1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo khoa học: "cải tiến phương pháp giảng dạy cần gắn liền với cải tiến phương pháp kiểm tra đánh giá" pptx

4 418 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 146,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng theo tạp chí Information Paper on Assessment of Student Learning, “đánh giá” cũng là một quy trình từ việc quan sát cách ứng xử của sinh viên, đến việc họ thực hiện những bài tập đ

Trang 1

cải tiến phương pháp giảng dạy cần gắn liền với cải tiến phương pháp

kiểm tra đánh giá

Th.S nguyễn thị thu hương

Bộ môn Anh văn - ĐH GTVT

Tóm tắt: Bμi báo giới thiệu phương pháp kiểm tra, đánh giá đang được áp dụng ở các nước vμ

trình bμy khái quát công tác kiểm tra, đánh giá ở Trường Đại học Giao thông Vận tải, trên cơ sở đó đưa

ra một số đề xuất, kiến nghị

Summary: The article introduces current practices of testing and assessment in some countries

and presents an overview of the job at the UTC, which serves as basis for some recommendations

I Vai trò của kiểm tra, đánh giá trong

quy trình giảng dạy

1 Khái niệm

“Kiểm tra” theo [8] (trang 448) là việc tra xét

kỹ lưỡng xem có đúng hay không” Còn theo các

nhà ngôn ngữ học nước ngoài như Jacob,

Hartfield, Wormuth và Zinkgraf thì “kiểm tra” bao

hàm cả một quy trình xác định mục tiêu kiểm tra,

soạn nội dung kiểm tra, chỉ đạo kiểm tra, chấm

bài, đánh giá kết quả và đưa ra các quyết định

([3] trang 8)

“Đánh giá” theo [8] (trang 274) là việc “nhận

thức cho rõ giá trị của một người hoặc một việc”

Nhưng theo tạp chí Information Paper on

Assessment of Student Learning, “đánh giá” cũng

là một quy trình từ việc quan sát cách ứng xử của

sinh viên, đến việc họ thực hiện những bài tập

được giao như thế nào, trên cơ sở đó, diễn giải và

phân tích các kết quả thu được để đưa ra những

nhận định (đánh giá) về học lực của họ ([3] trang

8)

Tổng hợp những định nghĩa khác nhau về

thuật ngữ “kiểm tra”, “đánh giá”, tác giả bài báo

này cho rằng đây là những thuật ngữ không thể

tách rời, nói đến các hoạt động được thực hiện

cùng hướng tới đích của quy trình dạy học: nghiệm thu đầu ra của quy trình đó Việc đánh giá học lực của sinh viên nhất thiết phải dựa trên các kết quả kiểm tra, và ngược lại, kiểm tra phải nhằm mục đích đánh giá chất lượng đào tạo Vì thế trong phần trình bày sau đây, tác giả gộp cả hai thuật ngữ này thành một khái niệm: kiểm tra -

đánh giá

2 Vai trò của kiểm tra - đánh giá

Công tác kiểm tra - đánh giá thường được thực hiện vì một trong những mục đích sau đây:

- cải tiến quá trình dạy và học;

- chẩn đoán những khó khăn, vướng mắc trong học tập;

- phân loại, lựa chọn hay cấp bằng; và

- đánh giá kết quả học tập

Vì thế, kiểm tra - đánh giá (KT - ĐG) đóng một vai trò quan trọng trong quy trình dạy và học, tác động trực tiếp đến cả hai đối tượng: giáo viên

và sinh viên

Đối với sinh viên, KT - ĐG giúp họ củng cố kiến thức đã học, nhận thức rõ hơn mục tiêu đào tạo của khoá học, trên cơ sở đó xây dựng và phát triển phương hướng cũng như phương pháp học

Trang 2

tập thích hợp, hiệu quả Thậm chí, KT - ĐG nếu

được thực hiện đúng cách còn là nguồn động lực

thúc đẩy học tập Sinh viên đặt ra mục tiêu học

tập cuối mỗi kỳ, cuối khoá và nỗ lực phấn đấu

cho mục tiêu ấy Cũng vì thế mà họ tự xác định

cho mình một thái độ học tập đúng đắn, tích cực

Đối với giáo viên, KT - ĐG là công cụ hướng

đạo đắc lực trong công tác giảng dạy Kết quả từ

KT - ĐG giúp giáo viên nhận ra rõ hơn những

phần bài nào, phương pháp giảng dạy nào chưa

hiệu quả, chưa đáp ứng đúng đối tượng và thu

được kết quả mong muốn để sau đó có những

sửa đổi thích hợp hơn trong công tác giảng dạy

Cũng qua kiểm tra, giáo viên đánh giá được năng

lực sinh viên của mình, phân loại họ theo từng

trình độ học lực khác nhau, xác định mức độ tiến

bộ của họ trong học tập để từ đó có những biện

pháp, giải pháp đào tạo thích ứng

Rõ ràng công tác kiểm tra - đánh giá là rất

cần thiết và quan trọng trong quy trình đào tạo, là

thành tố không thể tách rời công tác giảng dạy,

vừa là động lực thúc đẩy, vừa là thước đo thành

quả của quá trình giảng dạy đó

II Tham khảo phương pháp kiểm tra,

đánh giá hiện hμnh ở Việt Nam vμ

một số nước khác

• Đánh giá liên tục (Continuous

Assessment): Phương pháp này chủ trương kiểm

soát việc học tập của sinh viên trong suốt kỳ học,

khoá học bằng các dạng bài tập khác nhau, vấn

đáp, hoặc bài viết, thực hiện ở lớp hay ở nhà,

ngoại khoá Mỗi sinh viên có một cặp hồ sơ

(Portfolio) lưu giữ các bài kiểm tra, bài tập, nhật

ký học tập, thường xuyên được trao đổi giữa

giáo viên, sinh viên và cả phụ huynh học sinh

Phương pháp này rất có hiệu quả trong việc

nâng cao tốc độ và chất lượng tiếp thu kiến thức,

nhưng lại chỉ có thể áp dụng cho lớp học ít sinh

viên (10 - 15 người)

Phương pháp này đang được áp dụng có cải

biên ở Mỹ ([4] trang 1), Australia ([1] trang 1),

Singapore ([2] trang 2),

• Kiểm tra định kỳ (Progress Tests): Sinh viên được yêu cầu bắt buộc phải thực hiện một số bài tập khác nhau, rải ra trong suốt học phần Tuỳ theo từng học phần, từng môn học mà có những quy định kiểm tra khác nhau Phương pháp này khá phổ biến trên thế giới Qua các cuộc tiếp xúc trực tiếp, tác giả có được những thông tin sau: ở Ca na đa, bài thi cuối kỳ chiếm

50 % kết quả đánh giá cuối kỳ, bài giữa kỳ chiếm

tỉ lệ 30%, còn lại các bài tập, thực hành, viết luận chiếm 20% Anh và Thái Lan cũng áp dụng phương pháp kiểm tra, đánh giá tương tự

Phương pháp này cũng được một số trường

ở Hà Nội áp dụng như Đại học Bách khoa, Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia, hay Đại học Mở Đại học Ngoại ngữ Hà Nội áp dụng tỉ lệ 1:3:6 cho việc đi học thường xuyên, bài kiểm tra giữa kỳ và bài thi cuối

kỳ để đánh giá kết quả cuối học phần

Xung quanh các phương pháp được nêu trên

đây cũng có nhiều ý kiến tranh cãi Song, đây là những cải cách mới trong công tác kiểm tra, đánh giá nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của xã hội,

và vì thế, chúng cần được tham khảo trong quá trình đổi mới, cải tiến phương pháp kiểm tra truyền thống đã lỗi thời chỉ bằng một bài thi cuối

kỳ duy nhất

III Khái quát thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá

1 Kiểm tra, đánh giá ở Trường Đại học Giao thông Vận tải

Theo văn bản hướng dẫn mới nhất “Quy chế

về tổ chức đào tạo, Kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp đại học và cao đẳng hệ chính quy” của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Quyết định số 04/ 1999/ QĐ-BGD&ĐT ngày 11/2/1999) do Trường Đại học GTVT ban hành năm 2002, việc kiểm tra,

đánh giá được quy định như sau:

- đối với học phần chỉ có lý thuyết, “sau mỗi

đơn vị học trình giảng viên phải tổ chức kiểm tra” ([4] trang 13) Việc kiểm tra định

kỳ này chỉ được coi là điểm điều kiện để sinh viên dự thi kết thúc học phần Điểm

Trang 3

để đánh giá học lực của sinh viên mỗi học

phần là điểm thi kết thúc học phần

- đối với học phần chỉ có thực hành, điểm

đánh giá kết thúc học phần là điểm trung

bình cộng của các bài thực hành

- đối với học phần có cả thực hành và lý

thuyết, kết quả đạt phần thực hành được

coi là đủ điều kiện để dự thi phần lý thuyết

cuối học phần

Thực tế, ở khoa Khoa học cơ bản, bộ môn

Toán đánh giá học lực cuối học phần của sinh

viên dựa vào bài thi duy nhất cuối học phần Việc

xét điều kiện dự thi kết thúc học phần cho sinh

viên do giáo viên tự đảm nhận bằng cách tính số

buổi sinh viên có mặt trong giờ chữa bài tập,

hoặc không cần xét điều kiện gì - bộ môn không

can dự Đánh giá cuối học phần ở bộ môn Vật lý

cũng dựa vào bài thi cuối học phần, còn các bài

kiểm tra thường kỳ không do bộ môn chỉ đạo; có

giáo viên cho kiểm tra thường kỳ (2 đến 3 bài), có

giáo viên không cho kiểm tra lần nào, và vì thế

cũng không xét đến điều kiện dự thi cuối học

phần của sinh viên

ở khoa Công trình, với các bộ môn (Kết cấu,

Sức bền vật liệu, Địa Kỹ thuật ) sinh viên làm

bài tập lớn, nếu đạt, được coi là đủ điều kiện dự

thi cuối học phần Điểm bài thi cuối học phần là

cơ sở để đánh giá học lực của sinh viên trong học

phần đó Ngoài ra còn có các bài thiết kế môn

học bắt buộc và có tính điểm Giáo viên tự xác

định bài tập lớn đó có đạt hay không

Bộ môn Máy Xây dựng, khoa Cơ khí cũng áp

dụng quy định tương tự Bộ môn chỉ đạo thi cuối

học phần và lấy điểm bài thi này là kết quả đánh

giá học lực của cả học phần, còn các bài kiểm

thường kỳ thì do giáo viên tự quyết định

Khoa Vận tải - Kinh tế giao trách nhiệm cho

giáo viên thiết kế môn học, giảng dạy và tổ chức

thi, chấm bài thi cuối học phần như ở bộ môn

Kinh tế xây dựng Đối với bộ môn Kinh tế và Cơ

sở quản lý, điểm bài thi cuối học phần là cơ sở để

đánh giá học lực của sinh viên Việc tổ chức kiểm

tra thường kỳ, có hay không, xét điều kiện dự thi

cuối kỳ cho sinh viên ra sao là công việc do một

mình giáo viên dạy đảm nhiệm

Bộ môn Kỹ thuật Điện quy định có các bài tập lớn và thực hành trong một học phần và sinh viên phải đạt yêu cầu các bài kiểm tra đó thì mới

được dự thi cuối học phần (Tất cả các thông tin

trên đây đều do giáo viên bộ môn, giáo vụ khoa cung cấp qua việc trao đổi trực tiếp của tác giả)

2 Kiểm tra, đánh giá ở bộ môn Anh văn

Điểm để đánh giá học lực của sinh viên mỗi học phần là điểm thi kết thúc học phần Việc kiểm tra giữa kỳ (một bài duy nhất) được tiến hành liên tục suốt những năm gần đây, song kết quả kiểm tra chưa bao giờ được quy định là điểm

điều kiện để xét dự thi cuối học phần Thực chất, bài kiểm tra giữa kỳ này vẫn mặc định là bài kiểm tra thử của bài thi cuối học phần, với những hình thức, kỹ thuật kiểm tra hoàn toàn giống hệt bài thi cuối kỳ

Thực tế này dẫn đến tình trạng phổ biến là giáo viên chú trọng nhiều hơn tới luyện thi trên lớp mà bỏ qua các nội dung khác trong chương trình Về phía sinh viên cũng chỉ tập trung vào việc luyện tập các dạng bài thi, thiếu hẳn sự hứng thú, chuyên cần đối với các nội dung học khác

(Theo kết quả điều tra, khảo sát trong nội dung luận văn thạc sĩ của tác giả)

Từ phần mô tả sơ lược trên đây có thể thấy rằng công tác kiểm tra ở Trường Đại học GTVT nhìn chung đã được thực hiện nghiêm túc, và vì thế đã phản ánh đúng học lực của sinh viên Tuy vậy, vẫn còn rải rác ở bộ môn này, bộ môn khác

đã không hoàn toàn tuân thủ quy chế về kiểm tra,

đánh giá vì những lý do khác nhau Lý do phổ biến mà giáo viên đưa ra là lớp học quá đông, mà quỹ thời gian của các thày, cô lại quá eo hẹp, mặc dù nhiều giáo viên công nhận hiệu quả tích cực của việc kiểm tra thường kỳ Do đó, những bất cập nảy sinh là điều không tránh khỏi

IV Một số đề xuất, kiến nghị

Theo quy chế về kiểm tra, đánh giá mà Trường Đại học GTVT đã ban hành thì mỗi học phần gồm 5 ĐVHT, giảng viên môn Anh văn phải cho kiểm tra 5 lần và căn cứ vào kết quả kiểm tra

đó để xét cho dự thi cuối học phần Thông thường

Trang 4

chương trình học mỗi học phần môn Anh văn

gồm 10 bài Nếu sau 2 bài học trên lớp lại có

1 bài kiểm tra thì là quá nhiều, trong khi thời gian

học lại rất hạn chế, không đủ để cho kiểm tra và

chữa bài trên lớp Sau khi cân nhắc nhiều yếu tố

khách quan và chủ quan, những đặc thù của môn

ngoại ngữ, có tham khảo kinh nghiệm trong nước

và ngoài nước, đồng thời đã cho thực hiện thí

điểm kiểm tra định kỳ môn Anh văn ở một số lớp,

tác giả có một số đề xuất sau đây:

