1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo khoa học: "Phương pháp mới để tính lực dẫn hướng" ppsx

3 435 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương pháp mới để tính lực dẫn hướng
Tác giả Nguyễn Hữu Dũng
Trường học Trường Đại học GTVT
Chuyên ngành Cơ khí
Thể loại bài báo
Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 153,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp mới để tính lực dẫn hướng TS.. Nguyễn hữu dũng Bộ môn Đầu máy - Toa xe Khoa Cơ khí - Trường Đại học GTVT Tóm tắt: Bμi báo đưa ra phương pháp mới để tính lực dẫn hướng trong

Trang 1

Phương pháp mới để tính lực dẫn hướng

TS Nguyễn hữu dũng

Bộ môn Đầu máy - Toa xe Khoa Cơ khí - Trường Đại học GTVT

Tóm tắt: Bμi báo đưa ra phương pháp mới để tính lực dẫn hướng trong đó các lực tiếp xúc

giữa bánh xe vμ đường ray được tính theo lý thuyết Kalker vμ so sánh kết quả với phương pháp cũ

Summary: This paper presents a new method of calculating the guide forces acting on

the railway vehicles’ wheels, in which the contact forces between rails and wheels are determined using the Kalker theory The results are compared with those obtained by the old method

Như kết quả đưa ra ở cuối bài báo [5]

đăng trong số trước chúng ta thấy hệ phương

trình chuyển động của đầu máy toa xe trong

đường cong là một hệ phương trình đại số phi

tuyến tính, chúng ta có thể dựa vào đó để tính

lực dẫn hướng:

) K , R ( G y

) y ( = (1) trong đó:

C : là ma trận độ cứng cỡ 14 ì 14 có

một số phần tử nằm trên 8 hàng đầu phụ

thuộc chuyển vị y của các bánh xe

G : là véc tơ lực phụ thuộc bán kính

đường cong và tuỳ thuộc vào chuyển vị ngang

của bánh xe có thể chứa lực dẫn hướng K hay

không

Nếu xét chuyển động của đầu máy toa

xe trong một đường cong bán kính cố định thì

R là hằng số và hệ không còn phụ thuộc R

nữa

) K ( G y

C (y)

) y ( = (2)

Để giải được hệ này ta phân ma trận

C thành hai ma trận: ma trận C* là ma trận

hằng số còn ma trận C(y*) phụ thuộc chuyển

vị y của các trục bánh xe

* ) y (

* C C

C = + (3)

Nhân C(y*) với véc tơ y ta được véc tơ )

y (

P phụ thuộc y rồi chuyển sang vế phải ta

đã biến đổi hệ phương trình trên thành:

) y ( ) y (

*

P ) K ( G y

C = ư (4) Sau đó ta chia các ma trận và véc tơ trong phương trình thành các khối nhỏ như trong hình sau:

C2 C1

y1

y2

y3

G2

G3

P3

(5) trong đó:

1

C là ma trận hằng số cỡ 10 x 10

Trang 2

C là ma trận hằng số cỡ 10 x 4

3

C là ma trận hằng số cỡ 4 x 4

4

C là ma trận không cỡ 4 x 4

5

C là ma trận hằng số cỡ 4 x 6

1

y véc tơ bao gồm 4 phần tử là các

chuyển vị ngang của trục bánh

2

y véc tơ bao gồm 4 phần tử là các

chuyển vị góc của trục bánh

3

y véc tơ bao gồm 6 phần tử là các ẩn số

1

G véc tơ bao gồm 4 phần tử phụ thuộc

lực dẫn hướng

2

G véc tơ bao gồm 4 phần tử là các

hằng số

3

G véc tơ bao gồm 6 phần tử là các

hằng số

1

P véc tơ bao gồm 4 phần tử phụ thuộc

góc quay của các trục bánh (y2)

2

P véc tơ bao gồm 4 phần tử phụ thuộc

chuyển vị ngang của các trục bánh (y1)

3

P véc tơ bao gồm 6 phần tử không

0

P3 =

Ta có thể giải hệ phương trình trên theo 3

bước:

1 Giả thiết: Cho các phần tử của véc tơ

1

y một giá trị nào đó hay nói cách khác là cho

các trục bánh xe có một sự di chuyển ngang

nào đó so với trung tâm của đường

{ }Ki

y = ;

2

t

yKi ≤ , t là khe hở giữa lợi bánh và ray

Khi biết giá trị của y ta cũng tính luôn 1

được giá trị của véc tơ P2 =P2(y1) và hệ

phương trình chỉ còn 10 ẩn số Chúng ta thấy trong hệ lúc này ngoài 2 véc tơ y và 2 y là ẩn 3

số còn các véc tơ khác đều có giá trị xác định

C1

y2

y3

G2

G3

P3

C2

y1

(6)

2 Giải hệ này ta được nghiệm:

(C1)-1

y2

y3

G2

G3

P3

C2

y1

(7) Bốn phần tử đầu tiên của nghiệm là góc quay của các trục bánh xe

{ }Ki 2

y = ϕ

Từ đó ta cũng xác định được véc tơ )

y ( P

P1 = 1 2

3 Kiểm tra lại giả thiết:

Khi đã xác định được toàn bộ các phần tử của véc tơ chuyển vị y chúng ta tính lại được các thành phần lực trườn xuất hiện ở chỗ tiếp xúc giữa bánh xe và ray theo lý thuyết Kalker trên cơ sở đó kiểm tra lại giả thiết đưa ra ban

đầu về chuyển vị của các trục bánh xe có

đúng không Việc kiểm tra đó được thực hiện trên 4 phương trình đầu tiên của hệ:

y2

y3

G1(K) P1(y2)

(8)

Để tính được các lực dẫn hướng ta lại tách véc tơ G (K) ra hai phần một phần 1 G là 1* hằng số còn phần kia là vec tơ lực dẫn hướng:

K G ) K (

G1 = 1* + (9)

Từ đó có thể tính được véc tơ lực dẫn

Trang 3

hướng:

) y ( P G y C y C y

C

)

y

(

K 1 = 3 1+ 4 2 + 5 3 ư 1* ư 1 2

(10) Chú ý thêm rằng C4 là ma trận không ta

có công thức đơn giản hơn:

) y ( P G y C y C

)

y

(

K 1 = 3 1+ 5 3 ư 1* ư 1 2

(11)

Các phần tử của véc tơ lực dẫn hướng K

cần thoả mãn những giả thiết ban đầu nghĩa

là nếu di chuyển ngang của trục bánh nhỏ

hơn nửa khe hở giữa lợi bánh và ray thì lực

dẫn hướng bằng không, nếu không phải giả

thiết và tính toán lại từ đầu

Kết quả lực dẫn hướng thu được bằng

phương pháp tính này so với lực dẫn hướng

tính bằng phương pháp truyền thống (phương

pháp Heumann) thường nhỏ hơn và sự khác

biệt cũng phụ thuộc vào bán kính đường cong

Trên những đường cong bán kính nhỏ

(R<100m) sự khác biệt giưã hai phương pháp

chỉ là 5%, nhưng bán kính đường cong càng

lớn lên thì sự khác biệt càng lớn ở đường

cong có R = 500m sự khác biệt lên tới 15%

Điều này có thể giải thích là khi tính bằng

phương pháp Heumann chúng ta giả thiết hệ

số ma sát giữa mặt lăn bánh xe và ray là hằng

số, còn trong phương pháp mới hệ số này lại

thay đổi theo xu hướng giảm đi

Tính lực dẫn hướng bằng phương pháp

cũ tuy kết quả không chính xác nhưng cách

tính đơn giản và an toàn hơn khi căn cứ vào

kết quả của nó để quy định tốc độ đi qua

đường cong vì thế đến nay vẫn được ưa

chuộng

Tài liệu tham khảo

[1] Baránszky-Job Imre Vasúti Jármỹ szerkezetek

Budapest, 1979

[2] Nguyễn Hữu Dũng Động lực học Đầu máy

diésel Hà nội, 2001

[3] Khuất tất Nhưỡng Kỹ thuật Đầu máy Toa xe

hiện đại Hànội, 2002

[4] Nguyễn Hữu Dũng Giải bài toán thông qua

đường cong của ĐMTX trên máy tính Tạp chí KHGTVT số 5 - tháng 11/ 2003

[5] Nguyễn Hữu Dũng ứng dụng lý thuyết Kalker

vào bài toán đi qua đường cong của đầu máy toa

xe Tạp chí KHGTVT số 9 - tháng 11/ 2004♦

Phương pháp Gauss – Seidel

(Tiếp theo trang 44)

Có thể thấy rõ rằng nếu sử dụng phương pháp ma trận nghịch đảo thì không thể giải

được bài toán trên được

Hình 7 Phân bố nhiệt độ tại các vị trí

trong tường qua 50 thời điểm

III Kết luận

Phương pháp Gauss - Seidel và công thức nhiệt trở phân tố là một công cụ cực

mạnh có thể giải các bài toán nhiệt của các vật có hình dạng và điều kiện biên phức tạp

Tài liệu tham khảo

[1] Frank P Incropera Fundametals of Heat and

Mass Transfer John Wiley & Sons New York, 1996

[2] J P Holman Heat Transfer Mc Graw Hill Inc

New York, 1997

[3] Trịnh Văn Quang Phương pháp ma trận giải bài

toán dẫn nhiệt Tạp chí KH & CN nhiệt Số 1/2000♦

Ngày đăng: 06/08/2014, 05:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 7. Phân bố nhiệt độ tại các vị trí                          trong t−êng qua 50 thêi ®iÓm - Báo cáo khoa học: "Phương pháp mới để tính lực dẫn hướng" ppsx
Hình 7. Phân bố nhiệt độ tại các vị trí trong t−êng qua 50 thêi ®iÓm (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm