1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo tình hình 5 năm về thực hiện bình đẳng giới

12 3,6K 3
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo tình hình 5 năm thực hiện luật bình đẳng giới
Trường học Uỷ Ban Dân Tộc
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 4,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo tình hình 5 năm về thực hiện bình đẳng giới

Trang 1

UỶ BAN DÂN TỘC CONG HOA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2012

Tình hình 5Š năm thực hiện Luật Bình đăng giới

Thực hiện công văn số 3460/LĐTBXH-BĐG, ngày 27/9/2012 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Uỷ ban Dân tộc xin báo cáo 5 năm tình hình thực hiện Luật Bình đăng giới:

PHAN I

TÌNH HÌNH TRIÊN KHAI THỰC HIỆN LUẬT BÌNH ĐẢNG GIỚI

I Tình hình xây dựng, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật quy định chỉ tiết Luật Bình đẳng giới

Thực hiện Chỉ thị số 10/2007/CT- -TTg ngày 3/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Bình đăng giới; Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 04/6/2008 của Chính phủ quy định chỉ tiết thi hành một số điều của Luật Bình đăng giới; Uỷ ban Dân tộc đã chỉ đạo các Vụ, đơn vị triển khai các nhiệm vụ được giao như xây dựng kế hoạch tuyên truyền về Luật Bình đẳng giới, xây dựng

kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật trong đó có nội dung về bình đẳng giới tại vùng đồng bào dân tộc và trong phạm vi cơ quan Uỷ ban Dân tộc

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị định số 48/2009/NĐ-CP của Chính

phủ quy định về các biện pháp bảo đảm Bình đăng giới, trong 2 năm 2010 — 2011

Uỷ ban Dân tộc đã phối hợp với Bộ Lao động — Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành liên quan xây dựng Đề án “Chính sách đặc thù hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” Quá trình triển khai xây dựng Đề án, các Bộ ngành, các nhà khoa học nghiên cứu về lĩnh vực bình đăng giới góp ý việc xây dựng và trình Chính phủ ban hành “Chính sách đặc thù hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” trong thời điểm hiện này là chưa phù hợp Vì chưa có điều kiện để khảo sát, đánh giá toàn diện thực trạng bình đẳng gidi 6 vung dân tộc thiểu số Do Luật Bình đẳng giới, các Nghị định, Chiến lược quôc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011- 2020 mới ra đời nên việc triển khai và cụ thể hóa Nghị định, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011- 2020 đang được các Bộ, ngành và địa phương thực hiện Bộ chỉ tiêu phát triển giới của quốc gia đang được Tổng cục Thống kê - Bộ Kế hoạch xây dựng Vì vậy cần có thời gian

để triển khai sau đó mới đánh giá và xây dựng chính sách áp dụng cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiêu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc

biệt khó khăn Những nội dung nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao cho Uỷ

Trang 2

ban Dan t6c tai Chién luge quéc gia vé binh dang gidi giai doan 2011 -2020 va Chương trình quôc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015 phần lớn đều trùng với những nội dung dự thảo đề án chính sách đặc thù hỗ trợ hoạt động bình đẳng

giới do Uỷ ban Dân tộc soạn thảo Vì vậy, để tránh chồng chéo và có điều kiện thời gian, kinh phí cho việc khảo sát, đánh giá sâu, toàn diện về thực trạng bình đăng giới tại các xã miên núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; xây dựng

mô hình thí điểm hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới để làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách đặc thù hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiêu sô và vùng có điêu kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn sau khi thực hiện xong Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-

2015 Vì vậy, Uỷ ban Dân tộc đã đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép tạm dừng xây dựng “Chính sách đặc thù hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu,

vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc

biệt khó khăn”

Thực hiện Quyết định số 2351/QĐ-TTg, ngày 24/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn

2011-2020, Uỷ ban Dân tộc đã ban hành Quyết định số 248/QĐ-UBDT, ngày

3/10/212 về việc ban hành kế hoạch thực hiện Chiên lược Quôc gia vê bình đăng giới giai đoạn 2011-2015 của Uỷ ban Dân tộc với mục tiêu tổng quát là: Đảm bảo bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các

lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội; tạo mọi điều kiện, thực hiện có hiệu

quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong ngành công tác dân tộc

Thực hiện Quyết định số 1241/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 về phê duyệt Chương trình Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015 của Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban Dân tộc đã ban hành Quyết định số 186/QĐ-UBDT ngày

22/6/2012 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc về việc phê duyệt kế hoạch thực hiện Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2012 - 2015 (Mô hình 5 Dự án 4) của Ủy ban Dân tộc với mục đích là đánh giá tổng quát, điều tra,

khảo sát thực trạng bình đẳng giới tại các xã, phường, thị trấn miền núi, vùng cao

