Sơ lược về tính chất một số vật liệu bao che thông dụng Bên cạnh tầm quan trọng về hình thức và giá trị kinh tế, vật liệu bao che cho nhà và công trình còn có vai trò quyết định đối v
Trang 11 Sơ lược về
tính chất một số
vật liệu bao che
thông dụng
Bên cạnh tầm quan
trọng về hình thức và
giá trị kinh tế, vật liệu
bao che cho nhà và
công trình còn có vai trò
quyết định đối với việc
thiết kế kết cấu chịu lực
khi xét đến trạng thái
giới hạn sử dụng, điều
này có thể thấy rõ trong
quy định của TCVN
5575:1991 - Kết cấu
thép - Tiêu chuẩn thiết
kế, [5, trang 75]
Các yêu cầu chính
đối với vật liệu bao che
nhà công nghiệp thường
là:
- Đảm bảo ngăn
được nước mưa (kín, khít, không nứt rạn );
Tìm hiểu sự khống chế bởi vật liệu bao che
đối với giới hạn chuyển vị ngang
khung thép nhμ công nghiệp
NCS Từ đức hoà
Bộ môn Sức bền vật liệu - ĐH GTVT
Tóm tắt: Bên cạnh tầm quan trọng về hình thức vμ giá trị
kinh tế, vật liệu bao che cho nhμ vμ công trình còn có vai trò quyết định đối với việc thiết kế kết cấu chịu lực khi xét đến trạng thái giới hạn sử dụng Bμi báo trình bμy một số kết quả khảo sát
sự khống chế của vật liệu bao che đối với giới hạn chuyển vị ngang khung thép nhμ công nghiệp
Summary: Together with importance of appearance and
cost, covering materials of buildings also play decisive roles over designing of main structure regarding for serviceability limit state The paper presents some results of the research on rules of covering materials over limits of horizontal deflection steel frames
of industrial buildings.
- Đảm bảo ngăn được ánh nắng, che chắn được gió ;
- Đảm bảo bền vững, không gây nguy hiểm cho người làm việc trong nhà;
- Đảm bảo yêu cầu của kiến trúc;
- Đảm bảo các yêu cầu riêng theo công nghệ
Bảng 1
Phân loại khả năng lμm việc của vật liệu bao che
TT Loại vật liệu Chịu gió Tự mang Chịu lực với kết cấu nhà Điểm Nhóm Ghi chú
Trong khuôn khổ bảng này số
điểm càng cao cho thấy khả năng làm việc của vật liệu đa dạng hơn
Chú thích về các chỉ tiêu đánh giá:
** : rất tốt : 4 điểm;
* : tốt : 2 điểm;
+ : tương đối tốt : 1 điểm;
- : không tốt : 0 điểm
Trang 2Có thể tóm tắt một số đặc điểm về khả năng chịu lực của các loại vật liệu bao che nhà
công nghiệp thành các nhóm như sau:
Nhóm 1: Có khả năng chịu áp lực vuông góc với mặt phẳng tấm, có khả năng chịu tải trọng
trong mặt phẳng bản thân tấm lợp, có khả năng làm việc đồng thời với kết cấu khung nhà
Nhóm 2: Có khả năng chịu áp lực vuông góc với mặt phẳng tấm, có khả năng chịu tải trọng
(nén hoặc kéo) trong mặt phẳng tấm lợp
Nhóm 3: Có khả năng chịu áp lực vuông góc với mặt phẳng tấm, không có khả năng chịu
tải trọng trong mặt phẳng tấm lợp
Nhóm 4: Không có khả năng chịu áp lực vuông góc với mặt phẳng tấm, không có khả
năng chịu tải trọng trong mặt phẳng tấm lợp
Tính chất cơ lý của các nhóm vật liệu xây dựng nói chung khác nhau, do đó điều kiện để
vật liệu bao che làm việc bình thường (không nứt, rạn, vỡ ) là rất khác nhau Giả sử có các tấm
