đặt vấn đề Trong lĩnh vực tính toán thiết kế các kết cấu vỏ hầm giao thông có dạng đường cong, việc xác định chính xác vị trí điểm không điểm không có biến dạng hết sức quan trọng vì vị
Trang 1Xác định vị trí điểm không trong kết cấu vỏ hầm giao thông
PGS TS trần quang vinh
Ths Lê quang hưng
Bộ môn Kết cấu Khoa Công trình - Trường ĐHGTVT
Tóm tắt: Bμi báo dưới đây giới thiệu việc xác định chính xác vị trí điểm không của kết cấu
vỏ hầm bằng phương pháp phần tử hữu hạn
Summary:The article present to define accurate of undeformed point of tunnel by finite
element method
i đặt vấn đề
Trong lĩnh vực tính toán thiết kế các kết
cấu vỏ hầm giao thông có dạng đường cong,
việc xác định chính xác vị trí điểm không
(điểm không có biến dạng) hết sức quan trọng
vì vị trí điểm không có ảnh hưởng rất lớn đến
việc lựa chọn sơ đồ tính cho kết cấu, mô hình
hoá kết cấu, xác định các tổ hợp tải trọng tác
dụng lên kết cấu vỏ hầm Việc xác định
chính xác vị trí điểm không là rất phức tạp
Trong các phương pháp giải tích, để xác định
vị trí điểm không, người tính thường phải giả
định trước vị trí điểm không, sơ đồ phân bố
của lực kháng đàn hồi rồi mới xác định nội lực
và biến dạng của kết cấu vỏ hầm dưới tác
dụng của các tổ hợp tải trọng Sau đó, qua kết
quả tính toán được sẽ hiệu chỉnh lại vị trí điểm
không rồi lại tính toán kết cấu vỏ hầm với sơ
đồ vừa hiệu chỉnh Việc tính toán như vậy phải
lặp đi lặp lại nhiều lần để xác định chính xác vị
trí điểm không thực tế Do đó, để xác định
chính xác vị trí điểm không, thay vì sử dụng
các phương pháp giải tích thông thường, khi
sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn có thể
xác định được biến dạng của kết cấu vỏ hầm
dưới tác dụng của các tổ hợp tải trọng chủ
động rồi từ các biến dạng đã biết để xác định
vị trí điểm không và sơ đồ phần bố của lực
kháng đàn hồi
II Xác định vị trí điểm không bằng phương pháp giải tích
Khi kết cấu vỏ hầm được xây sát với vách hang, bề mặt của vỏ hầm tiếp xúc với vách hang do các khe hở giữa vách hang và vỏ hầm được phun vữa để lấp đầy Lúc đó, dưới tác dụng của các tải trọng chủ động, kết cấu
vỏ hầm sẽ phát sinh ra biến dạng và nó có xu hướng di chuyển một phần vào phía trong hầm, một phần về phía vách hang (địa tầng)
Do ảnh hưởng của phần chuyển vị trong kết cấu vỏ hầm về phía địa tầng mà khi đó địa tầng xuất hiện hiện tượng ép chặt của đất đá Môi trường xung quanh vỏ hầm có tính chất
đàn hồi cho nên vỏ hầm sẽ chịu tác dụng ngược lại của một thành phần phản lực do địa tầng sinh ra để chống lại thành phần chuyển
vị đó Thành phần phản lực đó được gọi là lực kháng đàn hồi
Dưới tác dụng của lực kháng đàn hồi, kết cấu vỏ hầm sẽ hạn chế biến dạng của nó, làm tăng trị số của lực dọc và giảm trị số mômen uốn trong kết cấu
Lực kháng đàn hồi phát sinh trên bề mặt ngoài kết cấu vỏ hầm tại những phần có chuyển vị về phía địa tầng có dạng vòm hoặc
