Vấn đề kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài
Trang 1Vấn đề kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài theo Pháp luật Việt Nam, so sánh với Pháp luật một số nước trên thế giới
Hoàng Như Thái
Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật quốc tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Hồng Bắc
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Làm sáng tỏ những vấn đề chung về kết hôn và giải quyết xung đột pháp
luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài được quy định trong pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, từ đó so sánh với pháp luật một số nước Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam Đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài
Keywords Luật Quốc tế; Luật hôn nhân và gia đình; Công dân Việt Nam; Người
nước ngoài; Pháp luật Việt Nam
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, Đảng và Nhà nước
ta đã đổi mới chính sách, pháp luật góp phần quan trọng vào quá trình giao lưu dân sự quốc tế điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng
Cụ thể, để giải quyết vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật: Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành: Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình 2000 về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (sau đây gọi tắt là Nghị định 68/NĐ-CP); Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình 2000 về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (sau đây gọi tắt là Nghị định 69/NĐ-CP); Bên cạnh đó chúng ta còn ký kết rất nhiều Hiệp định tương trợ tư pháp (HĐTTTP) với các nước để giải quyết vấn đề về kết hôn có yếu tố nước ngoài Có thể nói đây là một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối hoàn chỉnh điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, từ luật, các văn bản hướng dẫn và cả các HĐTTTP Các văn bản pháp luật này điều chỉnh toàn diện vấn đề HN&GĐ từ kết hôn, ly hôn, quan hệ pháp lý giữa
Trang 2vợ chồng, quan hệ cha mẹ và con, vấn đề nuôi con nuôi, giám hộ, xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền So với giai đoạn trước đó (giai đoạn trước năm 1986), pháp luật còn đơn giản, chưa có hệ thống, chưa điều chỉnh đầy đủ các quan hệ một phần do trình độ lập pháp, một phần do hoàn cảnh lịch sử nước ta khi đó mới đang dần củng cố quan hệ với các nước sau khi đất nước thoát khỏi chiến tranh, các mối quan hệ quốc tế này cũng mới chỉ đặt ra với các nước cùng chế độ Xã hội chủ nghĩa, quan hệ với các nước tư bản hầu như chưa có Luật HN&GĐ năm 2000 đã dành hẳn một chương (chương XI) quy định về quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài, trong đó xác định rõ nguyên tắc, cách giải quyết xung đột pháp luật và xung đột về thẩm quyền, đáp ứng được yêu cầu thực tế trong việc giải quyết quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài Mặc dù trong thời gian vừa qua, các qui định pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài đã có những đóng góp nhất định nhưng vẫn còn thiếu sót
và bộc lộ một số nhược điểm, nhất là trong xu thế ngày càng phát triển của quan hệ quốc tế
Ví dụ: điều luật quy định về việc kết hôn vi phạm "thuần phong mỹ tục" hay vì mục đích
"trục lợi" chưa rõ ràng cụ thể dẫn đến khó áp dụng hoặc dễ bị lợi dụng khi áp dụng; chưa có điều luật quy định về hôn nhân đồng giới, hiện nay nước ta không công nhận vấn đề hôn nhân đồng giới nhưng một số nước trên thế giới đã công nhận và ban hành luật hôn nhân đồng giới Pháp luật Việt Nam cần có quy định cụ thể hơn để dự liệu trường hợp có hôn nhân đồng giới có yếu tố nước ngoài xảy ra…
Nhận thức được tính cấp thiết trên, chúng tôi đã mạnh dạn tìm hiểu, nghiên cứu đề tài
"Vấn đề kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam,
so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới", từ việc nghiên cứu pháp luật một số nước
trên Thế giới đưa ra một số kiến nghị cho pháp luật Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu
Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một loại quan hệ khá nhạy cảm và phức tạp Do
đó, đề tài nghiên cứu nhằm mục đích sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề chung về kết hôn và giải quyết xung đột pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài được quy định trong pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, từ đó so sánh với pháp luật một số nước
- Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
- Qua quá trình nghiên cứu đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài
3 Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài là vấn đề tương đối rộng, vì vậy đề tài chỉ tập trung
nghiên cứu về vấn đề kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài theo pháp luật
Việt Nam trong đó tập trung giải quyết xung đột pháp luật về kết hôn và so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới
4 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Từ trước đến nay có rất nhiều tác giả viết về đề tài kết hôn có yếu tố nước ngoài Có thể
kể đến công trình nghiên cứu của TS Nông Quốc Bình, TS Nguyễn Hồng Bắc với đề tài
"Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc
tế", Nxb Tư Pháp, Hà Nội 2006 TS Trần Văn Chiến, Ths Đinh Văn Quảng, Khoa xã hội
học - Đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh (2005) với bài viết "Tìm
hiểu thực trạng phụ nữ kết hôn với người Đài Loan tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long"
Nguyễn Bá Chiến với luận án tiến sĩ "Hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột của
Việt Nam trong hội nhập quốc tế", luận án tiến sĩ Nguyễn Hồng Bắc với đề tài "Pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới", TS
Trang 3Nông Quốc Bình, TS Nguyễn Hồng Bắc với đề tài "Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài những vấn đề lý luận và thực tiễn", Tuy nhiên, các bài viết chủ yếu tìm hiểu về
quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, trong đó có đề cập đến vấn đề giải quyết xung đột pháp luật, hoặc chủ yếu bàn về quy phạm pháp luật xung đột nói chung chứ chưa đi sâu nghiên cứu pháp luật một số nước cụ thể trong sự so sánh với pháp luật Việt Nam để từ đó đưa ra kiến nghị cho pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột pháp luật trong vấn đề kết hôn
Đề tài này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Về lý luận, nó góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về hôn nhân gia đình nói riêng phù hợp với thực tiễn và phù hợp với xu hướng chung của thế giới Về thực tiễn, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phát triển dựa trên khuôn khổ pháp lý phù hợp góp phần thúc đẩy quan hệ giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới về mọi mặt: kinh tế, chính trị, xã hội…
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp lịch sử
- Phương pháp điều tra xã hội học
- Phương pháp thống kê
Đặc biệt là phương pháp so sánh, phương pháp này được sử dụng trong các nội dung của
đề tài để làm rõ điểm tương đồng và khác biệt của pháp luật Việt Nam so với pháp luật một
số nước trong giải quyết xung đột pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về kết hôn và giải quyết xung đột pháp luật về kết hôn
có yếu tố nước ngoài
Chương 2: Những qui định của pháp luật về kết hôn giữa công dân Việt Nam và người
nước ngoài so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới
Chương 3: Thực trạng kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và một số
kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾT HÔN VÀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP
LUẬT VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái niệm, nguyên nhân dẫn đến xung đột pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài
1.1.1 Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài
Theo qui định khoản 2, Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000, kết hôn là "việc nam và nữ xác
lập quan hệ vợ chồng theo qui định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn"
Việc xác định "yếu tố nước ngoài" trong quan hệ HN&GĐ theo Luật HN&GĐ căn cứ vào: chủ thể, sự kiện pháp lý, đối tượng của quan hệ là tài sản, và nơi cư trú của các bên đương sự
Khác với pháp luật Việt Nam, yếu tố nước ngoài trong quan hệ kết hôn của pháp luật Trung Quốc quy định tại Điều 147, những nguyên tắc chung về pháp luật dân sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa gồm:
- Kết hôn giữa người Trung Quốc và người nước ngoài được đăng ký tại Trung Quốc;
- Kết hôn giữa người Trung Quốc và người nước ngoài được đăng ký tại nước ngoài;
- Kết hôn giữa người nước ngoài với nhau đăng ký tại Trung Quốc;
Trang 4- Kết hôn giữa người nước ngoài với nhau đăng ký tại nước ngoài
Theo quy định tại Điều 170 Bộ luật dân sự Pháp, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài bao gồm các quan hệ sau:
- Kết hôn giữa công dân Pháp với nhau tại nước ngoài;
- Kết hôn giữa công dân Pháp với người nước ngoài tại nước nước ngoài theo thủ tục của nước đó; và
- Kết hôn giữa công dân Pháp với người nước ngoài tại nước ngoài do nhân viên ngoại giao hoặc nhân viên lãnh sự của Pháp thực hiện theo quy định của pháp luật Pháp (áp dụng ở những nước quy định trong lệnh của Tổng thống)
Từ phân tích trên đưa ra khái niệm: Kết hôn có yếu tố nước ngoài là quan hệ kết hôn phát sinh giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau cư trú tại nước ngoài
mà căn cứ để xác lập quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài
1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến xung đột pháp luật về kết hôn
Xuất phát từ đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế nên các quan hệ này thường liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật Khoa học tư pháp quốc tế gọi hiện tượng này là xung đột
pháp luật (conflic of law)
Như vậy, nói một cách khái quát thì xung đột pháp luật là hiện tượng có hai hay nhiều hệ
thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh một quan hệ Tư pháp quốc tế cụ thể nào đó
Từ phân tích trên có thể định nghĩa: Xung đột pháp luật về kết hôn là trường hợp có hai
hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
Từ định nghĩa xung đột pháp luật về kết hôn nêu trên có thể thấy các nguyên nhân chủ
yếu làm phát sinh xung đột pháp luật về kết hôn là: do pháp luật về hôn nhân gia đình của
các nước quy định khác nhau; và do đặc điểm về nội dung của Tư pháp quốc tế điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình
1.2 Các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước
"Các nguyên tắc cơ bản về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung, kết hôn
có yếu tố nước ngoài nói riêng là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình trong đó có kết hôn có yếu tố nước ngoài"
Có thể phân chia các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thành các nguyên tắc chung và các nguyên tắc chuyên biệt
1.2.1 Các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một trong các quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài nên quan hệ này cũng chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài
* Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam phù
hợp các qui định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia Nguyên tắc này được qui định tại khoản 1 Điều 100 Luật
HN&GĐ năm 2000
Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thực hiện theo qui định pháp luật sẽ được tôn trọng
và bảo vệ bằng nhiều biện pháp khác nhau phù hợp với pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc
tế mà Việt Nam ký kết Trong trường hợp Điều ước quốc tế có quy định khác với pháp luật Việt Nam thì ưu tiên áp dụng Điều ước quốc tế
Trang 5Nguyên tắc này cũng được quy định trong đoạn 1 Điều 170 (Luật ngày 21-6-1907) Bộ
luật dân sự Pháp
* Nguyên tắc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài phù
hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế Đồng thời không phân biệt đối xử với người nước ngoài trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam Nguyên tắc này được qui định tại khoản 2, 3 Điều 100 Luật HN&GĐ năm 2000
Công dân Việt Nam ở nước ngoài khi tham gia vào các quan hệ kết hôn sẽ được pháp luật Việt Nam bảo hộ theo quy định tại Điều 75 Hiến pháp năm 1992, Điều 7 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008
Pháp luật Việt Nam cũng bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người nước ngoài tại Việt Nam như công dân Việt Nam Quy định này là phù hợp với quy định pháp luật các nước trên thế giới
* Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài đối với quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam về HN&GĐ Nguyên tắc này
được quy định tại Điều 101 Luật HN&GĐ năm 2000 Theo đó, pháp luật nước ngoài được áp dụng trong các trường hợp sau:
- Luật HN&GĐ Việt Nam 2000, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định;
- Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia viện dẫn
Trong tất cả các trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài nêu trên, pháp luật nước ngoài
chỉ được áp dụng nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên
tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
Nguyên tắc này còn được ghi nhận tại khoản 1 Điều 4 Luật tư pháp quốc tế Ba Lan, Điều
2 Sắc luật về Tư pháp quốc tế Hungari năm 1979
Như vậy, pháp luật các nước đều có chung quy định về việc áp dụng pháp luật nước
ngoài không trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật trong nước
* Nguyên tắc áp dụng pháp luật về HN&GĐ Việt Nam đối với quan hệ kết hôn có yếu
tố nước ngoài Nguyên tắc này được quy định tại Điều 7 Luật HN&GĐ năm 2000 theo đó,
nếu chương XI không có quy định điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thì sẽ áp dụng các quy định của Luật HN&GĐ
Ngoài ra, nếu trong chương XI không có quy định về quan hệ HN&GĐ nào đó thì sẽ áp dụng Phần thứ bảy của BLDS để giải quyết
1.2.2 Các nguyên tắc chuyên biệt điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
* Nguyên tắc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật của nước
mà đương sự có quốc tịch hay còn gọi nguyên tắc luật quốc tịch của đương sự (lex patriae)
Các HĐTTTP, Điều 103 Luật HN&GĐ năm 2000, Điều 13 Bộ dân luật Đức đều quy định nguyên tắc luật quốc tịch Tuy nhiên quy định này sẽ rất khó giải quyết đối với trường hợp một trong các bên đương sự là người không quốc tịch hoặc người nhiều quốc tịch
* Nguyên tắc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo luật nơi cư trú của các bên đương sự (lex domicilli)
Nguyên tắc nơi cư trú của đương sự được áp dụng rộng rãi ở các nước trong hệ thống
pháp luật án lệ (common law) Nguyên tắc này được quy định tại khoản 1 Điều 103 Luật
HN&GĐ năm 2000 và được cụ thể tại khoản 2 Điều 10 Nghị định 68/2002NĐ-CP
Việc pháp luật Việt Nam quy định áp dụng nguyên tắc này là hoàn toàn phù hợp với thực
tế quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
Trang 6Ngoài pháp luật trong nước, một số HĐTTTP Việt Nam ký kết với một số nước như Liên bang Nga, Lào, Ucraina… cũng sử dụng nguyên tắc nơi cư trú của đương sự để điều chỉnh quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài
* Nguyên tắc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo luật của nước có Tòa án,
cơ quan có thẩm quyền (lex fori) đối với các vấn đề phát sinh
Nguyên tắc này được áp dụng điều chỉnh vấn đề đăng ký kết hôn của các bên đương sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 102 Luật HN&GĐ năm 2000
Pháp luật của Pháp cũng tuân thủ nguyên tắc luật nơi có Tòa án (Lex fori) nêu trên tại các
điều: 163, 170 Bộ luật dân sự Pháp
* Nguyên tắc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo luật nơi thực hiện hành vi (lex loci astus)
Nguyên tắc này được hiểu là các hành vi được thực hiện ở nước nào sẽ được điều chỉnh theo pháp luật của nước đó Điều 147, những nguyên tắc chung về pháp luật dân sự của nước
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định, những người nước ngoài đăng ký kết hôn tại Trung
Quốc phải tuân theo pháp luật Trung Quốc cả về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn Kể
cả trường hợp người nước ngoài đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước mà họ là công dân nhưng theo pháp luật Trung Quốc chưa đủ điều kiện kết hôn cũng không được đăng ký kết hôn
So với pháp luật Việt Nam, pháp luật Trung Quốc có điểm khác biệt chỉ áp dụng duy nhất hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi, pháp luật Pháp áp dụng nguyên tắc luật nơi thực hiện hành vi và luật quốc tịch để giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn
1.3 Các phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài
1.3.1 Phương pháp thực chất
Phương pháp thực chất hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh trực tiếp là phương pháp điều chỉnh thông qua các quy phạm định rõ các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan
hệ "Phương pháp trực tiếp ít phổ biến nhưng có xu hướng phát triển"
1.3.2 Phương pháp xung đột
Phương pháp xung đột là phương pháp điều chỉnh gián tiếp, các quy phạm này không trực tiếp điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài mà nó chỉ ra pháp luật nước nào sẽ điều chỉnh cụ thể
Có hai loại quy phạm xung đột: quy phạm xung đột một bên và quy phạm xung đột hai bên
1.4 Nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
1.4.1 Pháp luật trong nước
Nguồn pháp luật Việt Nam là hệ thống pháp luật thành văn, pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài bao gồm:
Hiến pháp: Là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất, quy định các nguyên tắc cơ
bản của pháp luật Việt Nam nói chung và của quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài nói riêng
Bộ luật dân sự: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một trong các loại quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài nên quan hệ này cũng được điều chỉnh trong Bộ luật dân sự
Luật HN&GĐ: Luật HN&GĐ Việt Nam là luật chuyên điều chỉnh quan hệ HN&GĐ gồm
cả quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
Ngoài ba văn bản chính nêu trên còn có các văn bản pháp luật khác cùng điều chỉnh quan
hệ pháp luật này
Trang 71.4.2 Điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế về HN&GĐ là điều ước quốc tế chứa đựng các quy phạm xung đột điều chỉnh quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
1.4.3 Tập quán quốc tế
Tập quán quốc tế là những tập quán được hình thành lâu đời, "về mặt pháp lý, một tập
quán chỉ có thể được áp dụng điều chỉnh một quan hệ pháp lý khi nội dung của tập quán này được thể hiện cụ thể và rõ ràng"
Ở Việt Nam, tập quán quốc tế chỉ được áp dụng theo khoản 4 Điều 759 Bộ luật dân sự
1.4.4 Mối quan hệ giữa các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu
tố nước ngoài
Các loại nguồn pháp luật có mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ cho nhau điều chỉnh quan hệ này
Nguồn pháp luật trong nước do tính đặc thù là yếu tố nước ngoài nên quy phạm pháp luật
trong nước cũng có thể được áp dụng ở nước khác tùy theo từng trường hợp cụ thể Do vậy, loại nguồn này có vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh quan hệ này
Nguồn Điều ước quốc tế là một loại nguồn cơ bản, các quốc gia phải tuân thủ nguyên tắc
thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế (pacta sunt servanda)
Nguồn tập quán quốc tế là loại nguồn bổ trợ trong việc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu
tố nước ngoài Do đó giá trị của tập quán quốc tế điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được đánh giá sau cùng
Như vậy, vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài được giải quyết bằng nhiều nguyên tắc khác nhau (nguyên tắc chung, nguyên tắc chuyên biệt) và được điều chỉnh bằng nhiều loại nguồn pháp luật khác nhau
Chương 2
NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VÀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ
GIỚI 2.1 Giải quyết vấn đề kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới
2.1.1 Giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới
Điều kiện kết hôn là những đòi hỏi của pháp luật đặt ra đối với các đương sự khi kết hôn Khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện đó thì việc kết hôn là hợp pháp, được pháp luật công nhận
và bảo vệ Do vậy, đây là một trong hai tiêu chí xem xét tính hợp pháp của việc kết hôn
Thông thường các nước theo hệ thống Civil Law quy định dùng dấu hiệu quốc tịch, các nước theo Common law dùng dấu hiệu nơi cư trú của đương sự để xác định luật áp dụng
Theo đó, pháp luật Việt Nam hiện hành giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo các nguyên tắc: Luật quốc tịch, luật nơi cư trú và luật nơi thực hiện hành vi Công dân Việt Nam và người nước ngoài phải tuân theo pháp luật nước mà họ là công dân về điều kiện kết hôn
Điều kiện về tuổi kết hôn: Pháp luật tất cả các nước đều xem tuổi kết hôn là một trong
những điều kiện kết hôn quan trọng So với pháp luật một số nước như Pháp, Nhật Bản độ tuổi kết hôn được quy định theo pháp luật của Việt Nam tương đối cao (nam công dân Việt Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên) Đối với người
Trang 8Pháp "Nam chưa tròn mười tám tuổi, nữ chưa tròn mười lăm tuổi không được kết hôn" (Điều
144- Bộ luật dân sự Pháp)
Theo quy định tại Điều 731 Bộ luật dân sự Nhật Bản thì "Không thể kết hôn khi chưa
tròn mười tám tuổi đối với nam giới và không tròn mười sáu tuổi đối với nữ giới"
Điều này thể hiện trình độ văn hóa và nhận thức của con người và trình độ phát triển của
xã hội giữa các quốc gia khác nhau là khác nhau
Điều kiện sự tự nguyện của hai bên nam - nữ: Đây là điều kiện bắt buộc trong quan hệ
kết hôn, hiện nay pháp luật của các nước đều ghi nhận: không có hôn nhân khi không có sự
tự nguyện Tuy nhiên, tính tự nguyện trong hôn nhân được xem xét với nhiều quan điểm khác nhau Theo các nhà làm luật phương Tây, sự tự nguyện ở đây thường gắn với sự tự nguyện trong hợp đồng nên có thể áp dụng chế độ đại diện trong kết hôn (Điều 148, 149 Bộ luật dân
sự Pháp, Điều 2 chương 2 phần II Luật hôn nhân Thụy Điển năm 1987; Luật hôn nhân Australia năm 1961, Bộ luật liên bang Mỹ)
Pháp luật của nước xã hội chủ nghĩa nói chung, Việt Nam nói riêng sự tự nguyện xuất phát từ tình cảm giữa nam và nữ nên không thừa nhận chế độ đại diện trong kết hôn Sự tự nguyện là hai bên nam và nữ tự mình quyết định việc kết hôn với nhau xuất phát từ tình yêu thương, thể hiện rõ ý chí của bản thân, không chịu sự tác động của bên nào hay của người khác Để đảm bảo cho sự tự nguyện, pháp luật quy định, hai người muốn kết hôn với nhau phải cùng có mặt tại ủy ban nhân dân nộp tờ khai đăng ký kết hôn, không cho phép cử người đại diện đăng ký kết hôn hoặc vắng mặt tại lễ đăng ký kết hôn
Điều kiện sức khỏe: Pháp luật các nước có sự khác nhau về quy định các loại bệnh
mà những người mắc các bệnh này không được phép kết hôn với nhau Khoản 2 Điều 10
Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: "người mất năng lực hành vi dân sự không được kết hôn
Người mất năng lực hành vi dân sự là người mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thẩm quyền"
Nhiều quốc gia, như Hoa Kỳ yêu cầu xét nghiệm máu Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay, xét nghiệm máu có thể xác định được nhiều bệnh khác nhau, kể cả vấn đề xác định các bên đương sự có cùng huyết thống hay không
Điều kiện về tình trạng hôn nhân: Hầu hết pháp luật các nước đều có quy định về vấn đề
này và tiêu chuẩn đầu tiên cho một cuộc hôn nhân hạnh phúc được pháp luật các nước đề cao
đó là "hôn nhân một vợ một chồng"
Điều 147 Bộ luật dân sự Pháp quy định: "Một người không thể xác lập hôn nhân thứ hai
trước khi chấm dứt hôn nhân thứ nhất"
Khoản 1 Điều 10 Luật HN&GĐ năm 2000 có quy định "Cấm người đang có vợ hoặc có
chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác; hoặc người chưa có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có vợ, có chồng"
Việc quy định điều kiện về tình trạng hôn nhân một vợ, một chồng vừa bảo vệ quyền lợi của các bên đương sự đồng thời bảo vệ truyền thống đạo đức và trật tự xã hội
Điều kiện về quan hệ huyết thống và quan hệ thân thuộc là một trong những điều kiện
không chỉ được pháp luật Việt Nam quan tâm mà còn được nhiều nước trên thế giới cũng quan tâm Việc quy định này để bảo vệ sức khỏe vợ chồng đồng thời bảo vệ sức khỏe con cái, duy trì nòi giống tốt và bảo vệ luân thường đạo lý Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa
những người cùng dòng máu và quan hệ trong phạm vi ba đời
Điều kiện không cùng giới tính: Pháp luật Việt Nam cấm kết hôn giữa những người cùng
giới xuất phát từ quan điểm: mục đích của kết hôn là thiết lập quan hệ hôn nhân, xây dựng
Trang 9gia đình hạnh phúc, thực hiện chức năng sinh sản để duy trì nòi giống Tuy nhiên, hiện nay
có nhiều nước trên thế giới (Hà Lan, Bỉ, Tây Ban Nha ) đã có luật hôn nhân đồng giới, cho phép những người đồng giới kết hôn Để hội nhập được với các nước trong khu vực và trên thế giới, trong đó có cả vấn đề hôn nhân, Việt Nam cần xem xét nghiêm túc và có quy định
cụ thể về vấn đề này
2.1.2 Giải quyết xung đột pháp luật về nghi thức kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài
Nghi thức kết hôn hay còn gọi hình thức thức kết hôn là trình tự tiến hành chính thức công nhận một cách hợp pháp quan hệ vợ chồng Khi các bên nam, nữ muốn kết hôn, bên cạnh việc có đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật thì còn phải tiến hành kết hôn theo quy định pháp luật
Có ba loại hình thức kết hôn: kết hôn theo nghi thức dân sự, kết hôn theo nghi thức tôn giáo, kết hôn kết hợp nghi thức dân sự và nghi thức tôn giáo
Pháp luật Việt Nam và Bộ luật dân sự Pháp ghi nhận kết hôn theo nghi thức dân sự (Điều
170 Luật ngày 21- 6- 1907) Mọi cuộc hôn nhân được tiến hành hợp pháp và hợp lệ tại nước nơi tiến hành kết hôn đều được công nhận tại Mỹ (Bộ luật Liên bang Mỹ)
* Nghi thức kết hôn tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam
Theo quy định nghi thức thức kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam sẽ căn cứ theo pháp luật Việt Nam về nghi thức kết hôn
* Nghi thức kết hôn có yếu tố nước ngoài tiến hành tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài
Điều 19 Nghị định số 69/NĐ-CP cụ thể thủ tục, trình tự đăng ký kết hôn tại cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam ở nước ngoài
* Công nhận việc kết hôn được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tại Việt Nam:
Do pháp luật các nước có quy định khác nhau nên đặt ra vấn đề công nhận việc kết hôn
có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam Vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 20 Nghị định 68/NĐ-CP
2.2 Giải quyết vấn đề kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài trong các Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam ký kết với nước ngoài
Để giải quyết vấn đề xác định luật áp dụng các nước đã ký kết HĐTTTP bao gồm các quy phạm xung đột thống nhất để chọn luật áp dụng, các HĐTTTP chủ yếu dùng hệ thuộc luật quốc tịch, luật nơi cư trú và luật nơi thực hiện hành vi của đương sự
2.2.1 Giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn trong các hiệp định tương trợ
tư pháp Việt Nam ký kết với nước ngoài
Ký kết hoặc tham gia các Điều ước quốc tế là giải pháp tốt nhất để giải quyết các quan hệ pháp luật phát sinh giữa các nước một cách hòa bình và thỏa đáng, bảo vệ được quyền lợi chính đáng của công dân các nước tham gia quan hệ Các HĐTTTP này bao gồm các quy phạm pháp luật xung đột chỉ ra pháp luật nước nào được áp dụng hay nói cách khác, đưa ra nguyên tắc áp dụng luật
Các hiệp định đều có quy định: "Việc kết hôn giữa công dân nước ký kết này với công dân
nước ký kết kia phải tuân theo những điều kiện kết hôn do pháp luật của nước ký kết mà họ là công dân quy định" Quy định này vừa đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của công dân các nước
ký kết hiệp định đồng thời tránh tình trạng trốn tránh pháp luật, vi phạm điều cấm của pháp luật nước họ là công dân
Trang 10Công ước La Haye 1902 cũng áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch để giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn
Theo các Hiệp định song phương, việc kết hôn với người không quốc tịch hoặc nhiều quốc tịch thì đa số đều áp dụng luật nơi cư trú, luật của nước mà họ có quốc tịch và có quan
hệ gắn bó nhất để giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn
2.2.2 Giải quyết xung đột pháp luật về nghi thức kết hôn trong các hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam ký kết với nước ngoài
Theo đó, xung đột pháp luật về nghi thức kết hôn có yếu tố nước ngoài được giải quyết dựa trên nguyên tắc luật nơi thực hiện hành vi Quy định này cũng phù hợp với pháp luật Việt Nam và Công ước LaHaye 1902
Qua phân tích trên cho thấy, Việt Nam đã ký kết một số HĐTTTP để giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Và nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật trong các Hiệp định này cũng tương đồng với nguyên tắc giải quyết xung đột về nghi
thức kết hôn của Công ước LaHaye 1902 Điều 15 Công ước quy định "Nghi thức kết hôn
được công nhận là hợp pháp nếu nó tuân theo luật nơi tiến hành kết hôn"
Chương 3
THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ KẾT HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT
NAM TRONG LĨNH VỰC NÀY 3.1 Tình hình chung về kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài
3.1.1 Thực trạng kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài
Năm 1993, văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ra đời, đó là Pháp lệnh HN&GĐ giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài Văn bản này đánh dấu mốc quan trọng trong sự phát triển quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, tiếp đó là Nghị định 184/NĐ-CP quy định chi tiết về thủ tục đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài Đến năm 1995, chúng ta bắt đầu thực hiện văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài này Kể từ đó, quan
hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài gia tăng nhanh chóng và phân thành 02 nhóm:
* Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người Việt Nam ở nước ngoài (gọi tắt là Việt Kiều) chiếm khoảng 45% tổng số
* Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài chiếm khoảng 55% tổng
số
Việc kết hôn có yếu tố nước ngoài không chỉ ở các tỉnh phía Nam mà một số tỉnh phía Bắc cũng tăng đáng kể
Bảng 3.1: Số lượng việc kết hôn có yếu tố nước ngoài ở một số tỉnh
năm 2005- 2006 và năm 2009- 2010
T
T
Các tỉnh, thành
phố
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2009
Năm
2010
2 Thành phố Hồ Chí
Minh
3.754 3.742 3.825 3.509
3 Thành phố Hải
Phòng
6 Thành phố Cần Thơ 1.431 760 1.875 475