% ựối với sản xuất ngô giống và tăng 11% ựối với ngô thương phẩm
Theo hướng dẫn của Cục Trồng trọt (2006) [12], ựể ựạt năng suất ngô trên 7 tấn/ha ở các tỉnh miền Bắc, thì lượng phân bón như sau:
- đối với loại ựất tốt: 10 - 15 tấn phân chuồng; 150 - 180 kg N; 100 - 120
Trang 40áp dụng mức 200 kg N + 100 kg P205 + 100 kg K20
Nguyễn Như Hà (2006) [18]: Khi ñạm ñược bón sâu 5 – 10 cm vào tầng khử của ñất thì hiệu quả sử dụng ñạm cao hơn Bón ñạm vào tầng khử, ñạm ñược các keo ñất giữ dưới dạng NH4+, cung cấp dần cho cây, ngăn chặn việc hình thành NO3+, hiệu lực của ñạm có thể tăng lên gấp ñôi Bón ñạm sâu còn ngăn chặn việc bốc hơi NH3 vào tầng khí quyển (Nguyễn Ngọc Nông, 1999) [32] Tuy nhiên phương pháp này chỉ phù hợp cho bón lót
Theo Phạm Sỹ Tâm (Viện Lúa ñồng bằng sông Cửu Long), hiện nay, các nhà khoa học ñang tập trung chủ yếu nghiên cứu và ñề xuất hướng nghiên cứu ñể làm tăng hiệu quả của sử dụng phân bón cho cây trồng theo phương pháp như:
- Sử dụng phân urê chậm tan
- Dùng các chất phụ gia bọc urê ñể ngăn không cho urê tan nhanh trong nước
- Dùng urê viên bón chôn sâu trong ñất ñể giảm thiểu bốc hơi amonia
- Dùng các chất ức chế men ureaza hoạt ñộng ñể hạn chế thất thoát do bốc hơi amonia
- Dùng các chất ức chế vi sinh vật phản nitrat hoá hoạt ñộng ñể hạn chế thất thoát nitrat trong ñất
- Bón chia nhỏ ra làm nhiều lần, mỗi lần bón một lượng nhỏ cho cây sử dụng triệt ñể sẽ hạn chế sự thất thoát
Một trong các hướng ñó là dựa theo nguyên lý: phân ñược giải phóng chậm (CRN) có tác dụng thúc ñẩy tối ña sinh trưởng và làm giảm sự mất ñạm
ñã ñược nghiên cứu nhiều trong hai thập kỷ gần ñây