Trang 2cung tròn có thể ở dạng
pháp tuyến σ (chống
nén) và tiếp tuyến τ
(chống trượt) Giá trị
của thành phần tiếp
tuyến trong lực kháng
đàn hồi có thể xác định
theo công thức :
τ = μσ
μ: là hệ số ma sát
giữa vỏ hầm và địa
tầng
Khi tính toán kết cấu vỏ hầm dạng vòm
hay dạng cung tròn, trong đa số trường hợp ta
chỉ xét đến thành phần pháp tuyến của lực
kháng đàn hồi còn thành phần tiếp tuyến có
thể bỏ qua để dự trữ độ bền cho kết cấu
Khi xác định trị số của lực kháng đàn hồi,
người ta sử dụng các giả thiết biến dạng cục
bộ hoặc lý thuyết cùng biến dạng (biến dạng
chung)
Theo giả thiết biến dạng cục bộ của
Winkler giữa ứng suất σ và biến dạng δ có sự
phụ thuộc tuyến tính:
σ = Kδ K: là hệ số kháng lực đàn hồi
δ: là chuyển vị theo phương pháp tuyến
Thường thì trị số của K được xác định
bằng thực nghiệm Trị số của hệ số kháng lực
đàn hồi phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố như
khả năng biến dạng của địa tầng, hình dạng,
kích thước của mặt tiếp xúc, trị số của tải
trọng trên mặt tiếp xúc, độ cứng của kết cấu
Khi tiến hành thí nghiệm ép tấm phẳng
có diện tích Fm(m2) vào khối đá thì hệ số phản
lực đàn hồi pháp tuyến đối với mặt tiếp xúc FK
< 10m2 được xác định bằng công thức :
σ : là áp lực lên tấm (T/m2)
Δ : là độ lún của tấm (m)
Dựa vào giả thuyết của Winkler, G.G.Durabov và O.E.Bugaeva đã đưa ra phương pháp xác định lực kháng đàn hồi đối với các dạng vỏ hầm tường cong Trong phương pháp tính toán này, lực kháng đàn hồi
được xét đến trên một phần của chu vi vỏ hầm
mà khi biến dạng có chuyển vị về phía địa tầng Trị số lực kháng ở điểm bất kỳ trên kết cấu vỏ hầm được lấy tỷ lệ với chuyển vị δ của
điểm đó (giả thiết của Winkler) Hướng của lực kháng lấy theo phương pháp tuyến đối với bề mặt vỏ hầm Trên phần có phát sinh lực kháng có xét đến cả lực ma sát
Biểu đồ của phản lực kháng đàn hồi được xác định dựa trên ba điểm là hai điểm không (hai điểm có chuyển vị bằng không) và điểm
có giá trị lớn nhất Việc xác định chính xác
điểm không phía trên là vô cùng phức tạp Do vậy, trong giai đoạn tính toán thiết kế với kết cấu vỏ có dạng đường cong tròn bằng các phương pháp giải tích thông thường thì vị trí
điểm không nên chọn với góc ϕ0 = 45 ữ 75 và thường khi tính toán ban đầu nên chọn
ϕ0 = 45, với kết cấu vỏ có dạng đường cong Parabol, vị trí điểm không nên chọn tại điểm
có H = 0,7h Sau đó kiểm tra lại với kết quả tính toán để hiệu chỉnh lại rồi tính lặp lại nhiều lần để có được kết quả chính xác Điểm không phía dưới là điểm chân của kết cấu vỏ vì như
đã nêu ở trên thì điểm chân không có chuyển
vị ngang
Cùng với giả thiết về vị trí điểm không, với điểm có trị số phản lực kháng đàn hồi lớn
K
m
F
F
Δ
δh
q
φ
o
φ
o
α α
K δ
K δ
K δ
h
φ
α
Sơ đồ tính theo phương pháp của G.G.Durabov vμ O E Bugaeva
Trang 3nhất tương ứng với điểm có chuyển vị về phía
địa tầng lớn nhất (δh) ta cũng nên chọn
(H-h
