Hiện nay, hệ thống kéo một chiều đã được ứng dụng rộng rãi trên thế giới gồm có: phương thức điều khiển bằng cách biến đổi điện trở và bằng máy chặn sóng và thay đổi điện thế.. Nguyên lý
Trang 1Tính toán một số thông số cơ bản
của đoμn tμu nhẹ
TS Nguyễn văn chuyên
Bộ môn Đầu máy - Toa xe Khoa Cơ khí - Trường Đại học GTVT
Tóm tắt: Trên cơ sở năng lực chuyên chở hμnh khách, có thể định ra biên chế của đoμn
tμu Căn cứ vμo mức độ gia vμ giảm tốc độ để phát huy tốc độ một cách hợp lý, cần xác định một số thông số cơ bản đảm bảo yêu cầu vận tải của tuyến một cách tối ưu
Summary: Base on passenger transporting capacity, we are able to dicide component
parts of train Depend on reducing and increasing ability, in order to rationalire the velocity and the transport capacity, we find out some original parameters.
i đặt vấn đề
Lần đầu tiên Việt Nam triển khai xây
dựng tuyến đường sắt nhẹ đô thị tốc độ cao
Đây là loại hình vận tải đường sắt đặc biệt
khác xa với yêu cầu của đường sắt thông
thường Loại đường sắt này vận chuyển trong
những khu gian rất ngắn khoảng 1000m, yêu
cầu tăng tốc khi khởi động rất nhanh và giảm
tốc khi hãm cũng rất mạnh Để có thể xây
dựng được những đoàn tàu này cần phải tính
toán lựa chọn một số thông số cơ bản như
công suất nhỏ, hình thức truyền động, hình thức
phanh hãm Đây là những nội dung cơ bản của
bài báo
ii nội dung
1 Yêu cầu thiết kế phương tiện vận tải
đường sắt đô thị
Tuyến đường sắt đô thị Hà Nội - Hà Đông
được thiết kế với đoàn tàu hiện đại gồm 4 toa
(2 toa có động cơ và hai toa kéo theo) trong tương lai sẽ là 5, 6, 7 và 8 Có nghĩa đoàn tàu
sẽ có số toa khoảng từ 4 ữ 8 toa phụ thuộc vào chiều dài nhà ga và dung lượng hành khách
Đoàn xe cần được thiết kế hiện đại, các
hệ thống trong đoàn tàu thiết kế theo dạng môđun tiêu chuẩn, thuận tiện cho việc thay thế, bảo dưỡng sửa chữa Mục tiêu bảo đảm tiện nghi tối đa cho hành khách, có độ bền và tuổi thọ cao Các thiết kế cần phù hợp với phong tục tập quán đi lại của người Việt nam, phù hợp với vóc dáng tạo điều kiện lên xuống cho người già, trẻ em, trợ lực tốt cho con người trong quá trình tăng tốc và hãm
Các chi tiết của đoàn tàu cần có độ tin cậy cao, hệ thống hãm bảo đảm tốt hai chức năng hãm thường và hãm khẩn
Vấn đề môi trường cần đặt ra trong quá trình thiết kế Hệ thống tạo ra sức kéo cần có hiệu suất cao, không gây độc hại Vật liệu sử dụng trong chế tạo không được chứa độc tố
Trang 2Hình 1 Biên chế đoμn tμu
như các hợp chất halogen, amiăng Đoàn xe
sử dụng vật liệu chống cháy, phù hợp với
cảnh quan môi trường, ít ô nhiễm môi trường
Các chi tiết, đặc điểm thuộc phần điện phải
được nhiệt đới hoá
Năng lượng chuyên chở hành khách được
xác định từ năng lực của phương tiện với thời