• chú trọng hơn nữa đến công tác bồi dưỡng

giáo viên (giao lưu, tập huấn ) nhằm nâng cao

trình độ chuyên môn khả dĩ có thể đáp ứng với

nhu cầu của sinh viên nói riêng và của xã hội nói chung

1 Mỗi học phần nên có từ 2 đến 3 bμi kiểm

tra định kỳ, kết quả được quy định chiếm một tỉ lệ

điểm nhất định khoảng 20 đến 30% tổng kết quả

để đánh giá cuối học phần Hoặc kết quả đó phải

được quy định thống nhất sử dụng cho việc xét

dự thi cuối kỳ Như thế, sinh viên bắt buộc phải

liên tục phấn đấu suốt học kỳ vμ có ý thức, thái

độ tốt hơn đối với việc học tập Ngoμi ra, có thể

sử dụng việc kiểm tra sĩ số thường xuyên để xét

điều kiện dự thi cuối học phần

2 Các bμi kiểm tra định kỳ cần được soạn

theo nguyên tắc “học đến đâu, thi đến đấy”, vμ

không nên trùng hoμn toμn dạng bμi với bμi thi

cuối học phần

3 Kiểm tra định kỳ phải do Bộ môn chỉ đạo vμ

tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc một kỳ thi thực sự

(bảo mật đề, giám thị, chấm chéo, lưu điểm, v.v )

4 Bμi thi cuối kỳ phải lμ bμi tổng hợp kiến

thức đã học trong kỳ vμ chỉ giới hạn dạng kiểm

tra trong các bμi kiểm tra định kỳ Hình thức thi

cuối kỳ chỉ nên phổ biến công khai 2 tuần trước

khi đình giảng để tránh cho các lớp học biến

thμnh lớp luyện thi

5 Để có thời gian thực hiện các bμi kiểm tra

định kỳ, khi soạn giáo trình cần đưa hoạt động

nμy vμo nội dung chương trình vμ bố trí thời gian,

tiến độ giảng dạy sao cho hợp lý

Nhằm tăng cường tính khả thi cho các đề

xuất trên đây, bộ môn Anh văn rất cần sự hỗ trợ

của nhà trường về một số vấn đề sau:

• có được các phòng thi đủ rộng khi tiến

hành kiểm tra

• cần có sự tham khảo rộng rãi về quy chế kiểm tra, đánh giá ở các bộ môn khác nhau, các trường khác nhau để khi đã được đề ra thì quy chế đó phải được thực hiện nghiêm túc trong phạm vi toàn trường

Kết luận

Cải tiến phương pháp kiểm tra, đánh giá chính là định hướng cho việc xác định các phương pháp giảng dạy phù hợp với từng nội dung chương trình và từng loại đối tượng Nói một cách khác, bất cứ một cải tiến, đổi mới nào về phương pháp giảng dạy cũng cần được đặt trong mối tương quan mật thiết với phương pháp kiểm tra, đánh giá Qua những tìm hiểu, phân tích và một số đề xuất trên đây, tác giả mong rằng mọi quy chế về kiểm tra, đánh giá do Bộ Giáo dục và

Đào tạo, trường ĐH GTVT hay bộ môn đề ra đều nhằm phản ánh thực chất, công bằng học lực của từng sinh viên Và một khi quy chế được soạn thảo, thống nhất, ban hành thì nó phải được thực hiện nghiêm chỉnh

Tài liệu tham khảo

[1] Brindley, G (1997) Assessment and the Language

Teacher: Trends and Transitions The Language Teacher Online 21.09

[2] Jacobs, G M Let’s Chat: Using Dialogue Journals

Tell Vol 12, No1 (p 2) March 1996

[3] Le Huy Truong (1988) Towards Improving ESP

Testing in Vietnam Canberra

[4] Một số quy chế đối với sinh viên (2002) Hà Nội:

Trường Đại học Giao thông Vận tải Bộ Giáo dục

và Đào tạo.

[5] Moya, S S & O’ Malley, J M (1994) A Portfolio Assessment Model for ESL Retrieved July 12,

2001 from the World Wide Web:

www.ncbe.gwu.edu/mis-cpubs/jeilms/vol13/portfo13.html

[6] Puhl, C A Develop, not judge: Continuous

Assessment in the ESL classroom English Teaching Forum April 1997

[7] Torhman, R (1988, October 26) ‘Vermont plans to pioneer with ‘work portfolios’ Education Week

p.1

[8] Văn Tân & Nguyễn Văn Đạm 1994 Từ điển Tiếng

Việt NXB Khoa học xã hội Ă

Ngày đăng: 06/08/2014, 05:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm