Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVN) là một loại hình doanh nghiệp không những thích hợp đối với nền kinh tế của những nước công nghiệp phát triển mà còn đặc biệt thích hợp với nền kinh tế của những nước đang phát triển. Ở nước ta trước đây, việc phát triển các DNVN cũng đã được quan tâm, song chỉ từ khi có đường lối đổi mới kinh tế do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng thì các doanh nghịêp này mới thực sự phát triển nhanh cả về số và chất lượng. Trong điều kiện của những bước đi ban đầu thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, có thể khẳng định việc đẩy mạnh phát triển DNVN là bước đi hợp quy luật đối với nước ta. DNVN là công cụ góp phần khai thác toàn diện mọi nguồn lực kinh tế đặc biệt là những nguồn lực tiềm tàng sẵn có ở mỗi người, mỗi miền đất nước. Các DNVN ngày càng khẳng định vai trò to lớn của mình trong việc giải quyết các mối quan hệ mà quốc gia nào cũng phải quan tâm chú ý đến đó là: Tăng trưởng kinh tế giải quyết việc làm hạn chế lạm phát. Nhưng để thúc đẩy phát triển DNVN ở nước ta đòi hỏi phải giải quyết hàng loạt các khó khăn mà các doanh nghiệp này đang gặp phải liên quan đến nhiều vấn đề. Trong đó khó khăn lớn nhất, cơ bản nhất, phổ biến nhất, làm tiền đề cho các khó khăn nhất đó là thiếu vốn sản xuất và đổi mới công nghệ. Vậy doanh nghiệp này phải tìm vốn ở đâu trong điều kiện tiếp cận vốn ở Việt Nam không dễ dàng và bản thân các doanh nghiệp này khó đáp ứng đủ điều kiện tham gia, tuy chính phủ đã đưa ra một số chính sách hỗ trợ các DNVN nhưng chưa thực sự hợp lý. Vì vậy phải giải quyết khó khăn về vốn cho các DNVN đã và đang là một vấn đề cấp bách mà Đảng, Nhà nước, bản thân các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng cũng phải quan tâm giải quyết. Thực tế hiện nay cho thấy nguồn vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho phát triển DNVN còn hạn chế vì các DNVN khó đáp ứng đầy đủ điều kiện vay vốn ngân hàng và khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng thì các doanh nghiệp lại sử dụng vốn chưa hợp lý và hiệu quả. Vì thế việc tìm ra giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVN đang là một vấn đề bức xúc hiện nay của các NHTM. Xuất phát từ quan điểm đó và thực trạng hoạt động của các DNVN hiện nay, sau khoảng thời gian thực tập tại chi nhánh NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Tây Hà Nội, em đã chọn đề tài: “Giải pháp tín dụng ngân hàng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Tây Hà Nội.”
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Tôi đã xây dựngchuyên đề này trên cơ sở những số liệu trung thực có nguồn gốc rõ ràng, được lấy
từ chi nhánh AGRIBANK Tây Hà Nội./
Trang 2Bảng 2.1: tình hình huy động vốn tại chi nhánh AGRIBANK Tây Hà Nội từ 2011.
2009-Bảng 2.2: Tình hình cấp bảo lãnh của chi nhánh AGRIBANK Tây Hà Nội năm2011
Bảng 2.3: tỷ trọng DNV&N/ tổng số DN có quan hệ tín dụng với AGRIBANK Tây
Hà Nội giai đoạn 2009- 2011
Bảng 2.4: tình hình vay vốn tại AGRIBANK Tây Hà Nội giai đoạn 2009- 2011.Bảng 2.5: tốc độ gia tăng doanh số cho vay DNV&N của AGRIBANK Tây Hà Nộigiai đoạn 2009- 2011
Bảng 2.6: dư nợ tín dụng của AGRIBANK Tây Hà Nội giai đoạn 2009- 2011
Bảng2.7: dư nợ tín dụng đối với DNV&N của AGRIBANK Tây Hà Nội chia theothời hạn cho vay
Bảng 2.8: dư nợ tín dụng đối với DNV&N của AGRIBANK Tây Hà Nội chia theongành kinh tế
Bảng 2.9: dư nợ tín dụng đối với DNV&N của AGRIBANK Tây Hà Nội chia theothành phần kinh tế
Bảng 2.10: tình hình thu nợ đối với DNV&N tại AGRIBANK Tây Hà Nội
Bảng 2.11: vòng quay vốn tín dụng đối với DNV&N tại AGRIBANK Tây Hà Nội
Bảng 2.12: tình hình nợ quá hạn của AGRIBANK Tây Hà Nội
Bảng 2.13: hiệu suất sử dụng vốn tại AGRIBANK Tây Hà Nội
Trang 3NHNN Ngân hàng nhà nước
NHNo & PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N) là một loại hình doanh nghiệp khôngnhững thích hợp đối với nền kinh tế của những nước công nghiệp phát triển mà cònđặc biệt thích hợp với nền kinh tế của những nước đang phát triển Ở nước ta trướcđây, việc phát triển các DNV&N cũng đã được quan tâm, song chỉ từ khi có đườnglối đổi mới kinh tế do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng thì các doanh nghịêpnày mới thực sự phát triển nhanh cả về số và chất lượng
Trong điều kiện của những bước đi ban đầu thực hiện công nghiệp hoá hiệnđại hoá đất nước, có thể khẳng định việc đẩy mạnh phát triển DNV&N là bước đihợp quy luật đối với nước ta DNV&N là công cụ góp phần khai thác toàn diện mọinguồn lực kinh tế đặc biệt là những nguồn lực tiềm tàng sẵn có ở mỗi người, mỗimiền đất nước Các DNV&N ngày càng khẳng định vai trò to lớn của mình trongviệc giải quyết các mối quan hệ mà quốc gia nào cũng phải quan tâm chú ý đến đólà: Tăng trưởng kinh tế - giải quyết việc làm - hạn chế lạm phát
Nhưng để thúc đẩy phát triển DNV&N ở nước ta đòi hỏi phải giải quyếthàng loạt các khó khăn mà các doanh nghiệp này đang gặp phải liên quan đến nhiềuvấn đề Trong đó khó khăn lớn nhất, cơ bản nhất, phổ biến nhất, làm tiền đề cho cáckhó khăn nhất đó là thiếu vốn sản xuất và đổi mới công nghệ Vậy doanh nghiệpnày phải tìm vốn ở đâu trong điều kiện tiếp cận vốn ở Việt Nam không dễ dàng vàbản thân các doanh nghiệp này khó đáp ứng đủ điều kiện tham gia, tuy chính phủ đãđưa ra một số chính sách hỗ trợ các DNV&N nhưng chưa thực sự hợp lý Vì vậyphải giải quyết khó khăn về vốn cho các DNV&N đã và đang là một vấn đề cấpbách mà Đảng, Nhà nước, bản thân các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng cũngphải quan tâm giải quyết
Thực tế hiện nay cho thấy nguồn vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho pháttriển DNV&N còn hạn chế vì các DNV&N khó đáp ứng đầy đủ điều kiện vay vốnngân hàng và khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng thì các doanh nghiệp lại sử dụng vốnchưa hợp lý và hiệu quả Vì thế việc tìm ra giải pháp tín dụng nhằm phát triển
Trang 5điểm đó và thực trạng hoạt động của các DNV&N hiện nay, sau khoảng thời gianthực tập tại chi nhánh NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN Tây Hà Nội, em đã chọn đề tài: “Giải pháp tín dụng ngân hàng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Tây Hà Nội.”