vật liệu hình chữ nhật bề rộng bằng nhau (b1 = b2 = = bi = 100 cm), để có một độ cứng chống uốn (EJ)i tương đương nhau thì có chiều dày hi khác nhau; so với tiết diện tường
b1 x h1 = 100 cm x 22 cm thì các tấm vật liệu có bề dày quy đổi như trong bảng 2
Bảng 2
So sánh theo bề dμy tấm vật liệu tiết diện chữ nhật
TT
1 Gạch
lấy giá trị (EJ) 1 này làm chuẩn để xác định h 2,3,4
2 Thép
h2 = power{[(E1J1 x 12/(E2 x b2)],1/3}
3 Kính
h3 = power{[(E1J1 x 12/(E3b3)],1/3}
h4 = power{[(E1J1 x 12/(E4 x b4)],1/3}
Thực tế cho thấy tấm kính trong xây dựng chỉ có bề dày từ 0.5cm đến 1cm, nghĩa là mỏng
hơn khoảng từ 15 đến 8 lần so với điều kiện tương đương tường gạch dày 22cm Như vậy, với
vật liệu có bề dày nhỏ như kính, gạch ốp lát thì sự bền vững của chúng tuỳ thuộc vào kích
thước tấm (mảng) và vào độ biến dạng của các khung (nền- base) mà vật liệu này tựa vào Kích
thước và bề dày tấm kính chọn được hãng Pittsburgh Plate Glass Co khuyến cáo, [6], [10], dưới
dạng biểu đồ như trên Hình 1
Trong số 9 loại vật liệu thông dụng liệt kê trong Bảng 3 chỉ có tôn và tấm nhựa có khả năng
chịu uốn tốt, nghĩa là kết cấu biến dạng, chuyển vị thế nào thì vật liệu bao che có thể biến dạng
và chuyển vị theo như vậy; 7 loại còn lại dễ nứt rạn khi bị uốn, do đó trước khi xem chuyển vị
ngang của nhà có ảnh hưởng đến kết cấu hay không thì phải xem vật liệu bao che có bị tổn hại
hay không
Trang 3(1.394) 15
(1.858) 20
(2.787) 30
(3.716) 40
(4.645) 50
(5.574) 60
(7.432) 80
(9.29) 100
(13.935) 150
(18.58) 200
(27.87) 300
10 15 20 30 40 50 60 80 100 150 200 300 (pound/ft2)
1 inch (2.54cm)
3/4 inch (1.91cm)
1/2 inch (1.27cm)
3/8 inch (0.95cm)
5/16 inch (0.79cm)
1/4 inch (0.64cm)
13/64 inch (0.52cm)
1/8 inch (0.32cm) (0.929) 10
48.82 97.64 195.29 390.59 976.48 1’464.729 (kg/m2)
áp lực gió
(m2) ft2
Diện tích mảng kính Ký hiệu bề dμy kính
Hình 1 Tương quan giữa bề dμy, diện tích vμ áp lực trên bề mặt tấm kính
Bảng 3
Phân loại mức độ ưu tiên khi xem xét về chuyển vị ngang của khung nhà.
Mức độ ưu tiên cần xem xét đến
chịu lực
vật liệu bao che
yếu tố tâm
lý
Ghi chú
Trong khuôn khổ bảng này chỉ số có giá trị nhỏ cho thây mức độ ưu tiên cao
Tiêu chí có tên “yếu tố tâm lý” được nêu ra với ý nghĩa cần xem xét sự chuyển vị ngang có gây cảm giác sợ hãi (cảm giác bị đe doạ, bất an) đối với người sử dụng hay không; đối với tất cả các loại vật liệu đã nêu đều có thể xếp tiêu chí này thứ 2 Những tên gọi và tính chất nêu trong
Bảng 3 chỉ ở mức tương đối, thường được người thiết kế nêu ra phục vụ định hướng lựa chọn vật
liệu cho công trình Bên cạnh đó, việc phân tích những mặt hạn chế của vật liệu tuỳ thuộc công
nghệ sản xuất của nhà xưởng cũng được đề cập đến (Bảng 4) Trong các tài liệu kỹ thuật của
nước ngoài, [6], [9], [10], [12] , yếu tố chống ăn mòn và chống cháy thường được đề cập đến
Trang 4Bảng 4
So sánh khả năng lμm việc trong môi trường sản xuất.
Khả năng chịu tác động ở môi trường sản xuất
TT Loại vật liệu
Chịu lửa
Ăn mòn
Nhiệt
ẩm
Cách
âm
Rung
động Tuổi thọ
Điểm Ghi chú
Trong khuôn khổ bảng này
số điểm càng cao cho thấy vật liệu càng
có khả năng làm việc đa dạng hơn
Chú thích về các chỉ tiêu đánh giá:
** : rất tốt : 4 điểm;
* : tốt : 2 điểm;
+ : tương đối tốt : 1 điểm;
- : không tốt : 0 điểm
2 Sơ đồ chịu lực của vật liệu bao che
Theo phương vuông góc với mặt phẳng tấm bao che thì trước khi truyền tác động của tải trọng đến kết cấu khung thì bản thân vật liệu bao che phải đủ bền để không bị hư hại, điều này
phụ thuộc vào các kết cấu phụ của khung nhà mà vật liệu bao che tựa vào (hình 2) Thông
thường người ta không xét đến sự làm việc đồng thời của vật liệu bao che với kết cấu thép của khung nhà trong trường hợp này, trừ một số cấu tạo đặc biệt, mà thường xét đến hạn chế biến dạng, chuyển vị của kết cấu khung, nhằm tránh làm tổn hại vật liệu bao che Trái lại, theo phương trong mặt phẳng của tấm vật liệu bao che nhiều trường hợp có thể kể đến sự làm việc
đồng thời của vật liệu với khung nhà
Sự làm việc của vật liệu bao che như một hệ giằng cho kết cấu nhà là điều thường gặp trong thực tế khi hệ bao che làm bằng bê tông, bê tông cốt thép, [1], [6], [13], [14], ví dụ: khi tường bằng bê tông; khi tấm lợp mái bằng bê tông cốt thép, nhất là với khung nhà cũng bằng BTCT; hoặc dạng kết cấu bê tông cốt thép tấm lớn Lúc này tường hoặc tấm lợp được xem như miếng cứng có khả năng chịu lực trong mặt phẳng bản thân; hoặc được xem là thanh xiên chịu nén có tác dụng tham gia chịu lực cùng hệ kết cấu chính
Đối với nhà có kết cấu và bao che bằng thép thì trong thực tiễn xây dựng ở Việt Nam việc xem tấm lợp mái như một hệ giằng ít gặp hơn, thường chỉ là loại nhà tiền chế S15Z/6-6 của Tiệp Khắc, có tên gọi phổ biến là "khung kho Tiệp", [11]; hoặc loại SB-18m của CHDC Đức (trong khuôn khổ viện trợ quân sự trước đây) Khác với loại nhà SB-18m, “khung kho Tiệp”
S15Z-6-6-48 được thiết kế không có bao che xung quanh, kích thuớc điển hình của nhà là: khẩu độ 15m, dài 48 m (8 bước cột 6 m), chiều cao đến đỉnh cột là 6 m Tôn lợp và xà gồ được xem là hệ giằng mái Trên bản vẽ “Steel Hall S15Z-I-6-6-48, 1-113-000-000”, [11], có ghi rõ (tạm dịch):
“Tấm lợp mái cùng lμm việc với kết cấu, do đó việc liên kết tôn với xμ gồ phải đảm bảo mỗi tấm
tôn kê lên bốn hμng xμ gồ vμ 3 vít với mỗi xμ gồ Vít liên kết tôn với tôn (vị trí tiếp giáp nhau)
Trang 5phải đảm bảo khoảng cách 500mm suốt dọc mái, có tất cả 79 dải tiếp giáp như thế (theo chiều dμi nhμ) Hệ mái đảm nhận vai trò giằng gió cho mái nhμ”
a) T ư ờn g đứ n g đ ộ c lập b ) T ườ n g tự a trên , d ướ i
d ) T ườ n g tự a b ốn cạnh c) T ư ờn g tự a b a cạnh
V ệt n ứ t
e) T ư ờn g tự a cạn h d ư ớ i v à h ai gó c trên
V ệt n ứ t
f) M ộ t gó c tư ờn g d ịch ch uy ển
Δ
V ệt n ứ t
Hình 2 Một số tình huống biến dạng của tường khi chịu tải trọng ngang.
Hình 3 Tương tác giữa khung vμ khối xây chèn [2]
Trang 6Tấm mái khung thép dập 2.9m*9.6m, phủ tôn múi vuông.
L=18m
Tấm tường khung thép dập 2.9m*4m, phủ tôn múi vuông.
Vị trí bulông móng (M16)
Hình 4 Sơ đồ kết cấu nhμ SB-18m của CHDC Đức
L=15m
H=6m
B=6m
Tấm lợp bắt vít
chặt vào xà gồ tạo
thành giằng trong
mặt phẳng mái.
Chỉ có giằng đầu cột ở hai gian đầu hồi nhà.
Hình 5 Sơ đồ quy đổi tấm lợp vμ xμ gồ như hệ giằng mái (nhμ S15Z)
so sánh một số giá trị chuyển vị ngang Δ x
0
1
2
3
4
5
6
Toạ độ cột (theo bước cột 6m)
1: XM-yes, XT-no 2: XM-yes, XT-yes 3: XM-no, XT-no 4: XM-no, XT-yes
Hình 6 Biểu đồ so sánh giá trị chuyển vị ngang nhμ S15Z
Trên Hình 6 trình bày kết quả khảo sát với giả thiết theo niêm luật bắt vít của khung S15Z
nêu trên, có mở rộng cho trường hợp kể đến phần tường hồi như là vách cứng Vai trò của vách cứng hai đầu hồi khá quan trọng, tuy nhiên điều này còn tuỳ thuộc vào khả năng truyền tải về các vách cứng đó XM ký hiệu giằng mái, XT ký hiệu giằng tường hồi (tạo vách cứng ngang
Trang 7nhà); dễ thấy trường hợp 2 có hiệu quả (khi có đủ XM và XT); trường hợp 4 không có hiệu quả vì
thiếu XM Khi không có XT, nghĩa là không có đường truyền lực xuống đất, thì chuyển vị ngang
của tất cả các khung trong trường hợp có XM hoặc không có XM đều xấp xỉ như nhau (hơn
5 cm)
3 Nhận xét
Vật liệu bao che là một trong những yếu tố cần được kể đến khi xem xét về giới hạn cho
phép của chuyển vị ngang nhà công nghiệp Cấu tạo truyền thống và hiện đang phổ biến của
nhà công nghiệp có thể mô tả theo các lớp từ ngoài vào trong như sau:
- vật liệu bao che (tấm lợp mái, tường );
- các kết cấu phụ, kết cấu trung gian (xà gồ, lanh tô, giằng );
- kết cấu chịu lực chính (khung, kèo, cột, trụ, vách cứng );
- các kết cấu ngăn che, trang trí bên trong, các loại cửa (cách nhiệt, trần, tường ngăn )
Có thể chia thành hai dạng khống chế của vật liệu bao che đối với giới hạn chuyển vị
ngang nhà công nghiệp kết cấu thép như sau:
- Khống chế bị động: vật liệu bao che dễ bị hư hại (rạn, nứt, vỡ ) nếu chuyển vị ngang (và
biến dạng) của kết cấu nhà vượt quá một ngưỡng nào đó; hoặc vật liệu bao che không bị hư hại
do chuyển vị ngang của khung nhà, cũng như không tham gia làm việc đồng thời với kết cấu,
nhưng khi khung nhà có chuyển vị lớn thì tạo cảm giác bất an cho người sử dụng (gây tiếng
động, hoặc có độ võng, độ nghiêng, khe hở )
- Khống chế chủ động: vật liệu bao che đủ khả năng cùng làm việc đồng thời với kết cấu
khung nhà, do đó chuyển vị ngang thực sự không lớn như khi chỉ xét riêng khung nhà chịu toàn
bộ tác động của tải trọng Trong trường hợp này chuyển vị ngang cũng không được vượt quá
giới hạn nào đó, đủ để vật liệu bao che vẫn còn khả năng làm việc đồng thời với kết cấu thép
Với việc sử dụng vật liệu bao che thông dụng thì trừ tấm kim loại (tôn) và tấm nhựa, yếu tố
đầu tiên phải kể đến khi xem xét giới hạn chuyển vị ngang của kết cấu khung nhà là: đảm bảo
để vật liệu bao che không bị phá hoại
1 Giới hạn chuyển vị ngang của khung nhμ công nghiệp cần được phân lμm nhiều loại tuỳ
thuộc vμo vật liệu bao che cũng như phụ thuộc vμo môi trường sản xuất vμ vùng khí hậu Khả
năng chịu kéo thấp của một số vật liệu bao che như khối xây gạch hoặc bê tông (không cốt
thép) lμ yếu tố khống chế giới hạn chuyển vị ngang của kết cấu chịu lực chính
Với vật liệu bao che là tấm kim loại (tôn) hoặc tấm nhựa, do có khả năng chịu uốn cao (dẻo
dai) nên sự chuyển vị của kết cấu không ảnh hưởng đến sự toàn vẹn của vật liệu bao che, [11],
[12] Tuy nhiên các loại vật liệu này lại có hạn chế lớn là nhạy cảm với sự ăn mòn và tác động
của nắng mưa, [1]
2 Với các vật liệu bao che có tính đμn hồi cao (dẻo dai) thì giớí hạn chuyển vị ngang phụ
thuộc vμo bản thân sự lμm việc bình thường của kết cấu lμ chính, hoặc phụ thuộc vμo việc
không gây cảm giác bất an cho người sử dụng, mμ không bị hạn chế bởi vật liệu bao che
Trong một khuôn khổ nhất định, có thể kể đến sự làm việc đồng thời của vật liệu bao che
(tấm kim loại, bê tông, BTCT hoặc khối xây) với khung nhà Lúc này giới hạn về chuyển vị
Trang 8ngang của khung nhà có thể xem không phải là yếu tố đáng quan tâm bằng điều kiện đảm bảo
cho khung và vật liệu bao che thực sự làm việc đồng thời, [6], [11]
3 Khi kể đến sự lμm việc đồng thời giữa vật liệu bao che vμ hệ kết cấu thì khả năng chịu
lực của kết cấu tăng lên, giá trị chuyển vị ngang tự nó giảm đi, vμ lúc nμy yếu tố chính cần quan
tâm lμ đảm bảo cho hệ hỗn hợp nμy thực sự lμm việc đồng thời
4 Các hãng chế tạo nhμ thép tiền chế đưa ra những giới hạn chuyển vị ngang rộng rãi,
hoặc những giải pháp để có sự lμm việc đồng thời giữa vật liệu bao che với hệ kết cấu, thường
kèm theo những điều kiện gia công, chế tạo, lắp dựng nghiêm ngặt; mặt khác, điều đáng chú ý
lμ tấm lợp cũng bằng kim loại vμ do chính họ sản xuất ra
Tiêu chuẩn của Mỹ, của ISO đều nhấn mạnh đến yếu tố đảm bảo cảm giác an toàn cho người
sử dụng khi bàn đến về giới hạn biến dạng và chuyển vị của các kết cấu chịu lực, [6], [7], [8]
5 Mục đích sử dụng của các nhμ công nghiệp cũng lμ một yếu tố cần được đề cập đến khi
xem xét giới hạn chuyển vị ngang: với công trình tạm, kho chứa vật liệu có thể chấp nhận
chuyển vị giới hạn lớn hơn so với các nhμ xưởng tập trung đông người (xưởng may, xưởng
dệt ), hoặc nhμ xưởng có cầu trục hoạt động Khả năng nhận thấy được bằng mắt thường về
độ võng của kết cấu nằm ngang (L/250 hoặc 30mm) vμ độ lệch của kết cấu thẳng đứng (H/250)
cũng lμ một yếu tố cần quan tâm đến khi xác định giới hạn chuyển vị ngang của công trình
Với công thức xác định chuyển vị ngang cho phép dạng Δx = H/K (H - chiều cao, K - hệ số
không thứ nguyên) có thể lập biểu đồ so sánh đơn giản như trên Hình 7 Trong trường hợp
Δx = H/45 (theo tiêu chuẩn của hãng Zamil Steel, [12]), nếu H = 6.75m sẽ có chuyển vị ngang
cho phép là 15cm, giả sử bao che là tường gạch dày 220 thì chắc chắn tường bị đứt mạch ở
chân và có xu thế đổ (trọng tâm lệch khỏi chân đế – tình huống nêu trong Hình 2.2), đồng thời
trọng lực của tường dồn lên khung cũng đáng được kể đến
Tương quan giữa H vμ Δx
0
20
40
60
80
100
120
140
Chuyển vị Δx [cm]
H/45;H/(10+4H) - ZS H/100
H/150 H/200 H/250 H/300 H/350 H/400 H/450 H/450 H/500 TCVN
Hình 7 Tương quan giữa H vμ Δx theo ZS lμ đường cong, theo TCVN lμ đường thẳng
Hãng Zamil Steel quy định: với chiều cao mép mái (EH- Eave Height) lớn hơn 9 m thì giới
hạn chuyển vị ngang có dạng: Δx = EH/(10+4 x EH); như vậy, khi EH = 22.5m sẽ có
Δx,22.5 = EH/100 = 0.225m, khi EH = 60m sẽ có Δx,60 = EH/250 = 0.24m và khi EH = 100m thì sẽ
có Δx,100 = EH/410 = 0.244m, giá trị này hầu như không tăng thêm cho dù EH tăng gấp nhiều
lần Phép so sánh này chỉ là suy luận có tính giả định, bởi lẽ phạm vi tiêu chuẩn của Zamil Steel
nằm trong khuôn khổ tiêu chuẩn dành cho loại nhà thấp (low-rise building), theo định nghĩa của
Trang 9Hiệp hội các nhà sản xuất nhà kim loại (MBMA – Metal Building Manufacturers Association,
Inc.) là loại nhà có chiều cao không quá 60foots (tương đưong 18m288), [12]
Chiều cao dưới 60 foots là yếu tố luôn được đề cập đến trong các tiêu chuẩn Mỹ về tải trọng gió, [6] Đường biểu diễn tương quan H-Δx theo quy định của Zamil Steel được thể hiện
trên Hình 7
6 Giá trị chuyển vị ngang cho phép dưới dạng tuyến tính Δ x = H/K (H- chiều cao, K- hệ số không thứ nguyên), [4], [5], [7], [8], [9], [12] có thể chỉ phù hợp trong phạm vi chiều cao H nhất
định Khi H lớn hơn giá trị nμo đó (có thể lμ 18m288 – tương đương 60 foots) thì công thức để xác định Δx sẽ có nhiều dạng khác hơn, ví dụ như đường cong chuyển vị ngang giới hạn theo quy định của Zamil Steel (ZS) trên Hình 7 hoặc đường H(D) trên Hình 8
Quan hệ H- Δ x
(cho bao che là tường gạch h=0.22m)
0.00 5.00 10.00
15.00
20.00
25.00
Chuyển vị Δ x (cm)
Hconst H500 H240 H(D)
Hình 8 Khuyến nghị giới hạn chuyển vị ngang theo dạng đường cong H(D)
Tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Đăng Hương, Hoμng Huy Thắng, Đặng Văn
út, Trần Văn Huyền, Bùi Vạn Trân, 1995: Nguyên lý
thiết kế cấu tạo nhà công nghiệp Nhà xuất bản Giáo
dục, Hà Nội
[2] David Key, 1997: Thực hành thiết kế chống động đất
cho công trình xây dựng Bản dịch tiếng Việt của
Phạm Ngọc Khánh, Lê Mạnh Lân và các cộng sự
Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội
[3] TCVN 5573-1991 – Kết cấu gạch đá và gạch đá cốt
thép – Tiêu chuẩn thiết kế Nhà xuất bản Xây dựng,
Hà Nội, 1992
[4] TCVN 5574-1991 – Kết cấu bê tông và bê tông cốt
thép – Tiêu chuẩn thiết kế Nhà xuất bản Xây dựng,
Hà Nội, 1992
[5] TCVN 5575-1991 – Kết cấu thép – Tiêu chuẩn thiết
kế Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội, 1992
[6] Gaylord (jr.) E H., Gaylord C N., 1968: Structural
engineering Handbook McGraw-Hill
[7] ISO2394-1973: General principles for the verification
of the safety of structures International Organization
for Standardization, printed in Switzerland, 1973
[8] ISO4356-1977: Bases for the design of structures
- Deformations of buildings at the serviceability limit states International Organization for Standardization, printed in Switzerland, 1977
[9] KIRBY, 1995: Technical Handbook Printed by
Al-Khat-Kuwait
[10] Merritt F S., 1983: Standard Handbook for Civil
Engineers Third Edition, McGraw-Hill
[11] RUDNé DOLY, Národni Podnik PRíBRAM
Zakladna Technického Rozvoje: Technical Condition - Steel Hall S15 Printed by RUDNE DOLY n.p., RD 18-28/A3-1988, Czechoslovakia [12] ZAMIL STEEL, 1993 & 1999: Technical Manual - Pre-Engineered Steel Buildings Printed by Al-Reda P Press, Dammam
[13] Мyxанов K K., 1978 Meталлические кон-трукции Cтройиздат, Москва
[14] Шершевский И A., 1975 Koнcтpyирование промышленных зданний и сoopyжений Cтрой-издат, Ленинград Ă