gian giãn cách tối thiểu Các thiết bị dẫn
khách lên xuống phải thuận tiện, tạo điều kiện
lên xuống nhanh Thời gian giãn cách ngắn sẽ
tăng năng lực vận tải hành khách, giảm thời
gian chờ đợi
Các chi tiết được thiết kế cần có khả
năng dự phòng cao, giá thành sửa chữa thấp,
các thiết bị phải được tiêu chuẩn hoá, dễ mua
với thời gian ngắn mà không phải thiết kế lại
Các thiết bị điện không sử dụng các đấu nối
có sử dụng kẹp và ghim mà sử dụng các giắc
cắm thay thế, tạo khả năng thay thế các thiết
bị nhanh
Hệ thống điện động lực chọn loại 750V DC
Động cơ điện kéo là động cơ điện xoay chiều
2 Thành phần đoàn tàu
Đoàn tàu gồm toa xe có buồng lái ký hiệu
là TC, toa xe có lắp động cơ ký hiệu là M Toa
có buồng lái lắp ở đầu xe Giai đoạn đầu đoàn
tàu được biên chế dạng gồm 4 toa được bố trí
như sau: = TC * M = M * TC =, nếu số toa tăng
lên sẽ có dạng = TC * M … M * TC
trong đó : - TC là toa xe có buồng lái
- M là toa xe có động cơ
= móc nối tự động
* móc nối bán vĩnh cửu
Hình thức lập tàu hai đầu máy kéo 2 toa
xe, có thể giảm bớt chi phí mua toa xe, tiêu
hao năng lượng, số lượng thiết bị, công tác
bảo dưỡng sửa chữa ít, biên chế kiểu này có
thể xếp thành hai nhóm, một đầu tàu kéo một toa xe như hình 1
Toa kéo có buồng lái (TC) thống nhất lấy trọng lượng không nhỏ hơn 32 tấn
Toa động cơ (M) trọng lượng không nhỏ hơn 36 tấn
3 Tính toán công suất kéo cho đoàn tàu
3.1 Đặc tính sức kéo bám
Trọng lượng bám được tính bởi trọng lượng đè lên ray ở các toa xe có động cơ; Trọng lượng bám gồm trọng lượng toa xe, trọng lượng người ngồi và trọng lượng người
đứng; Trọng lượng 1 người Việt nam khi tính toán lấy khoảng 70kg
- Với định viên 6 người/1m2 hành khách trên 2 toa xe có động cơ là 574 người
- Với định viên 9 người/1m2 hành khách trên 2 toa xe có động cơ là 818 người
- Trọng lượng bám khi 6 người/1m2 là:
P1 = 2x36 + 574x0,07 = 112,18 tấn
- Trọng lượng bám khi 9 người/1m2 là:
P2 = 2x36 + 818x0,07 = 129,26 tấn Lực bám tính theo công thức:
Fb = Pi.ψk [KG] (1) với ψk = ƒ(V,R);
trong đó: V là tốc độ đoàn tàu [m/s]; R là bán kính đường cong [m]
V 20 100
8 25
, 0
Khi vào đường cong hệ số bám được hiệu chỉnh:
R 1 , 1 500
R 55 , 1 250
k
+
= ψ
=
ψ (Khi R < 500m) (3) Tính cho các bán kính đường cong
R = 150, 200, 250, 300m
Lực bám trong đường cong:
Fbr = Pi.ψkr [T] (4)
Trang 3Pi là trọng lượng ứng với các số định viên [tấn]
Thay số vào các công thức (1), (2), (3) và
(4) ta vẽ ra được đặc tính sức kéo bám như
các hình 2, đồ thị lực kéo bám như hình 3, 4:
Hình 2 Đồ thị hệ số bám ψk , ψkR
Hình 3 Đồ thị lực kéo bám khi số định viên
6 người/1m 2
Hình 4 Đồ thị lực kéo bám khi số định viên
9 người/1m 2
3.2 Đặc tính sức cản
Lực cản đoàn tàu khi chạy trên đường:
Wk =(ω'0+ik).2P+(ω0'' +ik).2Q[KG] (5)
ψ k , ψ kR ψ k , ψ kR
Lực cản đơn vị của đoàn tàu:
Q 2 P 2
Q 2 )
i ( P 2
' 0
+ ω + +
ω
=
với ik là độ dốc quy đổi %0
Đặc tính sức cản biểu thị trên hình 5
[T]
Hình 5 Đồ thị lực cản đoμn tμu theo độ dốc
3.3 Tính toán lực kéo vμnh bánh
Lực kéo vành bánh được tính ở tốc độ tính toán, tốc độ cấu tạo, khi khởi động ký hiệu là Ftt, Fct, Fkd Sau khi tính toán lấy theo giá trị lớn nhất trong các lực đó
[T]
3.3.1 Lực kéo vμnh bánh khi chạy ở tốc
độ tính toán
P 2 )
i ( Q 2 )
i (
Fktt = ω'0 + k + ω0'' + k [KG] (7) Tính ở các tốc độ tính toán Vtt = 13, 14,
15 20 km/h Với độ dốc lớn nhất ik = 40%o, ứng với
các tốc độ tính toán ta có Fktt = 9366,6; 9370,9; 8255,4; 8259,9; 8264,6; 8269,4 [KG]
Trang 43.3.2 Lực kéo vμnh bánh khi khởi động
⎟⎟
⎠
⎞
⎜⎜
⎝
⎛
+ + +
⎟⎟
⎠
⎞
⎜⎜
⎝
⎛
+ +
0 kd
0
7 q
28 Q 2 i 7
q
28
P
2
(8) Tính cho các tải trọng trục qo = 13; 13,48;
14 tấn/1trục
Với độ dốc ikd = 40%o, q0 = 13; 13,48;
14 tấn/1trục, tính được các giá trị lực khởi kéo
vành bánh khi khởi động Fkd = 9273,6; 9266,3;
9258,7 [KG]
3.3.3 Lực kéo vμnh bánh khi chạy ở tốc
độ cấu tạo 80km/h
3.3.4 Lực kéo vμnh bánh ở tốc độ cho
tương lai khoảng 120km/h
Fkvtl = ω'0.2Q+ω0''.2P [KG] (10)
Fkvtl = 1431.6 [KG]
3.4 Tính toán công suất vμnh bánh
(công suất kéo đoμn tμu)
Công suất vành bánh tính theo công
thức:
7355 , 0 270
V F
N = [KW] (11)
F: lực kéo ở các chế độ tính toán [KG]
V: tốc độ tính toán ở các chế độ khởi
động, tốc độ tính toán, tốc độ cấu tạo [km/h]
Sau khi xác định được công suất vành
bánh khi chọn ở các tốc độ tính toán, khởi
động ở tốc độ cấu tạo và ở tốc độ 120km/h
tương ứng là 171,5KW; 5,28KW, 202,7 W và
487,67KW
3.5 Tính toán công suất các động cơ
Ndc = Nt.η [KW] (12)
Với η là hiệu suất bánh răng truyền động,
η = 0,95
Tương ứng với các chế độ tính toán, khởi
động, tốc độ cấu tạo, tốc độ tương lai được:
Ndtt = 382,16/0,95 = 402 KW
Ndkd = 5,28/0.95 = 5,55 KW
Ndct = 202,37/0,95 = 213 KW
Ntl = 487,67/0.95 = 513,3 KW Dựa vào kết quả tính toán trên ta có công suất tối thiểu một động cơ tính ở các chế độ cho ở bảng 1
Bảng 1
TT Công suất đoàn tàu ở các chế độ
Công suất cho một động cơ
1 Tốc độ tính toán 50,2 KW
2 Tốc độ khởi động 0,69 KW
3 Tốc độ cấu tạo 26,6 KW
4 Tốc độ tương lai 64,1 KW
ở đoàn tàu nhẹ công suất cho một động cơ cần căn cứ vào khả năng vượt qua dốc 40%o; đoàn tàu chạy trong các khu gian khoảng cách không đầy 1.000m, cần phải có
độ gia và giảm tốc lớn, phải đảm bảo khả năng khi một toa động lực bị sự cố đoàn tàu vẫn đảm bảo chạy với kế hoạch chạy tàu đã
định Vì vậy công suất cho một động cơ khoảng 180kw để thoả mãn sự vận hành bình thường của đoàn tàu
3.6 Xây dựng đặc tính sức kéo đoμn tμu
7355 , 0 V
N 270