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Xem xét một cách tổng quát và có hệ thống thực trạng hoạt động sản xuấtkinh doanh của các DNV&N và việc đầu tư tín dụng của AGRIBANK cho cácdoanh nghiệp này Đồng thời đề tài cũng đưa ra một số giải pháp tín dụng nhằm gópphần phát triển DNV&N trên phạm vi hoạt động của AGRIBANK Tây Hà Nội
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Đề tài chọn hoạt động tín dụng cho các DNV&N tại chi nhánh AGRIBANKTây Hà Nội trong những năm gần đây làm đối tượng nghiên cứu
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Trong quá trình nghiên cứu, chuyên đề tốt nghiệp đã sử dụng các phươngpháp nghiên cứu khoa học để phân tích luận giải thực tiễn: Phương pháp duy vậtbiện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích hoạt động kinh tế,phương pháp tổng hợp thống kê…
5 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI.
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì chuyên đề tốt nghiệp gồm ba chương:
Chương 1: Các vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng đối với DNV&N Chương 2 Thực trạng hoạt động tín dụng đối với DNV&N tại chi nhánh AGRIBANK Tây Hà Nội.
Chương 3 Những giải pháp và kiến nghị về hoạt động tín dụng nhằm phát triển DNV&N tại chi nhánh AGRIBANK Tây Hà Nội.
CHƯƠNG I
Trang 6CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ.
1.1 Hoạt động tín dụng đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại.
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của của Doanh nghiệp Vừa và nhỏ.
1.1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp Vừa và nhỏ.
DNV&N là những DN có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanhthu DNV&N có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là DN siêu nhỏ(micro), DN nhỏ và DN vừa Theo tiêu chí của Nhóm NH Thế giới, DN siêu nhỏ là
DN có số lượng lao động dưới 10 người, DN nhỏ có số lượng lao động từ 10 đếndưới 50 người, còn DN vừa có từ 50 đến 300 lao động Ở mỗi nước, người ta cótiêu chí riêng để xác định DN nhỏ và vừa ở nước mình Ở , không phân biệt lĩnhvực kinh doanh, các DN có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao độngtrung bình hàng năm dưới 300 người được coi là Doanh nghiệp Vừa và nhỏ (không
có tiêu chí xác định cụ thể đâu là DN siêu nhỏ, đâu là nhỏ, và đâu là vừa)
1.1.1.2 Vai trò, đặc điểm của Doanh nghiệp Vừa và nhỏ
Trong nền kinh tế, chúng ta thường nói tới "Doanh nghiệp" và được chúng tahiểu một cách thông thường là những đơn vị kinh tế được thành lập bởi một cá nhânhay bởi các tổ chức, được nhà nước cho hoạt động nhằm thực hiện hoạt động kinhdoanh trong những lĩnh vực nhất định vì mục đích công ích hay lợi nhuận Sự vậnđộng của nền kinh tế nhất thiết phải có một yếu tố quan trọng đó là DN, không cóhoạt động của các DN thì nền kinh tế không thể lưu thông và hoạt động
DNV&N có vai trò lớn trong sự tăng trưởng kinh tế của rất nhiều quốc gia,
kể cả các nước phát triển và đang phát triển Trong bối cảnh đang chuyển đổi sangnền kinh tế thị trường và hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới, DNV&N đã và
Trang 7đang đóng vai trò quan trọng về nhiều mặt: Đảm bảo nền tảng ổn định và bền vữngcủa nền kinh tế; huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển; đáp ứng mộtcách linh hoạt nhu cầu của các ngành kinh tế quốc dân; cải thiện thu nhập và giảiquyết việc làm cho một bộ phận đông đảo dân cư; góp phần xoá đói, giảm nghèo,nâng cao mức sống và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng đất nước
Các hoạt động của các DNV&N đã và đang góp một phần không nhỏ vào sựphát triển của nền kinh tế quốc dân Các DN này đã tạo ra một mạng lưới liên kếtgiữa các thành phần kinh tế với nhau, thúc đẩy và lưu thông các nguồn lực sẵn cótrong xã hội như: vốn, nhân lực
Rõ ràng sự thành công của những cải cách trước đây trong thập niên 80 phầnlớn nhờ vào sự đáp ứng mạnh mẽ từ phía cung của các hộ gia đình nông nghiệp:việc bãi bỏ hình thức nông nghiệp tập thể đã nhanh chóng biến Việt Nam từ chỗthiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới Trongnhững năm gần đây, các DNV&N một lần nữa lại trở thành trung tâm của nhữngtranh luận về phát triển Lần này, sự thảo luận chủ yếu liên quan đến vấn đề tạo việclàm
Vai trò của các DNV&N gần đây cũng đã được nhấn mạnh trong cộng đồngcác nhà tài trợ Cùng với vai trò tạo việc làm của mình, có thể nói các DNV&Ncũng là nhân tố chính trong việc giảm nghèo, đặc biệt là tại khu vực nông thôn Vớiviệc giảm nghèo là mục tiêu phát triển chính yếu hiện được ưu tiên của cộng đồngcác nhà tài trợ, đang nhận được nhiều sự khích lệ trong chính sách thúc đẩy sự pháttriển DNVVN của mình
Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, số lượng DNV&N ngày càngtăng mạnh Như tên gọi của mình, DNV&N mang những đặc điểm riêng rất khácbiệt so với các DN lớn trên thị trường DNV&N mang nhưng đặc trưng cơ bản sau:
Trang 8* Các DNV&N chiếm số lượng lớn trên thị trường, và tốc độ gia tăng cao
Theo luật DN quy định, việc thành lập DNV&N yêu cầu số vốn thành lậpnhỏ, vì vậy số lượng DNV&N chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế Với ưuđiểm là vốn điều lệ thấp, điều này đã tạo một động lực to lớn cho các tổ chức kinh
tế tư nhân đứng ra thành lập DN của mình Mặt khác, từ trước đó đã tồn tại không ítcác DN nhà nước có quy mô vốn nhỏ, lao động ít như các hợp tác xã, các DN nhànước mới thành lập hoặc được tách ra…Với đặc điểm là vốn pháp định nhỏ nhưvậy, số lượng các DNV&N đã chiếm phần lớn về số lượng trong nền kinh tế và cótốc độ gia tăng cao
* Các DNV&N có quy mô vốn nhỏ, lao động ít
Mặc dù tăng nhanh về số lượng nhưng nếu xét về quy mô vốn của cácDNV&N trong những năm gần đây thì lại rất thấp, mới ở mức trung bình trên 2 tỷđồng/DN Theo quy định của Luật DN, DNV&N là các DN có số vốn pháp địnhkhông vượt quá 10 tỷ, có số lao động trung bình hàng năm không vượt quá 300 laođộng Với số vốn nhỏ như vậy, các DN gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng thịtrường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và nhất là khó khăn trong việc cạnhtranh với các DN lớn sản xuất cùng một loại sản phẩm trong thị trường Nhất là khinền kinh tế có biến động lớn Ví dụ biến động về đầu vào, DNV&N khó có khảnăng chống đỡ và dễ dẫn đến bị phá sản Đồng thời, với số lao động ít, các DNV&N
sẽ gặp nhiều cản trở trong quá trình sản xuất kinh doanh và mở rộng sản xuất kinhdoanh
* Đa số các DNV&N là các DN ngoài quốc doanh
Các DNV&N chủ yếu là các DN tư nhân (chiếm khoảng 80%) do đặc điểm
về quy mô vốn và số lượng lao động nhỏ Điều này tạo khó khăn cho việc quản lýcác DNV&N Nhất là đối với các DN tư nhân hoạt động linh hoạt nhưng kém hiệuquả Các DN tư nhân thường khi thành lập và trong quá trình hoạt động chưa cómột tầm nhìn chiến lược hoạt động cho DN của mình Và trong khi vận hành sản
Trang 9xuất kinh doanh, khi có biến cố xảy ra thì không có kinh nghiệm chống đỡ hoặckhông đủ khả năng chống đỡ, dẫn đến thua lỗ hoặc nặng hơn là phá sản Việc quản
lý các DN tư nhân cũng rất khó khăn Nhiều DN còn cố tình làm ăn phi pháp, cốtình trốn thuế và không thực hiện đúng chế độ kế toán thống kê Để quản lý tốt cácDNV&N, đòi hỏi một sự theo dõi sát sao và thực sự có hiệu quả Như vậy có thểmới kiểm soát được hoạt động của loại hình DN này
* Kinh nghiệm hoạt động còn chưa nhiều
Không kể các DNV&N của nhà nước đã thành lập lâu đời và hoạt động ổnđịnh, đa số các DNV&N đều là các DN tư nhân được thành lập trong hoặc sau thời
kỳ mở cửa nền kinh tế hoặc là các DN Nhà nước vừa được tách ra Với nhữngDNV&N thành lập khá lâu mà hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, có hiệu quả, họ sẽdần dần mở rộng nguồn vốn của mình và đứng vào hàng ngũ những DN lớn Nhưvậy, kinh nghiệm hoạt động của loại hình DN này chưa nhiều Với số vốn ít và bềdày kinh nghiệm hạn chế, các DNV&N gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt độngsản xuất kinh doanh, chống đỡ với những thay đổi trong quá trình hoạt động củamình
* Trình độ công nghệ và phương pháp quản lý lạc hậu
Đây là vấn đề nổi cộm đối với tổng thể các DN của nước ta do đặc điểm nềnkinh tế chưa thực sự phát triển Ở DN hiện nay, một thực trạng phổ biến trong cácDNV&N là hệ thống máy móc, thiết bị lạc hậu, khoảng 10-15 năm trong ngành điện
tử, 15 năm đối với ngành cơ khí, 70% công nghệ ngành dệt may đã sử dụng được
15 năm Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị trung bình hàng năm của DNV&N chỉ ở mức 7% so với 20% của thế giới Công nghệ lạc hậu làm tăng chi phí tiêu hao 1,5 lần sovới định mức tiêu chuẩn của thế giới Thực trạng này dẫn đến tăng chi phí đầu vào,cao hơn từ 30 - 50% so với các nước ASEAN, đồng thời dẫn đến chất lượng sảnphẩm giảm, giá thành cao và năng suất thấp
Trang 105-* Các DNV&N hoạt động linh hoạt, năng động
Trong nền kinh tế, các DNV&N là những thành phần hoạt động linh hoạtnhất Với mỗi thay đổi nhỏ nhất của nền kinh tế, các DNV&N đều chịu tác động vàphải điều chỉnh hoạt động của mình để phù hợp với mỗi biến đổi đó Với tính năngđộng như vậy, các DNV&N đã đạt được hiệu quả trong hoạt động của mình và đónggóp không nhỏ vào nền kinh tế Sự đa dạng về loại hình hoạt động, phương thứcquản lý, sản phẩm của các DNV&N giúp cho họ đứng vững được trong thị trường
1.1.2 Hoạt động tín dụng đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại
Tín dụng là quan hệ vay mượn, gồm cả đi vay và cho vay Tuy nhiên tíndụng khi gắn với chủ thể là ngân hàng thì TDNH nghĩa là ngân hàng cho vay
Tín dụng được xem xét là một chức năng cơ bản của NH, vì vậy trên cở sởtiếp cận theo chức năng hoạt động của NH thì tín dụng có thể được hiểu như sau :
Tín dụng là một quan hệ về tài sản (tiền hoặc tài sản) giữa bên cho vay(Ngân hàng) và bên đi vay (Doanh nghiệp Vừa và nhỏ), trong đó bên cho vaychuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoảthuận, đồng thời bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi chobên cho vay khi đến hạn thanh toán
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của NH, chiếm tỷ trọng cao nhất trongtổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất Ở các nước trên thế giới thì hoạt động tíndụng chiếm 50-60% lợi nhuận, còn ở Việt Nam thì chiếm tới 60-70% Song songvới hoạt động huy động vốn, tín dụng tạo ra nguồn lợi nhuận chính duy trì hoạtđộng của NH
Các hoạt động tín dụng đối với DNV&N của Ngân hàng thương mại.
Hoạt động TDNH được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau NH tiến
Trang 11hành phân loại tín dụng để dễ quản lý các khoản tín dụng và nhằm đa dạng hoá tíndụng nhằm thoả mãn nhu cầu của DN Phân loại tín dụng để NH quyết định lãi suấtcho vay, cũng như loại hình cho vay thích hợp với mỗi loại tín dụng khác nhau.
Việc xác định phương thức cho vay có một ý nghĩa rất quan trọng của quátrình cấp tín dụng cho DN Nếu xác định đúng phương thức cho vay cho từng DN
từ đó sẽ tạo ra yếu tố tích cực giúp cho DN thuận lợi trong quá trình giao dịch, chủđộng về tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh và thuận lợi để thực hiệnphương án sản xuất kinh doanh, khuyến khích được DN về quan hệ vay vốn với
NH NH có thể chủ động trong việc cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn Nếuxác định sai phương thức cho vay sẽ dẫn đến NH không kiểm soát chặt chẽ được sốvốn cho vay làm tăng rủi ro tín dụng, không khuyến khích được DN vay vốn
Hiện nay các NH thường áp dụng các phương thức cho vay sau:
* Cho vay thấu chi
Cho vay thấu chi là nghiệp vu cho vay qua đó NH cho phép người vay đượcchi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trongkhoảng thời gian xác định Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi
Để được thấu chi, DN làm đơn xin NH hạn mức thấu chi và thời gian thấuchi (có thể phải trả phí cam kết cho NH ) Trong quá trình hoạt động, DN có thể kýséc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ… vượt số dư tiền gửi để chi trả (song trong hạn mứcthấu chi ) Khi DN có tiền nhập về tài khoản tiền gửi, NH sẽ thu nợ gốc và lãi Sốlãi mà DN phải trả là :
Số lãi phải trả = Lãi suất thấu chi x Thời gian thấu chi x Số tiền thấu chi
Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử dụnghình thức này Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của DN không phù hợp về thờigian và quy mô Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào dự đoán ngânquỹ song không chính xác Do vậy, hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợi
Trang 12cho DN trong quá trình thanh toán, chủ động, kịp thời.
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn
là không có đảm bảo, có thể cấp cho cả DN lẫn cá nhân vài ngày trong tháng, vàitháng trong năm, dùng để trả lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng… Hình thứcnày nhìn chung chỉ sử dụng đối với DN có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳthu nhập ngắn
* Cho vay trực tiếp từng lần
Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của NHđối với các DN không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để đượccấp hạn mức thấu chi Một số DN sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại
là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay NH,tức là vốn từ NH chỉ tham gia vào một giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinhdoanh
Mỗi lần vay, DN phải làm đơn và trình NH phương án sử dụng vốn vay NH
sẽ phân tích phương án và ký hợp đồng cho vay, xác định mức cho vay, thời hạngiải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần Mỗi món vay đượctách biệt nhau thành các hồ sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau
Nhu cầu vay
Trang 13Mức cho vay= (Giá trị tài sản đảm bảo x Tỷ lệ cho vay trên giá trị TSBĐ)Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, NH sẽ thu gốc và lãi Trong quá trình
DN sử dụng tiền vay, NH sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng, nếu thấy códấu hiệu vi phạm hợp đồng, NH sẽ thu nợ trước hạn, hoặc chuyển nợ quá hạn Lãisuất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản NH có thể kiểm soát từngmón vay tách biệt Tiền cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo
* Cho vay theo hạn mức
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó NH thoả thuận cấp cho DN hạn mức tíndụng Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ Đó là số dư tối đa tạithời điểm tính
Mỗi lần vay, DN chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp cácchứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay Sau khi kiểmtra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, NH sẽ phát tiền cho DN
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những DN vay mượn thường xuyên,vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh Trong nghiệp vụnày, NH không ấn định trước ngày trả nợ Khi DN có thu nhập, NH sẽ thu nợ, do đótạo chủ động quản lý ngân quỹ cho DN Tuy nhiên, do các lần vay không tách biệtthành các kỳ hạn nợ cụ thể nên NH khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay
NH chỉ có thể phát hiện vấn đề khi DN nộp báo cáo tài chính, hoặc dư nợ lâu khônggiảm sút
* Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên sự luân chuyển của hànghoá DN khi mua hàng có thể thiếu vốn NH có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu
nợ khi DN bán hàng Đầu năm hoặc đầu quý, người vay phải làm đơn xin vay luân
Trang 14chuyển NH và DN thoả thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, cácnguồn cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ Hạn mức tín dụng có thể được thoảthuận trong 1năm hoặc vài năm Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn
NH xem xét lại mối quan hệ giữa NH và DN cũng như tình hình tài chính của DN
Việc cho vay dựa trên luân chuyển hàng hoá nên cả NH và DN đều phảinghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá để dự đoán dòng ngân quỹ trong thờigian tới
Khi vay, DN chỉ cần gửi đến NH các chứng từ hoá đơn nhập hàng và số tiềncần vay NH cho vay và trả tiền cho người bán Theo hình thức này, giá trị hàng hoámua vào (có hoá đơn, hợp pháp, hợp lệ, đúng đối tượng) đều là đối tượng được NHcho vay; thu nhập bán hàng đều là nguồn để chi trả cho NH Ngân hàng sẽ cho vaytheo tỷ lệ nhất định tuỳ theo khối lượng và chất lượng quan hệ nợ nần của ngườivay Các khoản phải thu và cả hàng hoá trong kho trở thành vật đảm bảo cho khoảncho vay Cho vay luân chuyển thường được áp dụng đối với các DN thương nghiệphoặc DN sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyênvới NH
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho DN Thủ tục cho vay chỉ cần thựchiện 1 lần cho nhiều lần vay DN được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, vì vậy việcthanh toán cho người cung ứng sẽ nhanh gọn
Nếu DN gặp khó khăn trong tiêu thụ thì NH sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn
do thời hạn của khoản vay không được quy định rõ ràng
* Cho vay trả góp
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó NH cho phép DN trả gốc làmnhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận Cho vay trả góp thường được ápdụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định và tài sảnlâu bền Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với khả năng trả nợ
Trang 15(thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế của DN, hoặc từ thu nhập hàng kỳ củangười tiêu dùng).
* Cho vay gián tiếp
Phần lớn cho vay của NH là cho vay trực tiếp Bên cạnh đó NH cũng pháttriển các hình thức cho vay gián tiếp Đây là hình thức cho vay thông qua các tổchức trung gian
NH cho vay qua các tổ, đội, hội, nhóm như nhóm sản xuất, hội nông dân, hộicựu chiến binh, hội phụ nữ… Các tổ chức này thường liên kết các thành viên theomột mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ quyền lợi cho mỗithành viên Vì vậy, việc phát triển kinh tế, làm giàu, xoá đói giảm nghèo luôn đượccác tổ chức này rất quan tâm
NH có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chứctrung gian, như thu nợ, phát tiền vay… Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra bảođảm cho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh cho mộtthành viên vay Điều này rất thuận tiện khi người vay không có hoặc không đủ tàisản thế chấp
NH cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vào củaquá trình sản xuất Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người vay sử dụng tiềnsai mục đích
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vaynhỏ, người vay phân tán, cách xa NH Trong trường hợp như vậy, cho vay qua trunggian có thể tiết kiệm chi phí cho vay
Cho vay qua trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của NH Tuy nhiên
nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế của mình đểtăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên khác cho riêng
Trang 16mình Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượng hoặc với giá đắtcho người vay vốn.
1.2 Chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại.
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng.
Thứ nhất: Chất lượng hoạt động tín dụng xét từ giác độ NHTM
Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phùhợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân NH và phải đảm bảođược sự cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.Chất lượng hoạt động tín dụng phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý và gia tăng,
dư nợ ngày càng tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo đúng quy định và hợp lý,đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữa ngắn hạn,trung và dài hạn trong nền kinh tế
Thứ hai: Chất lượng hoạt động xét từ giác độ khách hàng
Thông qua quan hệ lâu dài với khách hàng, sự am hiểu khách hàng sẽ làmcho NH hiểu rõ nhu cầu tín dụng của NH, đảm bảo thoả mãn nhu cầu hợp lý về vốncho họ Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, chất lượng là yêu cầu hàng đầu, vì vậychất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý của khách hàng, lãi suất hợp lý,thủ tục đơn giản không phiền hà, thu hút được khách hàng nhưng vẫn đảm bảo đúngnguyên tắc và quy định của tín dụng, phù hợp với tốc độ phát triển của xã hội, đảmbảo sự tồn tại và phát triển của NH, góp phần làm lành mạnh tài chính khách hàng
Thứ ba: Chất lượng tín dụng xét từ giác độ nền kinh tế
Hoạt động tín dụng trong những năm gần đây phản ánh rõ nét sự năng độngcủa nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế mới Nhiều khái niệm mới với những nộidung mới để đạt được sự thống nhất, về nhận thức và tạo điều kiện nâng cao chấtlượng hoạt động tín dụng
Trang 17Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động, tăngthêm sản phẩm cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế và khai thác khả năng tiềm
ẩn trong nền kinh tế, thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nước, tranh thủ vayvốn nước ngoài có lợi cho nền kinh tế phát triển
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại.
Có nhiều chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng TDNH, trong đó có các chỉtiêu cơ bản sau:
1.2.2.1 Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu.
Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu và tổng dư nợ của NHTM ở mộtthời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm Chỉ tiêu này đượctính theo công thức (1.1) dưới đây:
Tỷ lệ nợ xấu
* Khái niệm nợ xấu:
Nếu chỉ dựa vào chỉ tiêu nợ quá hạn thì chưa đánh giá chính xác về chất lượng tíndụng của các NH Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 củaThống đốc Ngân hàng Nhà Nước “V/v Ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập
và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của TCTD” đãđánh giá chính xác hơn chất lượng tín dụng của các TCTD Theo Quyết định 493 thì
nợ xấu là nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 theo cách phân loại nợ dưới đây
Trang 18của quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định
số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 Trong đó điều chỉnh kỳ hạn nợ là việc
NH chấp thuận thay đổi kỳ hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi vay trong phạm vi thời hạncho vay đã thoả thuận tại HĐTD; gia hạn nợ vay là việc NH chấp thuận kéo dàithêm một khoảng thời gian trả nợ gốc và/hoặc lãi vay vượt quá thời hạn cho vay đãthoả thuận trong HĐTD và chất lượng tín dụng được thể hiện là tỷ lệ nợ quá hạntrên tổng dư nợ
Việc phân loại nợ quá hạn theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN đã cónhiều thay đổi nhưng việc phân loại nợ quá hạn vẫn còn dựa vào tiêu chí thời gianquá hạn của khoản vay chứ chưa tính đến tiêu chí rủi ro của khoản vay nên chưaphản ảnh chính xác chất lượng của hoạt động tín dụng
Theo Quyết định số: 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốcNgân hàng Nhà nước “V/v Ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng
dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng” vàquyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhànước “V/v sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và
sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của tổ chức tín dụngban hành theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005” thì dư nợ củacác tổ chức tín dụng được chia làm 05 nhóm, cụ thể:
Nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi
đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn; Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tíndụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủgốc và lãi đúng thời hạn còn lại; Các khoản nợ của DN trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo
kỳ hạn đã được cơ cấu lại tối thiểu trong vòng 01 năm đối với các khoản nợ trung
và dài hạn, 03 tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn và các kỳ hạn tiếp theo đượcđánh giá là có khả năng trả đầy đủ nợ gốc, lãi đúng hạn theo thời hạn đã được cơ
Trang 19cấu lại thì phân loại vào nợ nhóm 1 Trường hợp một DN có nợ cơ cấu lại bao gồm
nợ ngắn hạn và nợ trung, dài hạn thì chỉ xem xét đưa vào nợ nhóm 01 khi DN đã trảđầy đủ (nợ ngắn hạn và nợ trung, dài hạn) cả gốc và lãi số nợ đã được cơ cấu lạitrong thời gian quy định trên, đồng thời các kỳ hạn tiếp theo được đánh giá là cókhả năng trả đầy đủ nợ gốc, lãi đúng hạn đã được cơ cấu lại
Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Các khoản nợ điều chỉnh kỳhạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là DN, tổ chức thì TCTD phải có hồ sơ đánhgiá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điềuchỉnh lần đầu)
Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại cóthời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loạivào nhóm 2; Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khảnăng trả lãi đầy đủ theo HĐTD
Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm:
Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả
nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ
cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai
Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợlần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu;Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợđược cơ cấu lại lần thứ hai; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trởlên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý
Trang 201.2.2.2 Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn.
Chỉ tiêu này được tính theo công thức dưới đây:
Hiệu suất sử dụng vốn = Tổng dư nợ
Tổng vốn huy độngChỉ tiêu này giúp các nhà phân tích so sánh khả năng cho vay của NH vớikhả năng huy động vốn, đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn huy động.Thông thường theo cách nhìn của nhiều người, chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ NH
sử dụng nhiều vốn huy động và hoạt động của NH sẽ hiệu quả hơn, điều này sẽkhông đúng Vậy tỷ lệ này lớn tốt hay nhỏ tốt? Chúng ta chưa thể khẳng định được,bởi nếu tiền gửi ít hơn tiền cho vay thì NH phải tìm kiếm nguồn vốn có chi phí caohơn, còn nếu tiền gửi nhiều hơn tiền cho vay thì NH sẽ rơi vào tình trạng thừa vốn
Do đó, chỉ tiêu này chỉ mang tính tương đối giúp chúng ta so sánh khả năng cho vay
và huy động vốn của một NH
1.2.2.3 Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Được xác định bằng doanh số thu nợ trên dư nợ bình quân của một NHTMtrong thời gian nhất định, thường là một năm
Chỉ tiêu này được tính theo công thức:
Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số thu nợ
Dư nợ bình quânĐây là chỉ tiêu phản ánh số vòng chu chuyển của vốn vay (thường là 1 năm).Chỉ tiêu này càng tăng thì tính tổ chức, quản lý tín dụng càng tốt, chất lượng chovay càng cao Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ phản ánh một cách tương đối, vì nếu mộtNHTM này cho vay các DN sản xuất chiếm tỷ trọng lớn dư nợ, thì chỉ tiêu này thấphơn NHTM khác cho vay các DN thương mại Như vậy, không vì thế mà chất
Trang 21lượng cho vay của NHTM này kém hơn Từ thực tế trên, để có nét tương đối chínhxác về chất lượng tín dụng thì các tiêu thức tính toán phải thống nhất, vòng quay tíndụng phải tính toán cho từng loại vay, thời hạn vay và từng đối tượng vay cụ thể.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ.
1.3.1 Các nhân tố chủ quan.
* Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là một hệ thống biện pháp có liên quan đến việc khuếchtrương tín dụng hoặc hạn chế tín dụng để đạt được mục tiêu đã hoạch định củaNHTM đó
Do đó, việc hoạch định chính sách tín dụng có ý nghĩa quyết định đến sựthành công hay thất bại của mỗi NH Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hútđược nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng dựa trên
cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ chấp hành đúng luật pháp và đường lối của NHNN,đảm bảo công bằng xã hội Bất kỳ một NH nào muốn nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa mình thì phải có chính sách tín dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của NH
* Công tác tổ chức NH
Để tạo điều kiện cho việc quản lý có hiệu quả các nguồn vốn tín dụng thì cần
có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban, có sự thống nhất đoàn kết từ trênxuống, từ ban lãnh đạo đến cán bộ công nhân viên Điều đó có ý nghĩa là công tác
tổ chức NH được thực hiện tốt chính là cơ sở tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lànhmạnh Hơn nữa thực hiện tốt công tác này, NH đã làm cho guồng máy của mìnhhoạt động một cách uyển chuyển linh hoạt Chính vì vậy, trong quá trình hoạt động
NH nên luôn chú trọng công tác này để ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn
Trang 22* Thông tin tín dụng
Cho vay không phải là một vấn đề đơn giản Trên thực tế không phải DN nàocũng sử dụng vốn vay có hiệu quả và đúng mục đích Đó là chưa nói tới những kẻmạo danh, mạo nhận là DN để cho vay trái phép, chiếm dụng vốn bất hợp pháp, gâyrủi ro và tổn thất cho NH Vì vậy, hoạt động tín dụng muốn đạt hiệu quả cao, antoàn cần phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ cho công tác này Nắm bắt kịpthời và chính xác luồng thông tin là điều kiện để xem xét, phân tích, nhằm tìm ra cơhội tốt nhất trong kinh doanh cũng như đề phòng những rủi ro có thể xẩy ra trong cáchoạt động của NH
* Chất lượng đào tạo cán bộ NH
Chất lượng cán bộ là "cơ sở vật chất" để thực hiện những kế hoạch kinhdoanh trong cơ chế thị trường thường xuyên thay đổi và có nhiều biến động nhưhiện nay Do vậy trong quá trình tuyển chọn cán bộ NH cần phải ưu đãi nhữngngười có tư cách đạo đức tốt, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, năng động sáng tạo.Trong quá trình hoạt động thường xuyên tiến hành đào tạo và đào tạo lại cán bộ đểnâng cao chất lượng cán bộ, đảm bảo quá trình thực thi nhiệm vụ được nhanhchóng, chính xác, linh hoạt trong xử lý những sai sót có thể xẩy ra
Một NH có đội ngũ cán bộ được đào tạo với chất lượng, trình độ chuyên môngiỏi thì việc quản lý thực hiện các nghiệp vụ tín dụng NH nói riêng và các nghiệp
vụ NH nói chung sẽ trở nên quy củ, có hệ thống và đạt hiệu quả cao hơn Ngoài ra,
nó còn giúp cho NH tránh được các rủi ro có thể xẩy ra
* Những vấn đề thuộc về kiểm tra, thanh tra, kiểm soát
Mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, tăng cường cho vay mà không tính đếnrủi ro, bất trắc có thể xảy ra thì sẽ dễ dàng dẫn đến sự sụp đổ giải thể của mỗi NH
Trang 23Một trong những hoạt động có mục đích cho NH tránh được những rủi ro
đó là công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát Công tác này không chỉ được thựchiện đối với khách hàng (như kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay) mà cònđược thực hiện đối với bản thân NH (như quy trình thực hiện cho vay, quá trìnhquản lý vốn vay, loại trừ cán bộ mất phẩm chất có hiện tượng tham ô, thamnhũng gây thất thoát tài sản làm mất uy tín của NH đối với khách hàng
Nâng cao chất lượng tín dụng cũng đồng thời là NH phải kịp phát hiện vàngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật có ảnh hưởng đến hoạt động của NH.Muốn vậy, việc đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực trình độ và trách nhiệm thựchiện công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát là một vấn đề mà không NH nào đượccoi nhẹ
1.3.2 Nhân tố khách quan.
* Yếu tố con người
Nhân tố con người: bao gồm đạo đức của khách hàng, mục tiêu kinh doanh,nhiệm vụ, động cơ của người vay
Những thông tin sai trái về người vay là một dấu hiệu nguy hiểm ảnh hưởngđến chất lượng tín dụng, ảnh hưởng đến hiệu quả của người vay
Một nhân tố khác không kém phần quan trọng là tính quyết tâm trong kinhdoanh của khách hàng Một người vay có tính quyết tâm cao sẽ là một điều kiệngiúp cho phương án kinh doanh có thể thắng lợi từ đó có nguồn trả nợ cho NH đúnghạn và đầy đủ, chất lượng tín dụng của NH sẽ được đảm bảo và uy tín của NH đượcnâng cao
Năng lực quản lý kinh doanh của khách hàng cũng là một dấu hiệu cho khảnăng đảm bảo chất lượng tín dụng của NH Một nhà quản trị kinh doanh tốt là mộtngười quản lý tốt đồng tiền vào ra của DN, kiểm soát được các chi phí, nhận biết
Trang 24các cơ hội kiếm lời và đưa ra các quyết định kinh doanh chính xác, từ đó kiếm đượclợi nhuận, có nguồn để trả nợ cho NH.
* Uy tín và khả năng tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng
NH sẽ chỉ đồng ý cho vay nếu khách hàng chứng tỏ được khả năng tài chính
và khả năng trả nợ của mình đối với NH NH không dám mạo hiểm cho vay đối vớikhách hàng nào mà uy tín bị giảm sút, khả năng tài chính đang có vấn đề Vì vậyTSBĐ là một đòi hỏi của NH để đáp ứng cho nguồn trả nợ thứ hai bổ sung cho mónvay Giá trị tài sản ảnh hưởng trực tiếp đến số tiền mà khách hàng được vay, vì NHcăn cứ vào giá trị TSBĐ để xác định số tiền cho vay tối đa chỉ được 70% giá trịTSBĐ (nếu như không có quy định khác)
* Tính khả thi của dự án vay vốn
Khi dự án có khả thi thì CBTD sẽ dựa vào đó để quyết định cho vay, quy môtín dụng sẽ được mở rộng Đây còn là yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng món vay,ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của NH
Mặt khác, nếu DN sử dụng vốn vay sai mục đích hoặc sử dụng vốn vay ngắnhạn cho đầu tư sản xuất cố định hoặc kinh doanh bất động sản thì sẽ không thu hồikịp vốn để hoàn trả đúng hạn, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tín dụng
1.3.3 Những nhân tố khác.
* Môi trường kinh tế
Để NH có thể huy động được nhiều vốn mở rộng hoạt động tín dụng phục vụcho việc phát triển kinh tế thì cần có một nền kinh tế ổn định Một nền kinh tế pháttriển ổn định, sẽ giúp cho NH mở rộng quy mô hoạt động của mình, làm giá cả luôngiữ ở mức ổn định, tránh được tình trạng lạm phát hoặc giảm phát
NH sẽ khó tránh khỏi rủi ro nếu nền kinh tế không ổn định, chu kỳ kinh tế có
Trang 25trường bị suy thoái, sản xuất bị đình trệ, kinh doanh bị thu hẹp thì nhu cầu vốn tíndụng giảm và nếu vốn tín dụng đã được thực hiện thì cũng khó có thể sử dụng cóhiệu quả hay khó có thể trả nợ đúng hạn cho NH Ngược lại, thời kỳ nền kinh tếhưng thịnh SXKD được mở rộng dẫn đến nhu cầu về vốn tăng, từ đó chất lượng tíndụng được nâng lên, giảm bớt rủi ro tín dụng Như vậy, chu kỳ kinh tế ảnh hưởngnhiều đến hiệu quả của các khoản vốn tín dụng NH.
Ngoài ra, các chính sách và sự điều tiết của các cơ quan có thẩm quyền ở mỗingành, mỗi vùng đều có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
* Môi trường Chính trị - Xã hội
Khách hàng và NH thực hiện quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở tín nhiệm giữahai bên Vì vậy sự tín nhiệm là cầu nối mối quan hệ giữa NH và khách hàng Uytín của NH trên thị trường ngày càng cao thì sẽ thu hút được lượng khách hàngngày càng đông Mối quan hệ xã hội thể hiện cụ thể giữa NH và khách hàng lànhân tố không kém phần quan trọng quyết định tới quy mô, phạm vi hoạt độngcủa mỗi NH, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng
Nhân tố chính trị cũng có ảnh hưởng khá nhiều tới hoạt động tín dụng Thậtvậy, một quốc gia không có sự biến động về chính trị hay không xảy ra chiến tranh
là điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài bởi các nhà đầu tư nước ngoàikhông chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn chú trọng tới an toàn của vốn đầu tư.Tình hình kinh tế chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tếđất nước Riêng đối với NH, nó có ảnh hưởng tới việc huy động, cho vay và đầu tưvốn của NH Điều đó có ý nghĩa là nhân tố này ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng
* Môi trường pháp lý
Trang 26Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động NH nói chung vàchất lượng tín dụng nói riêng.
Pháp luật là bộ phận không thể thiếu được ở bất kỳ một nền kinh tế nào.Không có pháp luật hoặc các chính sách ban hành không phù hợp sẽ khiến cho nềnkinh tế gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, nếu hệ thống pháp luật ban hành khôngđầy đủ, không đồng bộ, các văn bản dưới luật còn nhiều mâu thuẫn trong khi thựchiện và chưa thật phù hợp với các ban ngành, các đơn vị có liên quan đến hoạt độngtín dụng thì có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng
Pháp luật sẽ tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh cho mọi hoạt động SXKDcủa các DN thuộc mọi thành phần kinh tế tiến hành thuận tiện và đạt kết quả cao
Nó còn là cơ sở pháp lý để giải quyết mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế Các
DN cũng như NH phải tuân thủ những quy định nghiêm chỉnh của pháp luật thì hiệuquả và lợi ích sẽ được đảm bảo Môi trường pháp luật này luôn được điều chỉnh, bổsung hoàn thiện hơn để nó ngày càng phù hợp hơn với sự phát triển chung của nềnkinh tế, trong đó có hệ thống NH
* Các nhân tố khác
Ngoài những nhân tố nêu trên, hiệu quả của công tác cho vay của NH cònchịu ảnh hưởng nhiều của nhân tố chủ quan, khách quan khác như: Thái độ phục vụkhách hàng, đạo đức xã hội, trang thiết bị phục vụ hoạt động hay những yếu tố môitrường như thời tiết, bệnh dịch , và các biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 27CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH AGRIBANK TÂY
HÀ NỘI.
2.1 Khái quát về chi nhánh AGRIBANK Tây Hà Nội.
2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển.
Với mục tiêu phát triển bền vững, từng bước củng cố và nâng cao vị thế vàvai trò của AGRIBANK đối với sự nghiệp hiện đại hóa công nghiệp đất nước Từđầu năm 2000, AGRIBANK đã có những bước chuyển biến rất rõ rệt trong việc xácđịnh chiến lược kinh doanh, xác định thị trường, thị phần Quá trình xây dựng vàthực thi chiến lược kinh doanh tại các đô thị loại 1 nhằm thu hút nguồn vốn, hiệnđại hóa công nghệ, triển khai ứng dụng các dịch vụ ngân hang hiện đại đã cho thấyvới định hướng đúng đắn, giải pháp phù hợp, AGRIBANK đã thu được những kếtquả khả quan, tạo nên sức mạnh mới, vị thế mới trong hoạt động ngân hàng trongnước và quốc tế Trong khi đó, khu vực phía tây Hà Nội là nơi phát triển, thu hútnhiều doanh nghiệp có tiềm năng lớn như: tổng công ty vật tư nông nghiệp, tổngcông ty cà phê, công ty xây dựng số 3… Ngoài ra còn có các doanh nghiệp làm kinh
tế của quân đội đang chiếm tỷ lệ đáng kể trên địa bàn Nhìn chung các nhà máy, xínghiệp đang có xu hướng chuyển dần sang khu vực ven đô phía Tây Để đáp ứngcho nhu cầu phát triển kinh tế của thủ đô nói chung và nhu cầu phát triển kinhdoanh của các thành phần kinh tế trên địa bàn nói riêng, đòi hỏi hoạt động của cácngân hàng hiện đại Trong hoàn cảnh đó chi nhánh AGRIBANK Tây Hà Nội đượcthành lập và đi vào hoạt động để khai thác tiềm năng kinh tế tại chỗ, thực hiện chứcnăng trung gian tín dụng, cung cấp các dịch vụ tiên tiến hiện đại cho các thành phầnkinh tế trong xã hội trong khu vực nói riêng và Hà Nội nói chung
Trang 28Ngày 5/6/2003, chi nhánh AGRIBANK Tây Hà Nội được thành lập theoquyết định số 126/QĐ-HĐQT-TCCB của chủ tịch HĐQT AGRIBANK và chínhthức đi vào hoạt động ngày 21/7/2003 AGRIBANK Tây Hà Nội là chi nhánh cấp 1trực thuộc AGRIBANK.
Tên chính thức: chi nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Tây HàNội
Tên giao dịch bằng tiếng anh: Vietnam Bank for Agriculture and Rural
Development
Địa chỉ liên hệ: Lô A1K phố Duy Tân, quận Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Điện thoại: 04.5332243 Fax: 04.5332242 SWIFT CODE: VBAAVNVX421
Theo pháp lệnh ngân hàng nhà nước và điều lệ hoạt động của AGRIBANK, AGRIBANK Tây Hà Nội có những chức năng và nhiệm vụ chủ yếu sau:
Huy động vốn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ với nhiều hình thức, mở tài khoảntiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu…
Đầu tư vốn tín dụng bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ đối với các thành phần kinhtế
Làm đại lý và dịch vụ ủy thác cho các tổ chức tài chính, tín dụng và cá nhân trong
và ngoài nước như tiếp nhận và triển khai các dự án, dịch vụ giải ngân cho các dự
án, thanh toán thẻ tín dụng, séc du lịch…
Làm đại lý nhận lệnh cho công ty chứng khoán – AGRIBANK
Thực hiện thanh toán bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ như: chuyển tiền điện tửtrong nước, thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT…
Chi trả kiều hối, mua bán ngoại tệ, chiết khấu, cho vay cầm cố các chứng từ có giá.Bảo lãnh bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ dưới nhiều hình thức khác nhau trongnước và ngoài nước
Thực hiện các dịch vụ khác theo giấy phép kinh doanh
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của AGRIBANK Tây Hà Nội.
Trong nhiều năm qua, cùng với sự mở rộng của hệ thống AGRIBANK và sự
Trang 29hướng mở rộng hơn, nhiều phòng ban mới, nhiều chi nhánh mới, số lượng cán bộcông nhân viên cũng nhiều hơn nhằm đáp ứng được yêu cầu mới.
Cơ cấu tổ chức của chi nhánh AGRIBANK Tây Hà Nội được bố trí theo mô hìnhsau:
Trang 30Trong công tác xây dựng, ổn định mô hình tổ chức, chi nhánh AGRIBANKTây Hà Nội luôn coi trọng đội ngũ cán bộ, luôn bồi dưỡng nâng cao phẩm chất nănglực chuyên môn, năng lực quản lý điều hành và coi đó là nhiệm vụ trọng tâm hàngđầu.
Riêng phòng tín dụng có chức năng nhiệm vụ như sau:
Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng tín dụng, phân loại khách hàng
và đề xuất các chính sách ưu đãi đối với từng loại khách hàng nhằm mở rộng theohướng đầu tư tín dụng khép kín: sản xuất, chế biến, tiêu thụ xuất khẩu, và gắn tíndụng sản xuất, lưu thông và tiêu dùng
Phân tích kinh tế theo ngành, nghề kinh tế kỹ thuật, danh mục khách hànglựa chọn biện pháp cho vay an toàn và đạt hiệu quả cao
Thẩm định và đề xuất cho vay các dự án tín dụng trung hạn và dài hạn theo phâncấp ủy quyền
Thẩm định các dự án, hoàn thiện hồ sơ trình AGRIBANK cấp trên theo phâncấp ủy quyền
Tiếp nhận thực hiện các chương trình, dự án thuộc nguồn vốn trong nước,nước ngoài Trực tiếp làm dịch vụ ủy thác nguồn vốn thuộc chính phủ, bộ, ngànhkhác và các tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước
Xây dựng và thực hiện các mô hình tín dụng thí điểm, thử nghiệm trong địabàn và ngoài địa bàn, đồng thời theo dõi, đánh giá, sơ kết, tổng kết, đề xuất tổnggiám đốc AGRIBANK cho phép nhân rộng và thiết lập quan hệ tín dụng với kháchhàng ngoài địa bàn
Từ việc xây dựng hướng đi, mặc dù hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệpnhưng ngân hàng đang có xu hướng phát triển tín dụng đối với các doanh nghiệpsản xuất kinh doanh vừa và nhỏ, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh làm đối tượngphục vụ chủ yếu Ngoài ra AGRIBANK Tây Hà Nội còn chọn lọc các hộ kinhdoanh cá thể có tài sản bảo đảm và có phương án, dự án kinh doanh khả thi để làmmục tiêu phát triển dư nợ
Trang 31Mỗi thành công mà AGRIBANK Tây Hà Nội đạt được cần phải kể tới vai tròcủa bộ máy quản lý trong việc bố trí người lao động để phát huy tối đa năng lực củatừng người
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh AGRIBANK Tây Hà Nội trong thời gian qua.
2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn.
Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, một trong nhữngđặc trưng cơ bản là “ đi vay để cho vay”, do đó nguồn vốn huy động hay còn gọi làđầu vào của ngân hàng có ý nghĩa quan trọng, là điều kiện tiên quyết cho hoạt độngcủa ngân hàng Nhận thức được tầm quan trọng đó, chi nhánh AGRIBANK Tây HàNội luôn coi trọng công tác huy động vốn dưới mọi hình thức, để đảm bảo quy mônguồn vốn, tiếp tục tăng trưởng nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh doanh Ta
có thể thấy rõ hơn ở bảng sau:
Bảng 2.1: tình hình huy động vốn tại chi nhánh AGRIBANK Tây Hà Nội từ 2011
Đơn vị: tỷ đồng
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
2010/2009 2011/2010 Số
Trang 32(Nguồn: báo cáo hoạt động tín dụng của NHNo Tây Hà Nội giai đoạn 2009-2011)
Qua bảng số liệu trên, ta thấy nguồn vốn huy động của chi nhánh có xuhướng giảm qua các năm Tổng nguồn vốn huy động năm 2010 là 2515 tỷ đồng,giảm 7.3% so với năm 2009 Tới năm 2011, tổng nguồn vốn huy động là 1539 tỷđồng, giảm tới 38.8% so với năm 2010
Tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng giảm qua các năm có thế được lýgiải như sau:
- NHNN đã ban hành thông tư 02/2011/TT-NHNN ngày 3/3/2011 quy định vềmức lãi suất trần huy động tiền gửi là 14% cho các NHTM Là một ngânhàng lớn nên AGRIBANK luôn tuân thủ các quy định của NHNN Tuynhiên, một số NHTM nhỏ của Việt Nam, với áp lực rủi ro thanh khoản, vẫntìm mọi cách để “lách” quy định của NHNN Chính điều này giải thích cho
sự chuyển dịch nguồn vốn huy động từ các NHTM lớn sang các NHTM nhỏ
- Ngân hàng hoạt động trên địa bàn có nhiều ngân hàng, với đủ các loại hìnhngân hàng thương mại, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắttrên nhiều mặt: lãi suất huy động vốn, phí cho vay, phí dịch vụ…
- Giá cả các mặt hàng tiêu dùng tăng cao, giá vàng biến động không ngừng, thịtrường bất động sản đóng băng đã tác động đến tâm lý của người gửi tiềnlàm ảnh hưởng đến tình hình huy động vốn của ngân hàng
Trang 33- Việc huy động vốn của ngân hàng gặp nhiều khó khăn do xuất hiện nhiềukênh thu hút vốn như: thị trường chứng khoán, cố phần hóa doanh nghiệp,trái phiếu công trình, thị trường vàng.
2.1.3.2 Hoạt động tín dụng.
Song song với hoạt động huy động vốn thì hoạt động sử dụng vốn có vai tròhết sức quan trọng đối với quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng Nếu nhưhuy động vốn là điều kiện cần thì sử dụng vốn được coi là điều kiện đủ, quyết địnhtới sự sống còn của ngân hàng Vì ngân hàng huy động vốn là để cho vay nên nếuhuy động nhiều mà không cho vay được thì dẫn tới hậu quả “ ách tắc vốn”, nhưngcho vay được mà không thu hồi được nợ thì lại càng không tốt Do vậy, nghiệp vụ
sử dụng vốn chỉ cần một sai lầm nhỏ cũng có thể dẫn tới hậu quả khôn lường, thậmchí có thể dẫn tới phá sản ngân hàng
Kết quả hoạt động tín dụng năm 2011.
Tính đến 31/12/2011, số doanh nghiệp đang có quan hệ tín dụng với chi nhánh là
81, chiếm 0.12% tổng số doanh nghiệp đóng trên địa bàn Thị phần khách hànggiảm 0.01% so với đầu năm
Tổng dư nợ cho vay tính đến ngày 31/12/2011 là 2363 tỷ đồng, giảm 22 tỷ đồng sovới cùng kỳ năm 2010
Doanh số cho vay doanh nghiệp đến 31/12/2011 là 3171 tỷ đồng, giảm 736 tỷ đồng
so với đầu năm
Doanh số thu nợ cho vay doanh nghiệp tới 31/12/2011 là 3196 tỷ đồng, giảm 343 tỷđồng so với đầu năm
Dư nợ cho vay doanh nghiệp tới 31/12/2011 là 2314 tỷ đồng, giảm 79 tỷ đồng sovới đầu năm
Tổng nợ xấu đến thời điểm 31/12/2011 là 1141 tỷ đồng (bao gồm cả nợ xấu cho vay
ủy thác đầu tư) Chiếm 40.5% tổng dư nợ Trong đó:
Nợ nhóm 2: 1021.195 tỷ đồng, chiếm 89.5% tổng nợ xấu
Nợ nhóm 3: 49.063 tỷ đồng, chiếm 4.3% tổng nợ xấu
Nợ nhóm 4: 63.896 tỷ đồng, chiếm 5.6% tổng nợ xấu
Trang 34Bảo lãnh vay vốn NHPT ( theo quyết định số 14, 60) 0 0
2009-2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng đối với DNV&N tại chi nhánh
AGRIBANK Tây Hà Nội.
2.2.1 Thực trạng mở rộng tín dụng đối với DNV&N.
Hiện có 79 DNV&N đang có quan hệ với AGRIBANK Tây Hà Nội, với dư
nợ tới ngày 31/12/2011 là 2222 tỷ đồng chiếm 96% tổng dư nợ
Phần lớn các DNV&N đang quan hệ với AGRIBANK Tây Hà Nội làm ăn cóhiệu quả, trả nợ gốc lãi đầy đủ Tuy nhiên có một số doanh nghiệp hoạt động tronglĩnh vực sản xuất kinh doanh trong ngành xây dựng, bất động sản…do tính chấtnguồn vốn thanh toán thường chậm dẫn đến chậm trả gốc và lãi cho ngân hàng