III Xác định vị trí điểm không bằng phương pháp phần tử hữu hạn
1) = 0,33H khi chiều cao của kết cấu vỏ
h ≥ l ; và (H-h1) = 0,4H khi h < l
q
φ
β
δh K
δ K
δ K
h
y1 1
l
Ta cũng giả thiết quy luật phân bố của
phản lực kháng đàn hồi là có dạng parabol
bậc hai với trị số (Kδ) được xác định theo công
thức :
trong đó:
Kδh: là trị số lớn nhất của biểu đồ phản
lực kháng đàn hồi
y1: là khoảng cách từ điểm h1 đến điểm
đang xét
H: là chiều dài của biểu đồ lực kháng đàn
hồi
α: là hệ số được lấy theo biểu đồ ở phần
trên và phần dưới điểm có trị số lực kháng đàn
hồi lớn nhất Trong vùng phía trên được lấy
bằng (1/3) hoặc (2/5), trong vùng phía dưới
được lấy bằng (2/3) hoặc (3/5)
Lực ma sát theo mặt bên của kết cấu vỏ
hầm trong phạm vị vùng lực kháng đàn hồi
cũng được biểu thị thông qua δh
Si = μPi = μKδi
Khi tính toán thiết kế kết cấu vỏ hầm dưới tác dụng của tổ hợp tải trọng chính, có thể chia ra hai loại tải là tải trọng chủ động và tải trọng bị động Để xác định được vị trí
điểm không cũng như sơ đồ phân bố của lực kháng đàn hồi (tải trọng bị động), trước hết cần phải xác định được sơ đồ biến dạng của kết cấu vỏ hầm dưới tác dụng của tải trọng chủ động
Khi xây dựng sơ đồ tính cho kết cấu
vỏ hầm có thể giả thiết vỏ hầm có dạng cong trơn được thay thế bằng dạng thanh gãy khúc (thường thay bằng dạng đa giác có các cạnh bằng nhau) Sự thay đổi liên tục của
độ cứng trong kết cấu vỏ được thay bằng dạng bậc thang (trong phạm vi của một đoạn thanh thẳng, độ cứng của kết cấu vỏ được xem không thay đổi) Tải trọng chủ động và tải trọng bị động (thành phần lực kháng đàn hồi phát sinh tại các vùng vỏ hầm chuyển vị
về phía địa tầng) tác dụng lên kết cấu vỏ hầm
có dạng phân bố được thay bằng dạng bậc thang, tải trọng phân bố đều trên từng đoạn thanh Vì vậy khi chia kết cấu vỏ hầm thành nhiều phần tử được liên kết với nhau thông qua các điểm nút, nếu các phần tử được chia càng nhỏ thì bài toán càng gần với các giả thiết trên và kết quả tính được càng chính xác
⎤
⎢
⎢
⎣
⎡ α
ư δ
=
⎥
⎥
⎦
⎤
⎢
⎢
⎣
⎡
ϕ
ϕ
ư
δ
=
δ
2
2 1 h
2 0
2 h
H
y 1 k cos
cos 1
K
K
Như đã biết, do các phần tử được liên kết với nhau thông qua các điểm nút cho nên các trị số chuyển vị tại đầu của các phần tử cũng chính là các trị số chuyển vị tại các điểm nút
để đảm bảo cho tính liên tục về chuyển vị khi tính chuyển từ phần tử này sang phần tử khác Nếu như ta xác định được các giá trị chuyển vị tại các điểm nút thì ta sẽ xác định được chuyển vị của các phần tử qua đó có thể xác
định được trạng thái biến dạng của từng phần
tử
Từ phương trình cơ bản của phương pháp
Trang 4phần tử hữu hạn:
{P} = [K]{δ}
trong đó:
{P} là véctơ ngoại lực;
{δ} là véctơ chuyển vị;
[K] là ma trận độ cứng phụ thuộc vào các
đặc trưng hình học và đặc trưng cơ học
Có thể xác định được chuyển vị của kết
cấu nếu như biết được véctơ ngoại lực {P} và
ma trận độ cứng [K] của kết cấu vỏ hầm
Để xây dựng được véctơ ngoại lực của
phần tử {P} cần phải dời các tải trọng trung
gian về thành các tải trọng nút theo các quy
luật nhất định Các ngoại lực nút đó được gọi
là các ngoại lực nút tương đương Có nhiều
cách để xác định ngoại lực nút tương đương,
thông dụng nhất là phương pháp quy đổi
tương đương tĩnh học hay phương pháp năng
lượng trong môn Sức bền vật liệu hoặc môn
Cơ học kết cấu để dời tải trọng trung gian về
thành tải trọng nút đối với kết cấu hệ thanh
Ma trận độ cứng của phần tử được xây
dựng dựa trên nguyên lý công ảo Với giả thiết
ngoại lực tác dụng lên một vật thể đàn hồi và
ứng suất sinh ra trong vật thể đó luôn luôn ở
trong trạng thái cân bằng Nếu cho vật thể
chịu tác dụng của một chuyển vị nhỏ thì trong
vật thể sẽ phát sinh ra biến dạng ảo Lúc đó
công do ứng suất sinh ra (công trong Wt) sẽ
cân bằng với công do ngoại lực sinh ra (công
ngoài Wn) Ma trận độ cứng của phần tử được
xác định theo công thức:
[k] = ∫∫∫[B]T[D][B]dxdydz
Trong đó: [D] là ma trận đàn hồi của phần tử
[B] là ma trận hệ số biến dạng của
phần tử
Sau khi xây dựng được véctơ ngoại lực và
ma trận độ cứng của phần tử sẽ xác định được
véctơ chuyển vị của phần tử theo phương trình
cơ bản của phương pháp phần tử hữu hạn
Khi đã có được sơ đồ biến dạng của kết
cấu vỏ hầm, sẽ xác định được vị trí điểm không và thành phần lực kháng đàn hồi dựa vào giả thuyết biến dạng cục bộ của Winkler
IV Kết luận
Khi tính bằng phương pháp phần tử hữu hạn không bị giới hạn về dạng của đường cong trục vỏ hầm và có thể tính được trong các trường hợp tiết diện cũng như độ cứng của kết cấu vỏ hầm thay đổi Nếu như chia kết cấu thành các phần tử có kích thước càng nhỏ thì kết quả sẽ càng chính xác
Đặc biệt khi tính toán kết cấu vỏ hầm bằng phương pháp phần tử hữu hạn, ta không cần phải giả thiết đường cong biến dạng của kết cấu vỏ hầm khi chuyển vị về phía địa tầng
và đường cong phân bố của phản lực kháng
đàn hồi như các phương pháp giải tích thông thường vì sau khi tính toán đối với tải trọng chủ động ta đã có thể xác định một cách chính xác chuyển vị tại từng điểm trên kết cấu
vỏ hầm, qua đó sẽ tính được phản lực kháng
đàn hồi tác dụng tại từng điểm trên kết cấu vỏ hầm theo phương pháp tuyến và phương tiếp tuyến
Ngoài ra, khi sử dụng phương pháp phần
tử hữu hạn rất thuận tiện cho người tính xây dựng các chương trình tính toán trợ giúp khi tính toán thiết kế kết cấu vỏ hầm giao thông
Tài liệu tham khảo
[1] Lê Quang Hưng Nghiên cứu và đánh giá sự
phân bố nội lực trong kết cấu vỏ hầm giao thông (Luận văn Thạc sỹ Khoa hoc) Hà Nội, 2003
[2] Nguyễn Thế Phùng, Nguyễn Quốc Hùng Thiết
kế công trình hầm giao thông Hà Nội, 1993
[3] Trần Thanh Giám, Tạ Tiến Đạt Tính toán thiết
kế công trình ngầm Nhà xuất bản Xây dựng, 2002
[4] Nguyễn Xuân Lựu Phương pháp phần tử hữu
hạn Hà Nội, 2000
[5] Динамический расчет и иптимальное
Р.О.Бакиров ; Ф.В.Лой - Москва 2002♦