1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo khoa học: "nguyên lý cơ bản động lực học nền đ-ờng sắt d-ới tác dụng của tải trọng trục lớn và tốc độ cao" docx

5 406 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 230,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nguyên lý cơ bản động lực học nền đường sắt dưới tác dụng của tải trọng trục lớn vμ tốc độ cao PGs.. Trong quá trình truyền tải trọng đó, lớp mặt nền đường có tác dụng “đỡ trên-truyền dư

Trang 1

nguyên lý cơ bản động lực học nền đường sắt dưới tác dụng của tải trọng trục lớn vμ tốc độ cao

PGs TS nguyễn thanh tùng

ths trần quốc đạt

Bộ môn Đường sắt - ĐH GTVT

Tóm tắt: Bμi báo đề cập đến những quan điểm mới trong tính toán nền đường sắt khi

đoμn tμu chạy với tốc độ cao, tải trọng trục lớn Theo quan điểm tính toán trước đây khi tính toán tác dụng của đoμn tμu đối với nền đường người ta coi tải trọng tác dụng lμ tải trọng trục (*), nghĩa lμ mới chỉ xét đến tác dụng tĩnh của đoμn tμu Thực tế nền đường phải chịu lực tác dụng lớn hơn do ảnh hưởng của sự chuyển động của đoμn tμu bên trên ảnh hưởng nμy lμ không

đáng kể khi tốc độ đoμn tμu thấp, tải trọng nhỏ; nhưng ảnh hưởng trên sẽ rất lớn nếu đoμn tμu chạy tốc độ cao, tải trọng lớn ảnh hưởng nμy chính lμ tác dụng động lực của đoμn tμu đối với lớp mặt nền đường

Summary: The article refers to new views in calculating rail ground when train is running

at high speed with big axial load In former views, when calculating train's effect to the ground, affecting load is considered as axial load (*) it mean only static effect of train is taken in to account In practice, the ground has to bear bigger load due to train's movement above Such effect is not remarkable if train runs at high speed with big load This effect is the very train's to the ground's wearing course

Việc hiện đại hóa các công cụ vận tải,

đặc biệt là sự phát triển mau lẹ của ngành

hàng không và ngành vận tải cao tốc trên

đường bộ đã khiến cho vận tải đường sắt phải

đối mặt với một cuộc cạnh tranh khốc liệt; để

đương đầu với thách thức này ngành đường

sắt rất bức thiết phải có được những mô hình

và phương thức vận tải mới

Việc phát triển các tuyến chạy tàu nặng,

chạy tàu tốc độ cao đã đánh dấu một thời kỳ

phát triển mới của ngành đường sắt, nó không

những thúc đẩy việc cải tiến đổi mới các thiết

bị di động trên đường sắt (như đầu máy, toa

xe, một số thiết bị thông tin, tín hiệu ) mà còn

làm thay đổi sâu sắc cả những quan niệm

truyền thống về thiết kế, thi công các công

trình cố định, đồng thời đặt ra nhiều thách thức mới Đối với công trình nền đường, các nội dung trên thể hiện ở chỗ:

- Phương pháp thiết kế nền đường đã phát triển từ chỗ chỉ đơn thuần phân tích tải tĩnh tới chỗ xem xét tác dụng động lực của tải trọng đoàn tàu - tức là đã bước đầu tiếp cận vấn đề phương pháp thiết kế động lực trên nền đường

- Trong thiết kế nền đường, ngoài yêu cầu thoả mãn điều kiện cường độ, còn bắt buộc phải khống chế được mức biến dạng

1 Khái niệm

ở đây chúng ta quan niệm nền đường sắt gồm có 2 phần chính: lớp mặt nền đường và

Trang 2

lớp móng Lớp mặt nền đường tính từ đáy lớp

đá ba lát xuống đến một chiều sâu tính toán

nào đó, còn lớp móng là phần còn lại bên dưới

của nền đường

Khi đoàn tàu chạy trên ray, tải trọng bánh

xe qua ray, tà vẹt, nền đá tác dụng lên lớp

mặt nền đường, sau đó từ lớp mặt nền đường

truyền xuống phần bên dưới và tới móng nền

đường Trong quá trình truyền tải trọng đó, lớp

mặt nền đường có tác dụng “đỡ trên-truyền

dưới”, là một lớp chịu lực, đỡ tải của kiến trúc

tầng trên và của đoàn tàu Mức độ tác dụng

động lực của tải trọng đoàn tàu với lớp mặt

nền đường được biểu thị bằng ứng suất động

(lực nén động) trên lớp mặt nền đường

Hình 1 là dạng hình sóng của ứng suất

động đo được tại thực địa ở một điểm A trên

lớp mặt nền đường Khi tải trọng bánh xe từ xa

tiến gần đến điểm đo, ứng suất động lớp mặt

nền đường tăng dần, khi hai bánh xe đến

đúng phía trên điểm đo - tức là đúng lúc bánh

xe thông qua vị trí đo, ứng suất động đạt tới

giá trị cực đại (xem đỉnh nhọn trong hình vẽ),

tiếp đó bánh xe chuyển động xa dần điểm đo

- ứng suất động giảm dần Từ đó có thể thấy

rõ tác dụng của bánh xe trên lớp mặt nền

đường bao gồm quá trình tăng tải và quá trình

giảm tải, tức là mặt nền đường đã chịu động

lực trùng lặp của tải trọng bánh xe Số lượng

trùng lặp này là số trục bánh xe qua điểm đo

Tuyến đường có cường độ hóa vận càng cao

thì số lần xuất hiện tác dụng trùng lặp càng

lớn

Hình 1 Hình dạng sóng của ứng suất động đo

được trên mặt nền đường

Trong hình 1, sau khi bánh xe thứ nhất của giá chuyển hướng chạy qua, ứng suất

động trên lớp mặt nền đường giảm đến một mức nhất định, nhưng chưa phải bằng không, rồi lại bắt đầu tăng lên do tác dụng của giá chuyển hướng toa xe tiếp sau tiến dần đến

điểm đo A

Nếu lấy:

P tương ứng với đỉnh cao của sóng

PP

’ tương ứng với đỉnh thấp của sóng

Ta có P’/P là tỉ số giảm tải

chuyển hướng sẽ tương đương với hai lần tăng giảm tải trên lớp mặt nền đường, khi P’/P → 0 (tiếp cận đến 0) hoặc < 0 thì ở những nơi trạng thái lớp mặt nền đường kém (như bị đọng nước, mềm yếu, phọt bùn) sẽ khiến cho tình trạng mặt nền đường càng thêm xấu

Nếu P’/P → 1, một giá chuyển hướng chỉ tương đương với một lần tăng tải, số lần trùng (phi) lặp của tải trọng đoàn tàu đối với lớp mặt nền đường giảm đi một nửa, do đó có thể kéo dài chu kì duy tu bảo dưỡng đường Trị số P’/P không những chỉ có quan hệ với số trục và khoảng cách trục của đầu máy toa xe mà còn liên quan mật thiết với kết cấu đường như độ cứng của nền đá, mặt nền đường, loại hình ray, tà vẹt

2 ứng suất động ở lớp mặt nền đường

Dùng trị số đỉnh của hình dạng sóng ứng suất động để biểu thị trị số ứng suất động lớp mặt nền đường, trị số ứng suất động này thường tập trung trong phạm vi 50 - 70 kPa (0,5 - 0,7 kg/cm2), trị số lớn nhất có thể đạt

110 kPa (1,1 kg/cm2)

Trị số ứng suất động chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: loại hình toa xe, tốc độ chạy tàu, loại kết cấu đường, trạng thái không êm thuận

Trang 3

của đường Tại Nhật Bản, người ta đã đo ứng

suất động ở lớp mặt nền đường với các điều

kiện tải trọng trục và tốc độ chạy tàu khác

nhau, từ đó thông qua phân tích lý luận đã đi

đến kết luận: “Thông thường, tải trọng 1 bánh

xe được truyền xuống cho 5 thanh tà vẹt chịu

theo các tỉ lệ 10%, 20%, 40%, 20% và 10%”

Viện khoa học và trường Đại học giao thông

Tây Nam cũng thu được kết quả đo thử tương

tự tại hiện trường và cũng có kết luận tương tự

Dựa vào cơ sở nêu trên, người ta đã xây

dựng công thức thực nghiệm để tính ứng suất

động lớp mặt nền đường như sau:

- Đường sắt thường:

σd = α.PS (1 + 0,3V/100)/A (1)

- Đường sắt cao tốc:

σd = α.PS (1 + 0,5V/100)/A (2)

trong đó:

PS - tải trọng tĩnh của trục (kN);

V - tốc độ chạy tàu (km/h), nếu V > 300

vẫn tính với V = 300;

A - một nửa diện tích phân bố lực nén

của lớp đá ba lát;

α - Hệ số phân bố lực trên tà vẹt, α = 0,4

Dưới tác động của tải trọng động, ứng

suất động sẽ giảm dần theo chiều sâu Nói

chung, ở phạm vi 0,6 m dưới mặt nền đường,

ứng suất động sẽ suy giảm rất nhanh Theo

kết quả đo được của trường Đại học giao

thông Tây Nam cho biết ở chiều sâu 0,6 m

dưới bề mặt nền đường, ứng suất động bằng

40% trị số trên mặt nền đường Khi chiều sâu

tính từ mặt nền đường đạt tới một mức nhất

định (theo số liệu đo ở Trung Quốc và một số

nước thì thông thường mức độ này là khoảng

3m), tỉ số giữa ứng suất động và ứng suất do

trọng lượng bản thân đất đắp nền đường tạo

ra nhỏ hơn 20% Do đo, ứng suất động của

nền đường ở phần dưới độ sâu này có thể bỏ

qua không xét đến

Khoảng cách từ độ sâu này tới bề mặt nền đường được coi là phạm vi của lớp mặt nền đường

3 Biến dạng của nền đường

Như trên đã nói, dưới tác dụng của ứng suất động do tải trọng đoàn tàu gây ra được lặp lại nhiều lần, lớp mặt nền đường sẽ có biến dạng dư, sự lặp lại của ứng suất động qua số lần tác động trùng phục làm tăng sự tích luỹ của biến dạng dư Do đó, sự phá hoại của đất thuộc lớp mặt nền đường hoặc sự biến dạng quá lớn của nó, không phải là phát sinh trong một thời gian ngắn mà là kết quả của sự tích lũy lâu dài

Theo kết quả nghiên cứu của Health ở London, dưới điều kiện các ứng suất động khác nhau thì sự biến đổi của biến dạng có thể chia thành 2 nhóm:

Hình 2 Quan hệ giữa biến dạng tương đối

tích luỹ vμ số lần chịu tải tác dụng N

- ở nhóm thứ nhất, tốc độ biến đổi của biến dạng dư tích lũy sẽ chậm dần theo số lần cho tải tác dụng và cuối cùng có xu hướng ổn

định - ta xếp nhóm này vào loại hình suy giảm

- ở nhóm thứ hai, tốc độ biến đổi của biến dạng dư tích lũy sẽ tăng dần theo số lần cho tải tác dụng, khi số lần tác dụng của tải không ngừng tăng lên thì sẽ xảy ra hiện tượng phá hoại Ta xếp nhóm này vào loại hình phá hoại

Trang 4

Như vậy, nếu ứng suất động ở lớp mặt

nền đường < ứng suất động giới hạn (cường

độ động) của đất lớp mặt nền đường thì ta có

thể khống chế biến dạng dẻo của lớp mặt nền

đường

Một số công trình nghiên cứu đã nêu rõ:

trong điều kiện ứng suất động ở mức thấp thì

quan hệ giữa biến dạng tương đối tích luỹ

thuộc loại hình suy giảm với số lần đặt tải N

có thể biểu thị như sau:

εp = α + βlogN (3)

trong đó: α, β là các hệ số liên quan đến mức

ứng suất và tính chất của đất

Đối với loại hình phá hoại, quan hệ giữa

biến dạng tương ứng tích luỹ và số lần đặt tải

N như sau:

A, b - các hệ số liên quan mức ứng suất

và tính chất đất

4 Môđun đμn hồi động của lớp

mặt nền đường E d

Khi chúng ta coi nền đường là một kết

cấu phân tầng, gồm nhiều lớp khác nhau, thì

có thể dùng lý thuyết đàn hồi để phân tích ứng

suất động và biến dạng tương ứng của chúng

Do đó, có thể dùng môđun đàn hồi như là một

tham số quan trọng để phân tích kết cấu nền

đường Việc khống chế trị số môđun đàn hồi

đường

Ed =

d

d

ε

σ

trong đó:

σd - ứng suất động;

εd - biến dạng đàn hồi tương ứng với σd

ngoài, không liên quan đến tính chất cơ lý của

đất Biến dạng đàn hồi εd là kết quả của phản ứng động của đất, trị số εd phụ thuộc loại đất,

σd, N Như vậy Ed là một biến trị (không phải

là một trị số nhất định)

- Khi σd > σd giới hạn của đất (loại hình phá hoại) sẽ xuất hiện biến dạng dư Sau một

số lần đặt tải nhất định, mẫu đất tiếp cận đến trạng thái phá hoại cắt Khi đó không còn tồn tại Ed

- Khi σd < σd giới hạn của đất (loại hình suy giảm): N càng tăng thì biến dạng dư càng giảm Sau một số lần đặt tải nhất định, mẫu

đất tiếp cận trạng thái đàn hồi Ed hướng về một trị nhất định

Để nền đường làm việc bình thường, ta chỉ xét trường hợp sau, tức là chỉ xét trường hợp nền đường làm việc trong giai đoạn đàn hồi với một giá trị Ed không đổi

5 Kết luận

Như vậy đối với nền đường sắt dùng cho tàu tốc độ cao, tải trọng lớn thì quan điểm tính toán mới khác với quan điểm tính toán cũ ở hai vấn đề cơ bản:

- Xét đến tác dụng động lực của đoàn tàu thông qua giá trị ứng suất động σd và khống chế mức độ biến dạng của nền đường thông qua giá trị môđun đàn hồi Ed

- Mô hình tính toán nền đường ở đây thường là mô hình đa tầng Tức là chia nền

đường thành các lớp khác nhau với các vật liệu đắp khác nhau Lớp trên cùng gọi là lớp mặt nền đường Từ các giá trị Ed, σd để tính toán ra chiều dày lớp mặt nền đường hợp lý, sao cho có thể chịu được tải trọng động của

đoàn tàu bên trên và độ biến dạng đàn hồi của lớp mặt nền đường nằm trong phạm vi cho phép

(*) Tải trọng trục được xác định theo công thức:

Trang 5

P =

cn

trục

L

P

Σ

, T/m

trong đó:

cứng nhắc của đầu máy;

trong quá trình chuyển động

Tài liệu tham khảo

[1] Tần Anh, Tμo Tân Văn Nghiên cứu bước đầu

về ứng suất động giới hạn và biến dạng vĩnh cửu của đất đắp nền đường dưới điều kiện chịu tải lặp Học báo đại học giao thông Tây-Nam Vol 31 (2),1996

[2] Lư Vĩnh Quý vμ các tác giả Đặc tính động thái

của đất sét vàng vùng Thành Đô và đất vôi Công trình nền đường Số 3, 1988

[3] Li DQ Cumulative plastic deformation of fine-grained subgrade soils.J of Geo Engrg - Vol

122 No 12 Dec, 1996

[4] Li D L Method for railroad foundation design development J of Geotechnical and Geoen-vironment Engineering, Vol 124 No 4 April,

1998

[5] Vương Kỳ Xương Công trình đường sắt cao tốc

NXB Đường sắt Tây Nam - Trung Quốc năm

2000 Ă

Ngày đăng: 06/08/2014, 05:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 là dạng hình sóng của ứng suất - Báo cáo khoa học: "nguyên lý cơ bản động lực học nền đ-ờng sắt d-ới tác dụng của tải trọng trục lớn và tốc độ cao" docx
Hình 1 là dạng hình sóng của ứng suất (Trang 2)
Hình 2. Quan hệ giữa biến dạng tương đối                  tích luỹ vμ số lần chịu tải tác dụng N - Báo cáo khoa học: "nguyên lý cơ bản động lực học nền đ-ờng sắt d-ới tác dụng của tải trọng trục lớn và tốc độ cao" docx
Hình 2. Quan hệ giữa biến dạng tương đối tích luỹ vμ số lần chịu tải tác dụng N (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w