Quyết định lựa chọn 30 xã, phường, thị trấn làm cơ sở triển khai kế hoạch thực

hiện Chương trình quốc gia bình đẳng giới giai đoạn 2012 — 2015 của Ủy ban Dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020

Ngoài ra Uỷ ban Dân tộc còn tham gia góp ý vào một số dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ vê bình đăng giới do các Bộ, ngành soạn thảo:

tham gia góp ý, bô sung nội dung phân tổ các thành phân dân tộc vào các chỉ tiêu quan trọng liên quan đên công tác quản lý và thực hiện bình đăng giới tại vùng dân tộc thiểu số và miễn núi; góp ý Đê án “Can thiệp giảm thiểu cân băng giới tính khi sinh giai đoạn 2012 -2020”

II Tình hình bão đảm các điều kiện cho thi hành Luật Bình đẳng giới

1 Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bình đẳng giới Thực hiện Luật Bình đẳng giới, các văn bản của Chính phủ và các Bộ, ngành, Uỷ ban đã triên khai các hoạt động tuyên truyền, phô biên chính sách pháp

2

Trang 3

luật về công tác phụ nữ và bình đẳng giới tới toàn thể cán bộ, công chức, viên chức thông qua các buôi học Nghị quyết, sinh hoạt Đảng, đoàn thể, các hoạt động

lễ kỷ niệm Nội quy, quy chê, các đề án, dự án, kế hoạch triển khai nhiệm vụ chính trị của Uỷ ban trong quá trình xây dựng đều quán triệt những mục đích, yêu cầu, nội dung vê công tác phụ nữ và bình đẳng giới; cơ chế, chính sách liên quan đến người lao động đêu tạo điêu kiện cho toàn thể cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan phần đâu hoàn thành tôt nhiệm vụ chính trị được giao, bảo đảm sự bình đẳng nam và

nữ trong việc thực hiện nhiệm vụ cũng như chế độ, chính sách, quyền lợi được hưởng

Với trách nhiệm và nhiệm vụ được giao tại Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 04/6/2008 của Chính phủ, Uỷ ban Dân tộc đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tô chức tuyên truyên, phố biên giáo dục chính sách, pháp luật nói chung

và pháp luật về bình đẳng giới nói riêng cho đông bào vùng dân tộc thiểu số trên

cả nước Thực hiện Quyết định số 554/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số từ năm 2009 đến năm 2012”, Uỷ ban Dân tộc đã tổ chức thực hiện tuyên truyền, phô biến, giáo dục pháp luật sâu rộng, bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với phong tục, tập quán và các đối tượng tham gia Trong 5 năm qua Uỷ ban Dân tộc đã tô chức trên 30 Hội nghị tuyên truyền, phô biến cho đại biểu của trên 300 xã thuộc 60 huyện trên phạm vi 30 tỉnh, thành

phô trực thuộc Trung ương với số lượng trên 3.000 đại biểu Các hội nghị đã giới

thiệu cho các đại biêu tham dự những nội dung cơ bản, thiệt thực liên quan đên đời sống của đồng bào như: Luật Đất đai, Luật Khiếu nại Tố cáo, Luật Bảo vệ và phát triên rừng, Luật Phòng, chông ma túy, Luật Bầu cử, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bình đăng giới, Luật phòng, chông bạo lực gia đình, Luật Giao thông góp phần nâng cao nhận thức về pháp luật cho đồng bào dân tộc thiêu sô và đưa pháp luật đi vào thực tiễn cuộc sống Tổ chức 07 cuộc thi tìm hiểu pháp luật bằng

hình thức sân khấu hóa tại 07 tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Nghệ An, Sơn La, Sóc

Trăng, Bình Thuận và Gia Lai với sự tham gia của 70 đội đại diện 70 xã tham gia,

thu hút khoảng 5.000 lượt người tham dự và tổ chức 01 Hội thi tại Hà Nội với sự

tham gia của 9 đội thi đến từ 06 tỉnh: Lào Cai, Sơn La, Nghệ An, Cao Bằng, Lạng Sơn và Thành phố Hà Nội Ủy ban Dân tộc và Bộ Ngoại giao phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc tại Việt Nam (UNDP) tổ chức buổi Tọa đàm về “Vai trò của lãnh đạo nữ dân tộc thiểu số trong hệ thống cơ quan công tác dân tộc” Ban