F= kmax [KG]
Với Vk = [0, 5, 10, 15, 120 km/h]
Hình 6 Đường đặc tính sức kéo đoμn tμu
Trang 5Khi thiết kế đầu máy cần chọn phương
thức điều khiển động cơ điện kéo cần thoả
mãn đặc tính sức kéo như trên hình 6
3.7 Chọn gia tốc đoμn tμu khi kéo
Tốc độ cấu tạo của phương tiện thiết kế
80km/h Gia tốc đoàn tàu từ 0 đến 40km/h
trong khoảng 0,83 ữ 0,9m/s2 từ 0 đến 80km/h
lớn hơn 0,85m/s2
Thời gian tăng tốc từ 0 đến V km/h tính
theo công thức :
t
V 278 , 0
a = [m/s2]
Trong đó: V là giá trị cuối cùng cần phải
tăng tốc [km/h]; a là gia tốc [m/s2];
t là thời gian tăng tốc [s]
* Thay số vμo ta có:
Thời gian cần thiết để tăng tốc từ 0 đến
40km/h là:
s , 12 4 , 13 9 , 0 83 , 0
40 278
,
0
ữ
=
Thời gian cần thiết để tăng tốc từ 40 đến
80km/h là:
s 13 85 , 0
40 80 278 , 0
Thời gian tăng tốc từ 0 đến 80km/h
khoảng 26,4 ữ 25,3s
3.8 Gia tốc đoμn tμu khi hãm, thời gian
cần thiết để giảm tốc, quãng đường hãm cần
thiết
Đối với đoàn tàu nhẹ độ giảm tốc khi hãm
thường phải lớn hơn 1m/s2; độ giảm tốc hãm
khẩn yêu cầu lớn hơn 1,3 m/s2
3.8.1 Thời gian để hãm thường giảm tốc
từ 80km/h đến 0km/h lμ
1
80 278 , 0 t S a
V
278
,
0
3.8.2 Quãng đường hãm khi hãm thường
[ ]⇒
a
V 0385 , 0 S
2 ht
1
80 0385 , 0 S
2
⇒
3.8.3 Thời gian cần thiết khi hãm khẩn từ tốc độ 80km/h đến 0km/h với độ giảm tốc 1,3m/s 2
s , 17 3 , 1
80 278 , 0
3.8.4 Quãng đường hãm khi hãm khẩn với độ giảm tốc 1,3m/s 2
m 5 , 189 3 , 1
80 0385 , 0 S
2
Kết hợp với điều kiện vận hành, phương thức lập tàu và kỹ thuật điều khiển VVVF của tuyến đường sắt Hà Nội - Hà Đông kiến nghị gia tốc bình quân khi khởi động là 0,83m/s2 (0 ữ 80km/h), độ giảm tốc bình quân khi hãm
là 1m/s2 (80 ữ 0km/h) Tốc độ cao nhất của
đoàn tàu là 80km/h
4 Lựa chọn hệ thống điện kéo
- Hệ thống điện động lực bao gồm động cơ điện kéo các thiết bị điện khí có liên quan
đến động cơ điện kéo và các dây dẫn Tác dụng của hệ thống điện động lực là đem điện năng của mạch điện chuyển thành lực kéo
đoàn tàu, khi hãm thì đem động năng của toa
xe chuyển thành lực hãm điện Đây là mạch
điện kín, công suất lớn, dòng điện lớn, cao áp
Hệ thống điện kéo là phần cốt lõi của toa
xe động cơ điện, đánh dấu chủ yếu trình độ kỹ thuật toa xe, tính năng của toa xe tốt hay kém, giá thành và chi phí vận hành cao hay thấp và
sự đảm bảo chắc chắn của toa xe là những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng, đều gắn chặt với hệ thống điện kéo Hiện nay, hệ thống điện kéo được sử dụng trên đường sắt nhẹ có thể chia làm hai loại lớn: hệ thống điện
Trang 6kéo điện một chiều và máy điện xoay chiều
4.1 Hệ thống kéo một chiều
Hệ thống kéo một chiều là hệ thống điện
kéo lấy máy điện một chiều làm động cơ kéo
Hiện nay, hệ thống kéo một chiều đã được
ứng dụng rộng rãi trên thế giới gồm có:
phương thức điều khiển bằng cách biến đổi
điện trở và bằng máy chặn sóng và thay đổi
điện thế
Nguyên lý cơ bản của phương thức điều
khiển bằng cách biến đổi điện trở là thông qua
điều tiết điện trở của động cơ máy điện một
chiều để thay đổi điện thế của máy điện kéo,
đạt mục đích điều khiển tốc độ của xe Ưu
điểm của phương thức điều khiển tốc độ này
là kết cấu đơn giản, kỹ thuật chính xác, chắc
chắn, giá rẻ, khuyết điểm lớn nhất là tiêu hao
nhiều năng lượng, đặc biệt là trong tình hình
cự ly nhà ga gần, số lần chuyển động và hãm
phanh nhiều, khiến rất nhiều năng lượng điện
trở thành nhiệt lượng, làm cho giá thành vận
hành nâng cao, hơn nữa dòng điện khi khởi
động lớn, hành khách cảm thấy không thoải
mái, đồ điện bị va chạm nhiều, kích thước lớn,
trọng lượng nặng, công việc tu sửa nhiều
Hiện nay người ta ít áp dụng phương thức này
trong các dự án xây dựng mới
Điều khiển điện thế bằng cách chặn sóng
một chiều tức là tận dụng máy chặn sóng liên
tiếp để điều tiết điện cuối cùng của máy điện,
để đạt mục đích điều khiển tốc độ phương
thức này sẽ mang lại hiệu quả lớn là tiết kiệm
năng lượng nói chung có thể tiết kiệm khoảng
20- 30 % điện so với phương thức biến thế
điện bằng máy biến đổi điện trở, đặc biệt
mang lại hiệu quả nổi bật và giảm nhiều giá
thành vận hành cho đường sắt nhẹ đô thị khởi
động và hãm phanh dồn dập
Nhưng hệ thống kéo một chiều đều lấy
máy điện kéo một chiều làm động cơ, do vậy
máy điện kéo một chiều có những khuyết
điểm như thể tích lớn, chiếm không gian rộng,
việc tu sửa lớn v.v Hiện nay, máy điện xoay chiều chặn sóng đã dần dần thay thế máy
điện một chiều
4.2 Hệ thống máy kéo xoay chiều
Hệ thống máy kéo xoay chiều là hệ thống kéo lấy máy điện kéo xoay chiều làm động cơ Máy kéo xoay chiều kết cấu đơn giản, công việc tu sửa không nhiều, song việc điều khiển tốc độ khó hơn so với máy điện một chiều Cho nên trong quãng thời gian dài, lĩnh vực máy kéo công suất lớn luôn luôn lấy máy điện một chiều là chính Nhưng song song với sự xuất hiện của nguyên kiện điện lực điện tử GTO, IGBT và LPM cũng như sự phát triển của kỹ thuật biến dòng điện lực điện tử và việc ứng dụng kỹ thuật điều khiển bằng vi tính, khiến hệ thống máy kéo xoay chiều trở thành
hệ thống điều khiển tốc độ có tính hơn hẳn trong hệ thống điều khiển tốc độ cận đại Cụ thể có những ưu điểm như sau:
- Chạy bằng máy điện kéo xoay chiều, máy điện không đồng bộ không cần vòng cách, chổi điện v.v , nếu so sánh với máy
điện kéo một chiều, thì thể tích và trọng lượng của nó đều nhỏ hơn ở công suất máy giống nhau, do vậy tương đối có lợi cho việc sắp xếp thiết bị dưới đáy xe và giảm trọng lượng của bản thân toa xe
- Kỹ thuật điều khiển VVVF có thể điều khiển đoàn tàu trong phạm vi tốc độ khác nhau, nhất là việc ứng dụng kỹ thuật điều khiển bằng vi tính đã khiến sự điều khiển bằng máy biến tần trở nên linh động và chính xác hơn, có thể tận dụng công suất máy điện và
độ bám của toa xe, thực hiện sự điều khiển một cách linh động, phòng ngừa bánh xe bị quay trượt, có thể nâng cao tốc độ tăng khi khởi động và giảm tốc độ khi hãm phanh
- Việc thay đổi hướng kéo cũng như sự chuyển đổi tình hình làm việc từ kéo sang hãm phanh không cần dùng đến công tắc, chỉ cần thay đổi pha mạch xung của máy biến tần là
Trang 7có thể thực hiện được Do vậy có thể giảm bớt
rất nhiều các đường dây điện và số lượng
công tắc, khối lượng công việc tu sửa ít, giảm
thiểu trọng lượng thiết bị điện, nhờ đó mà
giảm bớt trọng lượng của toa xe cũng như
giảm bớt sự tác động đối với đường ray
Qua phân tích so sánh các loại hệ thống
kéo nói trên, xét về tính năng kỹ thuật và công
việc tu sửa, áp dụng kỹ thuật chuyển điện
xoay chiều VVVF là thích hợp Kỹ thuật này
đã được ứng dụng rộng rãi vào xe điện trên
các tuyến đường sắt nhẹ đô thị ở các nước
Đối với mối quan hệ giữa máy biến tần và
việc điều khiển máy điện cần phải suy xét như
sau, 1 máy biến tần có thể điều khiển 4 máy
điện kéo (gọi tắt là 1C4M) và 1 máy biến tần
điều khiển 2 máy điện (1C2M) Hai phương
thức điều khiển này đều có ưu, khuyết điểm
Về phương thức điều khiển bằng 1C4M,
thì yêu cầu dung lượng của máy biến tần có
thể khởi động được 4 máy điện 180 kW, trong
khi đó đẳng cấp chịu đựng của nguyên kiện
công suất cũng cần phải nâng cao một cách
tương ứng Bởi vậy việc chế tạo máy biến tần
IGBT rất khó
Một máy biến dòng điện ngược điều
khiển 4 máy điện, do sự khác nhau về đặc
tính giữa máy điện với bánh xe, tiến độ bám
của toa xe khi nâng cao Do sự ảnh hưởng
của kích thước bánh xe làm cho phụ tải của
các máy điện không cân bằng, dẫn tới lượng
tiêu hao đồng của máy điện kéo tăng lên và
công suất của nó giảm xuống Thời gian vận
hành của tàu cũng giảm số lượng một cách
tương ứng Trong tình hình dùng hai đầu máy
kéo hai toa xe, sẽ khiến tỷ lệ mất 1/2 động lực
của toa xe nâng cao, không lợi cho vận hành
Do giảm thiểu máy biến dòng điện ngược sẽ
mang lại phần nào lợi ích về kinh tế, trong khi
đó vì đã giảm bớt số lượng thiết bị, cho nên
công việc tu sửa cũng giảm thiểu
Nếu áp dụng phương thức điều khiển
bằng 1C2M, sẽ giảm thiểu 50% dung lượng
máy biến dòng điện ngược so với phương thức 1C4M, đẳng cấp chịu đựng của dòng điện cũng giảm một nửa, như vậy sẽ giảm bớt khó khăn trong việc chế tạo máy biến dòng điện ngược IGBT, giá thành máy biến dòng điện ngược một pha cũng giảm xuống
Do máy điện điều khiển máy biến dòng
điện ngược bị giảm, sẽ nâng cao độ bám của