Vì sự tiến bộ phụ nữ của Uỷ ban Dân tộc đã phối hợp với Ban Quản lý Dự án

“Nâng cao năng lực lãnh đạo cho phụ nữ trong khu vực nhà nước trong bối cảnh

Hội nhập kinh tế quốc tế”, Vụ Hợp tác kinh tế đa phương Bộ Ngoại giao mở 02 lớp

tập huấn ngắn hạn “Nâng cao năng lực lãnh đạo cho cán bộ nữ dân tộc thiểu số trong hệ thông cơ quan công tác dân tộc” tại tỉnh Hoà Bình và Gia Lai

2 Công tác bồ trí cán bộ, tổ chúc bộ máy theo dõi về công tác bình đăng giới Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Ủy ban Dân tộc do 01 đồng chí Phó Chủ nhiệm làm Trưởng Ban, các ủy viên là các đồng chí lãnh đạo cấp Vụ và tương đương Trong quy chế hoạt động của Ban có sự phân công, phân nhiệm cho các thành viên của Ban theo dõi, chỉ đạo giám sát việc thực hiện 5 mục tiêu của Ủy

3

Trang 4

ban Quéc gia Vi su tiến bộ của phụ nữ Việt Nam tại các Vụ, đơn vị của Ủy ban

Dân tộc

Trong nhiệm kỳ 2011-2016, Uỷ ban Dân tộc đã phân công 01 đơn vị làm đầu

mối theo dõi và thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về hoạt động bình giới

tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số

3 Hoạt động lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xâp dựng và tổ chức

thực hiện các chương trình, kế hoạch hoạt động của ngành

Trong 5 năm qua Ủy ban Dân tộc đã hoàn thành và trình Thủ tướng Chính

phủ các Chương trình, đề án, chính sách vùng dân tộc và miền núi như: Chương

trình phát triên kinh tế - xã hội các xã, thôn bản ĐBKK giai đoạn 2011 — 2015

(Chương trình 135 giai đoạn 3); Đề án phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc và

miền núi giai đoạn 2011-2020; Chính sách ưu dai, khuyến khích thu hút các doanh

nghiệp, tổ chức kinh tế đầu tư vào vùng dân tộc và miên núi; Chính sách đặc thù

phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc miền núi giai đoạn 2011 - 2015, định

hướng đến năm 2020; Xây dựng tiêu chí phân định ba khu vực theo trình độ phát

triển ở vùng dân tộc và miên núi; Chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối

với hộ đồng bào DTTS đặc biệt khó khăn; Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở,

nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn; Chính

sách đâu tư hồ trợ ôn định dân cư đôi với đông bào dân tộc thiêu sô di cư tự do;

Ủy ban Dân tộc đã tập trung nghiên cứu xây dựng các chương trình, đề án, chính

sách dân tộc đảm bảo chất lượng, đúng quy trình Trong quá trình xây dựng các

chương trình, đề án, chính sách luôn chú trọng đến việc lồng ghép vấn đề bình

đẳng giới

Ủy ban Dân tộc cũng đã phối hợp và tham gia góp ý xây dựng các đề án, dự

án, chương trình, chính sách của các Bộ, ngành có liên quan đến vùng dân tộc và

miền núi: Bộ KH&ĐT, Bộ NN&PTNT, Bộ LĐTB&XH, Bộ Giáo dục và Đào

„ Nội dung góp ý với các Bộ, ngành theo hướng tập trung ưu tiên giải quyết

các vấn đề: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, quy hoạch và ồn định dân cư, phát

triển nguồn nhân lực, chính sách giáo dục, đào tạo nghề và giải quyết việc làm,

xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sông vật chất và tỉnh thần cho đồng bào DTTS

Trong đó, luôn quan tâm đến vấn đề lồng ghép bình đẳng giới

4 Công tác tổ chức nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học về

bình đẳng giới

Trong công tác nghiên cứu khoa học những năm qua lãnh đạo Uỷ ban Dân

tộc đã giao cho các đồng chí nữ cán bộ là lãnh đạo cấp Vụ làm chủ nhiệm một số

đề tài và dự án cấp Bộ với sự tham gia của công chức nữ của Uỷ ban cùng nghiên

cứu: Đề tài “Đánh giá thực trạng thực hiện Luật Bình đẳng giới ở vùng dân tộc

thiểu số và miền núi phía Bắc - Nghiên cứu tại tỉnh Điện Biên”; Đề tài “Thực

trạng và giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ, công chức nữ các tỉnh

Tây Bắc Việt Nam” và Dự án: Điều tra, đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường

và xây dựng mô hình môi trường phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số khu

vực Tây Nam Bộ.

Trang 5

5 Cong tac so kết, tổng kết báo cáo hàng năm và theo định kỳ vỀ tình hình thực hiện Luật Bình đẳng giới

Nhằm đánh giá tình hình triển khai bình đẳng giới tại vùng đồng bào dân tộc và miền núi, hàng nam Uy ban Dan toc đều có đề nghị các địa phương báo cáo tình hình và kết quả triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Qua tổng hợp báo cáo của các địa phương và kết quả thực hiện của Uỷ ban Dân tộc, định kỳ wes năm Uỷ ban xây dựng báo cáo gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội — quan thường trực của Uỷ ban Quốc gia về tình hình thực hiện các mục tiêu ae gia vê bình đẳng giới

6 Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tÕ cáo về bình đẳng giới

Công tác thanh tra, kiểm tra tình hình thực hiện pháp luật về bình đẳng giới bước đầu đã được lồng ghép với việc thanh tra, kiểm tra thực hiện các chủ trương, chính sách, dự án của Đảng, Nhà nước Trong những năm qua Thanh tra Ủy ban Dân tộc đã phối hợp với Thanh tra của Ban Dân tộc các tỉnh thực hiện tôt các nhiệm vụ thanh, kiểm tra xử lý các vi phạm theo thâm quyền Quá trình thanh tra, kiểm tra chưa phát hiện nội dung, kiến nghị, khiếu nại tố cáo nào liên quan đến vi phạm Luật bình đẳng giới

PHAN II KET QUA THUC HIEN LUAT BINH DANG GIOI TREN

CAC LINH VUC

I Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính tri

Từ nhiều năm nay và trên nhiều lĩnh vực khác nhau với nhiều chính sách, đã thúc đây và khuyến khích phụ nữ nói chung, người phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng đã được bổ nhiệm vào hàng ngũ lãnh đạo và nắm quyền quyết định trong hệ thống chính trị các cấp Phụ nữ được quan tâm cơ cấu bầu vào các vị trí lãnh dao trong cấp uỷ, HĐND, đại biểu Quốc hội Tỷ lệ phụ nữ là người dân tộc vùng đồng bào tham gia HĐND cấp huyện, xã khoá này đã tăng 4- 5% so với khóa trước, tỷ lệ nữ tăng giữa các vùng cũng khác nhau (vùng Đông Bắc cấp huyện tăng 6,6%, cập xã 3%; vùng Tây Bắc câp huyện tăng 2,3%, câp xã 0,4%; vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung cấp huyện tăng 3%, câp xã 6% )

Đối với đội ngũ cán bộ nữ của Uỷ ban Dân tộc: công tác quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ nữ giữ vị trí lãnh đạo và quản lý được cấp uỷ Đảng, lãnh đạo Uỷ ban quan tâm và chỉ đạo Hàng năm, Uỷ ban đã có văn bản hướng dẫn công tác quy hoạch cán bộ gửi tới các Vụ, đơn vị dé thực hiện Công tác bổ nhiệm cán bộ được thực hiện đúng theo quy trình và quy hoạch Tổng số cán bộ công chức nữ của Uỷ ban là 188/395, chiếm 47,6% tổng số cán bộ công chức của Uỷ ban Trong đó: Cán bộ công chức nữ thuộc khối quản lý hành chính Nhà nước: 72/395 chiếm

18,2%; Đảng viên: 74/188 chiếm 39 3%}

Trang 6

Cong chirc Nữ là lãnh đạo cấp Vụ và tương đương hiện nay: là 8 đồng chí

(chiếm trên 17% trong số lãnh đạo cấp Vụ); Nữ lãnh đạo cấp phòng và tương

đương là 27 người (chiếm gần 40% trong, tổng số cán bộ lãnh đạo cấp phòng)

Công chức nữ trong Quy hoạch lãnh đạo cập Vụ và tương đương giai đoạn 2011-

2016 là 16 đồng chí (chiếm 25,3%), vượt chỉ tiêu quy định tại chiến lược quốc gia

vê bình đăng giới giai đoạn 2011 — 2020

Il Binh dang giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động

Trong những năm qua, việc triển khai các Chương trình dự án phát triển vùng

dân tộc và miên núi (Chương trình 135, Nghị quyết 30a, Chương trình phát triên

kinh tế - xã hội vùng biên giới hải đảo, vùng ATK, Quyết định số 1956/QĐÐ- -TTg

về việc phê duyệt Đào tạo nghề cho lao động nông thôn, ) vùng dân tộc và miễn

núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn đã có nhiều thay đổi về

cơ câu lao động việc làm Cùng với những thay đổi cơ cấu lao động theo xu hướng

phát triển kinh tế, Nhà nước đã có nhiều nỗ lực để giúp thanh niên vùng dân tộc

bắt nhịp với nhu cầu lao động của nền kinh tế thị trường Tuy nhiên do nhiều lý do

khác nhau, tỷ lệ nữ giới là người dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã

hội khó khăn có việc làm thâp hơn nhiều so với mức bình quân của tỉnh và toàn

quốc Nhất là đối với các huyện biên giới, vùng có tỷ lệ dân tộc thiểu số cao như

huyện Phong Thổ chỉ có 30% (bình quân tỉnh Lai Châu là 91,6%); huyện Đức Cơ

chỉ có 47% (bình quân tỉnh Gia Lai 69,5%); huyện An Phú là 37,9% (bình quân

tỉnh An Giang 55,5%) phụ nữ dân tộc thiểu số có việc làm

Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc tại

Uỷ ban, nam cũng như nữ đều bình đẳng, về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng,

được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, điều

kiện lao động và các điều kiện khác Công chức, viên chức, người lao động nữ nếu

cùng làm công việc như công chức, viên chức và người lao động nam thì được trả

lương như nhau Các cơ quan, đơn vị trực thuộc Uỷ ban đều thực hiện tuyển dụng

công chức, viên chức, người lao động theo đúng quy định Luật cán bộ, công chức,

pháp luật lao động, không phân biệt giới tính, thành phân xã hội Trong bồ trí công

việc, các cơ quan, đơn vị luôn quan tâm bố trí công việc tạo điều kiện cho cán bộ

nữ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao đồng thời thuận tiện cho việc chăm sóc gia

đình

II Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Trong những năm gần đây, nhờ có các chương trình dự án đầu tư cơ sở vật

chất trường, lớp học (Đề án Chương trình kiên cô hóa trường lớp học, Dự án phát

triển cơ sở hạ tầng thuộc Chương trình 135 giai đoạn II, .); những chính sách hỗ

trợ, thu hút giáo viên giảng dạy và làm việc tại các vùng đặc biệt khó khăn; sự

thay đổi nhận thức của chính cha mẹ học sinh và bản thân học sinh cùng với sự

tích cực tuyên truyền, vận động của cộng đồng và các cơ quan chức đã góp phần

tăng tỷ lệ dân sô biết chữ giữa vùng dân tộc và miền núi Theo thống kê của Tổng

điều tra dân số và nhà ở 01/4/2009 cho thấy, tỷ lệ biết chữ của dân số từ 10 tuổi

trở lên vùng Trung du và miền núi phía Bắc là thấp nhất cũng đã đạt được mức

87,3% (ty lệ chung của toàn quốc là 97,1), tiếp theo là Tây Nguyên đạt mức

6

Trang 7

88,7% Dang luu ý là tỷ lệ dân số nữ biết chữ : tăng nhanh và không còn chênh lệch nhiều so với nam giới Tuy nhiên tỷ lệ dân số biết chữ hiện nay lại giảm dần theo cấp học, kèm theo nó là càng ở độ tuổi càng cao thì sự chênh lệch về tỷ lệ dân số biệt chữ giữa nam và nữ càng cao Đây là một thực trạng bat binh đẳng về giới trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số Xuất phat tir han ché về trình độ văn hóa dẫn đến việc tiếp cận các vấn đề hiểu biết về xã hội và khoa học công nghệ trong giới nữ tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn cũng rất nhiều hạn ché

Với đội ngũ cán bộ, công chức nữ của Uỷ ban Dân tộc, trong những năm qua

Uỷ ban đã cử 50/188 lượt cán bộ, công chức, viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học đúng theo quy định, tiêu chuẩn, không phân biệt nam nữ Đối với một số khoá học có quan tâm để ưu tiên cho phụ nữ tham gia;

07 chị em được bố trí theo học Đại học tại chức và 13 chị em học cao học trong nước

trong đó có 09 chị em được tham gia lớp đào tạo Thạc sỹ quản lý hành chính công

và 02 chị đi học nghiên cứu sinh nước ngoài

Để tạo nguồn cán bộ và nâng cao trình độ lý luận chính trị, trình độ quản lý Nhà nước cho đội ngũ cán bộ câp Vụ và cấp phòng, nhiều cán bộ nữ đã được cử tham gia các lớp đào tạo bồi dưỡng Có 08 chị đã được cử đi học cao cấp lý luận chính trị tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Đến nay, 100% chị em là chuyên viên ở các Vụ, đơn vị đã được bồi dưỡng về Quản lý nhà nước; có 50 lượt chị em được bồi dưỡng về tin học; có 15 chị em được bồi dưỡng nghiệp vụ công tác dân tộc; 30 lượt các chị em được bồi dưỡng về nghiệp vụ kế toán, Ngoài ra, nhiều chị em còn tham gia các lớp bôi dưỡng về nghiệp vụ chuyên môn khác theo yêu cầu công việc như văn thư lưu trữ, ngoại ngữ, tiếng dân tộc Ngoài những lớp đào tạo và bồi dưỡng trong nước, trong thời gian qua đã có