xe, lượng tiêu hao đồng giảm xuống, công suất máy điện nâng cao Thời gian vận hành của tàu được tăng lên Hạ thấp tỷ lệ mất động lực của tàu bởi máy biến tần gây nên sẽ có lợi cho vận hành Giảm thiểu dung lượng của máy biến tần có thể khiến sóng của máy biến tần càng tiếp cận sóng dòng chính, giảm bớt nhiễu điện tử một cách rõ rệt
Do tăng thêm số lượng máy biến dòng
điện ngược sẽ nâng cao giá thành toa xe trên mức nhất định, đồng thời cũng tăng thêm công việc sửa chữa Tuy nhiên qua thực tế thấy rằng giá thành của đầu máy toa xe sẽ nâng không nhiều
Nói tóm lại, trong tình hình giá thành đầu máy toa xe không nhiều, đồng thời để mang tính năng vận hành tốt hơn cho tàu và hạ thấp
tỷ lệ mất động lực đoàn tàu do hai đầu máy kéo hai toa xe bởi chướng ngại máy biến dòng
điện ngược gây nên, đề nghị tuyến 2 đường sắt nhẹ đô thị Hà Nội áp dụng phương thức
điều khiển bằng 1C2M, tức do một máy biến dòng điện ngược điều khiển hai máy điện kéo
Đường dây điện chính sử dụng thiết bị
điều khiển dòng điện chính ngược như : IGBT hoặc (IPM) VVVF, áp dụng phương thức điều khiển IC2M, tức một máy biến dòng điện ngược điều khiển hai máy điện kéo
Động cơ điện kéo là động cơ xoay chiều
ba pha, công suất liên tục của máy điện tối thiểu là 180 kW, cấp cách điện là 200, tự thông gió Mỗi đầu máy toa xe lắp 4 máy điện xoay chiều 3 pha treo theo hướng ngang trên khung giá chuyển hướng
Trang 8III Kết luận
Các thông số cơ bản sau khi tính toán và lựa chọn thấy rằng nó rất khác so với tính toán của đường sắt nguyên thuỷ Sự khác nhau này chủ yếu do yêu cầu kỹ thuật của đoàn tàu nhẹ phải làm việc trong điều kiện kỹ thuật phức tạp như khoảng cách khu gian rất ngắn khoảng 1km, trong khi đó đường sắt chính tuyến thường khoảng cách khu gian xấp xỉ 10km Do khoảng cách khu gian ngắn như vậy, trong khi tốc độ lữ hành rất cao khoảng 40km/h, đòi hỏi phải gia tốc khi khởi động và giảm tốc khi hãm rất lớn Mặt khác trắc dọc tuyến phức tạp từ hầm leo lên cao, độ dốc có thể tới 40%o, đây cũng là lý do đòi hỏi phải lựa chọn công suất lớn
Qua việc phân tính toán một số thông số cho đoàn tàu nhẹ thấy được, đoàn tàu nhẹ có yêu cầu đặc biệt: nhanh, an toàn, tần suất hoạt động lớn, nên cần phải đặt vấn đề tự
động hoá lên hàng đầu Có như vậy mới đảm bảo được quá trình vận hành êm thuận, có sức cạnh tranh với các phương tiện giao thông khác tạo điều kiện giảm ách tắc giao thông
Tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Văn Chuyên, Trương Duy Phúc
Phương tiện giao thông điện trong thành phố - Hà Nội, 2004
[2] Tổng công ty giao thông vận tải Các tài liệu về
dự án khả thi tuyến đường sắt Hà Nội - Hà Đông -
Hà Nội, 2004
[3] Nguyễn Văn Chuyên Sức kéo đoàn tàu - Hà
nội, 2002♦