20/188 lượt chị em tham gia học tập, nghiên cứu, khảo sát ở nước ngoài

IV Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số hệ thống cơ sở vật chất của ngành y

tế trong những năm qua đã được quan tâm đầu tư, đội ngũ cán bộ y tế đã được bồ sung cả vê sô lượng và chất lượng Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhất là chăm sóc sức khỏe ban đầu đã được những thành tựu nhất định, người dân ngày càng được tiếp cận các dịch vụ y tế nhiều hơn Tuy vậy, do đặc thù vê điều kiện đi lại khó khăn, sống phân tán, có nơi còn tồn tại những hủ tục, tập quán sinh nở lạc hậu, việc đầu tư cơ sở khám chữa bệnh và cán bộ y tế mới chỉ tập trung tại trung tâm xã và cụm xã, cho nên đối với đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn việc tiếp cận và được thụ hưởng các dịch vụ y tế còn ở mức độ còn thấp, nhất là việc chăm sóc bà mẹ mang thai và trẻ sơ sinh còn nhiều hạn chế

Riêng đối với đội ngũ cán bộ nữ của Uỷ ban Dân tộc để đảm bảo bình đẳng giới trong chăm sóc sức khoẻ, Ban Nữ công của Uỷ ban đã tổ chức những budi sinh hoạt nói chuyện chuyên đề về sức khoẻ, giáo dục nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khoẻ cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động Tuyên truyền ngăn ngừa phòng chống các dịch bệnh trong cộng đồng, tuyên truyền lối

7

Trang 8

sống lành mạnh, nâng cao chất lượng cuộc sống, chăm lo sức khỏe gia đình và

bản thân mình Tại các buôi sinh hoạt chuyên đề về giới lồng ghép việc vận động

nam giới chia sẻ trách nhiệm công việc gia đình, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ

em Hàng năm, Uỷ ban phối hợp với ngành chức năng tổ chức khám sức khoẻ cho

toàn thể cán bộ, công chức, viên chức Riêng đối với chị em được khám về sản

khoa, được bác sĩ tư vấn thêm để chị em sớm phòng ngừa chữa bệnh

Cán bộ, công chức viên chức nữ của Uỷ ban đều được nghỉ việc trước và sau

khi sinh và được đảm bảo quyên lợi hợp pháp theo đúng quy định Được lãnh đạo

cơ quan quan tâm, tạo điều kiện trong việc nuôi con nhỏ, chăm sóc con khi ôm đau

V Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin

j Đối với vùng dân tộc và miền núi công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật

vê bình đăng giới bước đâu được triên khai tới các co sở, một sô nơi đã triên khai

lồng ghép giới với một số chương trình phô biên kiên thức pháp luật như: Câu lạc

bộ phụ nữ - pháp luật, phụ nữ không sinh con thứ 3, phụ nữ không có tệ nạn xã

Công tác truyền thông bằng tiếng dân tộc đã được đài phát thanh VOV và

truyền hình VTV5 phát sóng 23 thứ tiếng dân tộc để tuyên truyền chủ trương,

chính sách của Đảng và Nhà nước Công tác truyền thông bằng tiếng dân tộc trên

đài phát thanh và đài truyền hình địa phương cũng được chú trọng Việc phát bản

tin, phóng sự giới thiệu về chính sách, pháp luật của nhà nước, các mô hình xóa

đói giảm nghèo, sản xuất kinh doanh giỏi theo từng điều kiện cụ thể của thôn, bản,

tăng dần về số lượng và thời lượng

Thực hiện Quyết định 975/QĐ-TTg và Quyết định số 2472/QĐ- TTg, hiện

nay đã có 2l đầu báo và tạp chí được cấp miễn phí cho các xã, thôn bản ĐBKK,

nhiều thôn bản đã thành lập câu lạc bộ đọc báo tại nhà văn hóa của thôn, bản và là

nơi trao đổi các kinh nghiệm sản xuất và làm kinh tế giỏi

Tại Uỷ ban Dân tộc, chính quyền và Công đoàn Ủy ban đã chỉ đạo, tổ chức

các buôi sinh hoạt văn hóa tập thể, văn nghệ, thể thao cho các cán bộ công chức

như: Tổ chức tốt Hội diễn thê thao, văn nghệ chào mừng các ngày lê lớn của đât

nước, ngày thành lập cơ quan công tác dân tộc; Tham gia Hội thao Công đoàn Viên

chức Việt Nam nhân kỷ niệm ngày thành lập công đoàn Việt Nam; Tổ chức buổi

Thi đấu giao lưu thể thao giữa công đoàn Đảng uỷ ngoài nước với Công đoàn Uỷ

ban Dân tộc; Tổ chức thăm quan cho nữ cán bộ, viên chức và người lao động tại Uỷ

ban Dân tộc nhân kỷ niệm ngày thành lập Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (20/10),

tổ chức liên hoan đêm Trung thu và tết thiếu nhi 1/6 cho con em cán bộ cơ

quan với tỉnh thần lành mạnh, thiết thực và tiết kiệm Các hoạt động thể thao văn

hoá văn nghệ được đông đảo chị, em phụ nữ cơ quan tham gia hưởng ứng tích cực,

tạo nên phong trào rèn luyện thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ cơ quan

Uỷ ban Dân tộc đã tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc các Dân tộc

thiểu số Việt Nam với sự tham gia của 1.259 đại biểu; trong đó, có 428 đại biểu nữ

chiếm 34%, đây là một trong những sự kiện chính trị, văn hóa nổi bật, lần đầu tiên

tổ chức với quy mô cả nước, được Đảng và Nhà nước quan tâm, nhân dân cả nước

§

Trang 9

đồng tình hưởng ứng, được bạn bè quốc tế theo dõi Uỷ ban cũng phối hợp với các

Bộ, ngành liên quan tô chức cuộc trình diễn trang phục truyền thông cộng đồng các dân tộc Việt Nam lần thứ I và cuộc thi Hoa hậu các dân tộc Việt Nam lần thứ II,

thông qua cuộc thi đã nêu bật vai trò của Phụ nữ đẹp trong hoạt động văn hóa, văn

nghệ trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

VI Bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình

Thành tựu của bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình và kế hoạch hóa gia đình là một yếu tố cơ bản góp phần thực hiện chính sách dân số ở nước ta thành công Các hoạt động truyền thông dân số - kế hoạch hóa gia đình, các vấn đề về giới, giới tính, bình đẳng giới, bất bình đẳng giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội đa dạng, phong phú nhằm thu hút sự quan tâm của nam giới và nữ giới trong việc thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình được thực hiện các vùng miền của cả nước Tuy vậy mức chuyển biến ở vùng dân tộc thiểu số vẫn còn chậm; việc phân công lao động giữa nam và nữ trong gia đình vẫn theo khuôn mẫu truyền thống Phần lớn phụ nữ ở các xã vùng cao của Việt Nam bị giới hạn và gần như bị gói gọn trong phạm vi gia đình Người phụ nữ, thậm chí có nghề nghiệp nhưng vần bị lệ thuộc vào nam giới, họ ít có quyên tự chủ và quyền lực hơn và phải chịu trách nhiệm lớn hơn nhiều trong việc chăm sóc gia đình

Trong các nhóm dân tộc mẫu hệ, mặc dù phụ nữ có tiếng nói quyết định hơn trong gia đình nhưng phân công lao động giới ở những cộng đồng này cũng không khác nhiều so với các dân tộc phụ hệ Một sô nhóm dân tộc còn xảy ra tình trạng tảo hôn Tảo hôn có liên quan đến tập tục mm hiểu nhau của thanh niên nam nữ

các dân tộc khi họ còn rất trẻ, như “đi sim” của người Vân Kiều, tục “ngủ thảo”

của người Raglai, tục “chọc sàn, ngủ thăm” của người Thái Tỷ lệ trẻ em nữ tảo hôn cao hơn trẻ em nam

Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình của đội ngũ cán bộ, công chức Uỷ ban Dân tộc luôn được Công đoàn quan tâm sâu sắc, hàng năm Ban Chấp hành Công đoàn đều tổ chức các hoạt động thăm hỏi động viên gia đình có hoàn cảnh khó khăn, thông qua nội dung hoạt động đã nhận sự thông cảm, sẻ chia và động viên từ phía gia đình, góp phần để cán bộ, công chức viên chức, người lao động trong cơ quan vượt qua khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và trên hết là củng cố hạnh phúc gia đình, xoá bỏ bạo lực gia đình

VII Nang cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Được sự quan tâm của Ban cán sự, Lãnh đạo Ủy ban và Đảng ủy cơ quan, vai trò của Ban được chú trọng Công tác tham mưu đề xuất các giải pháp, biện pháp thực hiện quyền và nghĩa vụ của cán bộ, công chức viên chức nữ được quan tâm hơn Trong tô chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, các đơn vị luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của chị em phụ nữ Hầu hết các thành viên của Ban đều

là cán bộ phụ trách và lãnh đạo các Vụ, đơn vị trong Ủy ban, đây là điều kiện thuận lợi và thế mạnh của đơn vị trong việc lồng ghép chỉ đạo các hoạt động bình đẳng giới Công tác quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, dé bạt, bổ nhiệm cán bộ nữ vào các chức danh lãnh đạo ngày càng được quan tâm hơn Trong hai năm gần đây đã

có 03 đồng chí được đề bạt chức danh Vụ phó, Vụ trưởng và hàm Vụ trưởng; có

9

Trang 10

12 đồng chí được đề bạt, bổ nhiệm chức danh Phó trưởng phòng Các quyền lợi

hợp pháp về việc làm, đào tạo, bồi dưỡng, thi đua khen thưởng, các chế độ chính

sách được đảm bảo; các dịp kỷ niệm ngày phụ nữ Việt Nam, ngày Quốc tế phụ nữ

luôn được Cấp ủy, cơ quan và các tô chức đoàn thể quan tâm, tô chức thăm hỏi,

động viên chị em phụ nữ Công tác phối hợp giữa Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ

với chính quyền, các tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên trong việc bảo vệ quyền

và lợi ích của phụ nữ ngày càng đồng bộ và chặt chẽ hơn

Tổ chức triển khai thực hiện Chương trình quốc gia về Bình đẳng giới giai

đoạn 2011 — 2015, Uỷ ban Dân tộc đã ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình

Quốc gia về bình đắng giới giai đoạn 2012-2015 của Uỷ ban Dân tộc và triển khai

thực hiện Chiến lược ' Quốc gia về bình đăng giới với các mục tiêu cụ thể: Tăng

cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước

giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, việc làm;

tăng cường khả năng tiếp cận của phụ nữ khó khăn, phụ nữ người dân tộc thiểu số

đối với các nguồn lực kinh tế, thị trường lao động Nâng cao chất lượng nguồn

nhân lực nữ, từng bước đảm bảo sự bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực giáo

dục, đào tạo Bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ

chăm sóc sức khoẻ Bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá và thông tin

Bảo đảm quyền bình đăng giới trong đời sông gia đình, từng bước xoá bỏ bạo lực

trên cơ sở giới Nâng cao nhận thức về bình đăng giới và kỹ năng lồng ghép giới

của đội ngũ, cán bộ công chức trong cơ quan Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức

nữ của cơ quan, đơn vị có phẩm chất đạo đức, có năng lực hoạt động Tiếp tục

nâng cao vai trò, vị trí và tăng cường sự tham gia của công chức, viên chức, người

lao động nữ trong bộ máy lãnh dao co quan, don vi va tô chức Đảng, đoàn thể

Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ của Uỷ

ban; Tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào hoạt động chuyên môn và các phong

trào chung của cơ quan, của ngành

PHẢN II

ĐÁNH GIÁ CHUNG

I Kết quả đạt được

Sau 5 năm triển khai Luật Bình đẳng giới và thông qua các hoạt động tuyên

truyền, quán triệt các văn bản Luật và dưới luật cho thây những kết quả đáng ghi

nhận với các chỉ số về bình đẳng giới thông qua số lượng phụ nữ tham chính ngày

càng tăng Kết quả cung cấp các dịch vụ y tế và giáo dục tới các trẻ em gái Và trẻ

em trai, phụ nữ và nam giới ngày càng thu hẹp khoảng cách Sự chênh lệnh về tỷ

lệ nhập học giữa các em nữ và các em nam đã có bước chuyền biến tích cực Tỷ lệ

chênh lệch về mù chữ của nữ giới so với nam giới ngày càng giảm Việc triển khai

các biện pháp thực hiện hoạt động bình đăng giới tại vùng dân tộc và miền núi

bước đầu đã đạt được một số kết quả tiến bộ Tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động

chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội tăng dần, đồng bào dân tộc đã bắt đầu có nhận

thức về giới, góp phần giảm dần khoảng cách về giới và dần dần xóa bỏ định kiến

về giới Nhận thức của các cấp, của cán bộ, đảng viên và người lao động về bình

10

Ngày đăng: 20/03/2013, 14:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Tình hình 5Š năm thực hiện Luật Bình đăng giới - Báo cáo tình hình 5 năm về thực hiện bình đẳng giới
nh hình 5Š năm thực hiện Luật Bình đăng giới (Trang 1)
Trên đây là báo cáo tình hình 5 năm thực hiện Luật Bình đẳng giới của Uỷ ban  Dân  tộc  xin  gửi  Quý  cơ  quan  xem  xét  tổng  hợp⁄2⁄  - Báo cáo tình hình 5 năm về thực hiện bình đẳng giới
r ên đây là báo cáo tình hình 5 năm thực hiện Luật Bình đẳng giới của Uỷ ban Dân tộc xin gửi Quý cơ quan xem xét tổng hợp⁄2⁄ (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w