1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VDSL CHƯƠNG 2_3 ppsx

22 315 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 2,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề trong thực hiện các hệ thống song công phân tần là độ rộng và vị trí các dải tần dành cho các kênh truyền dẫn chiều lên và chiều xuống... Một điều căn bản khác cần lưu ý khi thiết

Trang 1

 Truyền được tốc độ bit tối đa trong các khoảng băng tần nhỏ

 Linh hoạt trong việc điều chỉnh tốc độ đường truyền Mỗi kênh con mang một số bit cụ thể phụ thuộc vào tỉ số S/N Do đó bằng việc điều chỉnh số bit trên một kênh, DMT có thể tự động điều chỉnh tốc độ bit dữ liệu

Nhược điểm

 Thiết bị rất đắt và phức tạp

 Trong điều kiện thực tế do có nhiều xung đột kĩ thuật diễn ra mạnh với các điều kiện kĩ thuật không đạt ở mức tối ưu việc áp dụng DMT vào là gặp nhiều khó khăn

Trang 2

 Mạch thực hiện đơn giản

Nhược điểm

Trang 3

 Tuy nhiên, số trạng thái của QAM càng lớn tỉ số tín hiệu trên tạp âm càng phải lớn để đảm bảo cùng một tỷ lệ BER cho phép SNR cần thiết cho các

hệ thống để đảm bảo BER< 10 -7 được thống kê theo bảng sau:

Bảng 2.7 SNR của các hệ thống thoả mãn BER<10 -7

Sự tương quan giữa SNR với tỉ số lỗi bit BER phụ thuộc vào số trạng thái mà

sơ đồ dùng để mã hoá được mô tả trên hình 2.25

Trang 4

Hình 2.25 Mối quan hệ giữa các trạng thái QAM và SNR, BER

Như vậy để đảm bảo BER cho phép, nếu tổ hợp bít càng lớn thì yêu cầu công suất phát càng cao và đó chính là hạn chế chính để đẩy cao tốc độ bít trên kênh truyền

2.3.2 Phương pháp truyền dẫn song công

Hầu hết các hệ thống FDD đều xác định hai kênh hay nhiều hơn và ít nhất là một kênh truyền dẫn chiều chiều lên và một kênh cho truyền dẫn chiều chiều xuống Các kênh này tách rời nhau về tần số nên gọi là song công phân tần Vấn đề trong thực hiện các hệ thống song công phân tần là độ rộng và vị trí các dải tần dành cho các kênh truyền dẫn chiều lên và chiều xuống Hình 2.26 là một sơ đồ thu phát theo FDD đơn giản

QAM-32

QAM-16

QAM-4

Trang 5

Hình 2.26 Sơ đồ thu phát theo FDD

Hình 2.27 minh hoạ trường hợp song công phân tần đơn giản nhất cung cấp một dải tần chiều lên và một dải tần chiều xuống Như hình vẽ minh hoạ, dải tần chiều lên

Trang 6

Hình 2.27 Vị trí điển hình của các kênh chiều lên và chiều xuống trong FDD

Có thể được bố trí có thể nằm trên hay nằm dưới dải tần chiều xuống Một hệ thống DSL khả thi có thể hoạt động trên các đường dây ở tầm cự ly từ 300 m đến 1,5 km hay dài hơn Như đã nói như ở các phần trước, suy hao đường dây sẽ ngày càng nhanh cùng với tần số trên các vòng thuê bao dài Vì vậy độ dài đường dây thuê bao càng tăng thì dải tần hữu dụng của đường dây sẽ càng giảm Để cho phép truyền dẫn thành công, cả hai kênh chiều xuống và chiều lên phải được bố trí trong dải tần hữu dụng Nếu dải tần hữu dụng nhỏ hơn fL thì hoặc là kênh chiều xuống hoặc là kênh chiều lên bị biến mất làm cho truyền dẫn song công không thực hiện được

Một điều căn bản khác cần lưu ý khi thiết kế các hệ thống song công phân tần

là độ rộng dải của các kênh chiều xuống và chiều lên Sự lựa chọn đúng đắn các độ rộng dải phụ thuộc vào tốc độ dữ liệu cần thiết và tỷ số tốc độ dữ liệu giữa hai chiều chiều xuống và chiều lên Vị trí giải thông thích hợp cho truyền tải dữ liệu bất đối xứng 8:1 khác nhiều so với vị trí dải thông hỗ trợ tốc độ dữ liệu đối xứng Việc lựa chọn độ rộng dải các kênh chiều xuống và chiều lên thêm phức tạp khi xét

Trang 7

đến độ các đường dây có độ dài khác nhau làm cho các tỷ số SNR và các dải thông hữu dụng cũng khác nhau Chẳng hạn vị trí dải thông thích hợp cho dịch vụ bất đối xứng tỷ lệ 8:1 trên đường dây dài 300 m khác rất nhiều so với vị trí dải thông cho dịch vụ bất đối xứng trên đường dây dài 1.5 km Để hỗ trợ tầm tốc độ dữ liệu, tầm

số dữ liệu rộng và truyền dẫn hai chiều trên đường dây có độ dài khác nhau, các hệ thống hệ thống song công phân tần phải cung cấp các chiều xuống và chiều lên có

độ rộng dải biến thiên làm tăng thêm độ phức tạp của hệ thống và đặc biệt là các

bộ lọc tưong tự Một ngoại lệ là khi một hệ thống song công phân tần DMT cho phép bố trí các phân kênh chiều xuống và chiều lên tuỳ ý bằng cách cung cấp một tập phân kênh dải thông đầy đủ cho mỗi chiều Sau đó, mỗi phân kênh được sử dụng cho chiều chiều xuống và chiều lên Mặc dù kĩ thuật này yêu cầu hai bộ biến đổi Fourier rời rạc DFT kích thước đầy đủ trong tất cả các modem vốn làm tăng độ phức tạp của hệ thống, nó vẫn làm cho các yêu cầu tương tự trở nên dể dàng cung cấp sự linh động lớn trong việc bố trí dải tần của phương pháp song công phân tần Trái ngược với VDSL song công phân tần tách rời rạc các kênh VDSL chiều xuống và chiều lên theo tần số, các hệ thống TDD (song công phân chia thời gian)

hỗ trợ truyền dẫn theo hai chiều chiều xuống và chiều lên trong một dải tần duy nhất nhưng trong các khoảng thời gian khác nhau Hình 2.28 minh hoạ dải tần duy nhất được các hệ thống song công phân chia thời gian sử dụng Sử dụng độ rộng dải phân kênh theo thời gian đựơc kết hợp với việc dùng các siêu khung Một siêu khung bao gồm một khoảng thời gian dành cho truyền dẫn chiều chiều lên, một khoảng thời gian bảo vệ, một khoảng thời gian dành cho truyền dẫn chiều chiều xuống và một khoảng thời gian bảo vệ khác Độ dài các khoảng thời gian truyền dẫn theo chiều chiều xuống và chiều lên là những số nguyên lần chu kì ký hiệu DMT Một siêu khung được ký hiệu là A-Q-B-Q, với A và B là số các ký hiệu tương ứng bố trí cho chiều chiều xuống và chiều lên và hai ký hiệu Q biểu diễn

Trang 8

khoảng thời gian boả vệ để đảm bảo cho độ trễ lan truyền của kênh và cho phép đáp ứng dội suy giảm giữa thời gian phát và thu

Hình 2.28 Dải thông dùng cho cả hai chiều truyền dẫn chiều xuống và chiều lên

trong các hệ thống song công phân chia thời gian

Trong các hệ thống VDSL song công phân chia thời gian của hãng Texas Instrument, thời gian của một siêu khung là 20 ký hiệu (500µ s) Tổng số của A và

B là 18 ký hiệu và còn lại 2 ký hiệu Q Các giá trị của A và B được nhà điều hành khai thác chọn theo tỷ số tốc độ dữ liệu chiều xuống so với chiều lên cần thiết Chẳng hạn, nếu đặc tính nhiễu theo hai chiều truyền dẫn chiều xuống và chiều lên

là như nhau và cài A bằng B sẽ cho kết quả cấu hình hỗ trợ truyền dẫn đối xứng Cài A = 16 và B = 2 sẽ tạo ra tỷ tốc độ dữ liệu giữa hai chiều chiều xuống và chiều lên là 8:1 Khi cài A = 12 và B = 6 thì hỗ trợ tỷ số tốc độ giữa hai chiều chiều

Q

Q

Q

Trang 9

xuống và chiều lên là 2:1 Hình 2.29 minh hoạ các siêu khung hỗ trợ truyền dẫn tỷ

số tốc độ dữ liệu giữa chiều chiều xuống và chiều lên là 8:1, 2:1 và 1:1

Hình 2.29 Siêu khung của phương pháp TDD cho phép hỗ trợ các tỷ số tốc độ dữ

liệu chiều xuống so với chiều lên khác nhau

Việc sử dụng siêu khung cho phép các hệ thống song công phân thời bù đắp với các khác biệt trong mức nhiễu giữa hai chiều chiều xuống và chiều lên Chẳng hạn, nếu nhiễu trong chiều chiều lên nghiêm trọng hơn so với chiều chiều xuống thì hệ thống song công phân chia thời gian có thể bố trí thêm nhiều ký hiệu cho chiều chiều lên để bù lại Trong trường hợp truyền dẫn đối xứng thì thay vì cần siêu khung 9-Q-9-Q thì hệ thống có thể sử dung siêu khung 8-Q-10-Q và kết quả sẽ tăng thêm cự ly thông tin với cùng một tốc độ yêu cầu Sử dụng song công phân chia theo thời gian yêu cầu các modem đang tích cực trong một chảo cáp phải được đồng bộ với một clock của siêu khung chung sao cho mọi truyền dẫn theo chiều chiều xuống xảy ra đồng bộ và mọi truyền dẫn theo chiều chiều lên cũng xảy ra chính xác cùng lúc trên mọi đường dây Nếu không sử dụng một cấu trúc siêu khung chung thì các đường dây hỗ trợ song công phân thời trong cùng một chảo cáp có thể gây ra xuyên kênh đầu gần với nhau làm giảm tốc độ dữ liệu mà chúng

có thể hỗ trợ được Để đảm bảo hoạt động đồng bộ, mọi modem song công phân chia theo thời gian ở tổng đài nội hạt hay ONU phải đồng bộ với clock siêu khung chung Có nhiều phương pháp cung cấp clock như vậy Chẳng hạn, có thể tách ra

từ clock 8 kHz từ mạng, lấy từ một trong các modem song công phân chia theo thời gian

Trang 10

Hình 2.30 NEXT khi trộn lẫn các hệ thống FDD đối xứng và bất đối xứng

VDSL khác với các hệ thống DSL khác do nó có thể hỗ trợ được thông tin đối xứng lẫn bất đối xứng với tốc độ dữ liệu của hai chiều chiều xuống và chiều lên khác nhau Biết rằng sự bố giải tần song công phân tần cho các dịch vụ đối xứng

và bất đối xứng là khác nhau, khi thực hiện các cấu trúc siêu khung song công phân thời thích hợp thì vấn đề là dịch vụ đối xứng và đối xứng có thể ở cạnh nhau

tron

g cùng một chảo

Q

Q

Trang 11

cáp được không? Thật không may là khi bố trí giải tần hoặc khoảng thời gian thích hợp lại cho kết quả không tương hợp phổ bất kể hệ thống là song công phân thời hay song công phân tần

Hình 2.31 NEXT xảy ra khi trộn lẫn các siêu khung TDD đối xứng và bất đối xứng

Trang 12

Hình 2.30 minh hoạ bố trí phổ tần trong một hệ thống song công phân tần Sự

bố trí ở trên hỗ trợ truyền dẫn đối xứng và dưới hỗ trợ truyền dẫn bất đối xứng tỷ

số 8:1 Phân tô xám là dải tần xảy ra xuyên kênh đầu gần Vì thế, việc trộn lẫn các

hệ thống VDSL song công phân tần đối xứng và bất đối xứng trong cùng một chảo cáp gây ra xuyên kênh đầu gần trong một phần dải tần truyền dẫn, nhưng trong mọi khoảng thời gian Như vậy, không có một sự bố trí nào cho song công phân tần có

hỗ trợ cho cả các dịch vụ đối xứng và bất đối mà không làm suy giảm một trong hai hay cả hai dịch vụ Các hệ thống song công phân chia theo thời gian cũng tạo

ra sự suy giảm tương tự khi hỗ các cấu trúc siêu khung đối xứng và bất đối xứng trong cùng một chảo cáp Hình 2.31 là trường hợp xấu nhất khi một đường dây hỗ trợ truyền dẫn 8:1 có cấu trúc siêu khung 16-Q-2-Q ở gần một đường dây hỗ trợ truyền dẫn đối xứng có cấu trúc siêu khung 9-Q-9-Q Lưu ý rằng siêu khung 9-Q-9-Q được dịch đi theo thời gian một chu kì ký hiệu để tối thiểu hoá khoảng chồng lấn giữa các ký hiệu chiều xuống trên đường truyền dẫn 8:1 và ký hiệu chiều lên trên đường dây truyền dẫn đối xứng Tuy nhiên, vẫn còn 5 ký hiệu bị tác động bởi xuyên nhiễu đầu gần

Trong khi xuyên kênh đầu gần trong trường hợp song công phân tần chỉ xảy

ra trong một phần của phổ tần trong mọi thời gian thì xuyên kênh đầu gần của song công phân chia theo thời gian trải rộng ra trên mọi toàn bộ giải tần nhưng chỉ trong một phần thời gian Mức độ nghiêm trọng của xuyên kênh đầu gần trong cả hai trường hợp phụ thuộc vào sự khác nhau giữa các tỷ số của đường truyền đem trộn lẫn Vấn đề chính tạo ra sự không tương hợp giữa các đường dây đối xứng và bất đối xứng không phải là sự yếu kém hiệu quả của hệ thống song công phân tần hay song công phân chia theo thời gian mà vấn đề là đặc tính đối và đối nhiều tốc độ của VDSL

Trang 13

Cấu trúc siêu khung sử dụng trong song công phân chia theo thời gian cho phép hỗ trợ cả đối xứng với một tầm các tỷ số độ dữ liệu giữa hai chiều chiều xuống và chiều lên khác nhau trong cùng một máy thu phát Tỷ số tốc độ dữ liệu cần thiết xác định trong hầu hết trường hợp cài đặt bằng phần mềm các giá trị thích hợp của A và B Hơn nữa, nếu đặc tính nhiễu của hai chiều chiều xuống và chiều lên khác nhau nhiều thì cấu trúc siêu khung có thể được sửa đổi để bù đắp vào sự khác biệt

Hầu hết các modem song công phân tần đều hỗ trợ các tỷ số tốc độ dữ liệu chiều xuống so với chiều lên khác nhau không bằng song công phân thời Để hỗ trợ nhiều tỷ số như vậy, các modem song công phân tần phải có khả năng thay đổi giải thông của các kênh chiều xuống và chiều lên vốn thường phải cần đến các bộ lọc tương tự phân chia giải thông nhanh chóng Sự phức tạp và tiêu tốn năng lượng của các máy thu phát phụ thuộc vào độ phức tạp của các bộ lọc phân chia giải thông và tỷ lệ với cách chọn lựa giải thông mà modem cung cấp Như đã nói ở các phần trên, ANSI và ETSI yêu cầu cần phải hỗ trợ các tỷ số 1:1, 3:1, 4:1, 6:1 và 8:1

Độ phức tạp của khả năng hỗ trợ tất cả các tỷ số này trên tất cả các độ dài đường dây có thể có sẽ làm cho không thể thực hiện được Để giảm bớt sự phức tạp nhiều nhà cung những phần cứng khác nhau cho từng tỷ số tốc độ dữ liệu chiều xuống và chiều lên khác nhau Tuy nhiên, việc sử dụng các phần cứng khác nhau sẽ sự linh động khi thay đổi dịch vụ Để minh hoạ tại sao cần phải có các phần cứng có khả năng hỗ trợ các tỷ số tốc độ dữ liệu chiều xuống so với chiều lên khác nhau, hãy xét việc sử dụng VDSL trong các vùng đông dân cư và các thành phố lớn Trong các cùng này, các đường dây của các thuê bao dân dụng và các thuê bao doanh nghiệp có thể ở chung với nhau trong một chảo cáp Nhiều nhà khai thác và điều hành đồng ý rằng các khách hàng doanh nghiệp thường yêu cầu dịch vụ đối xứng trong khi các khách hàng dân dụng lại yêu cầu dịch vụ bất đối xứng cho việc truy

Trang 14

cập Internet, video on demand…Như đã phân tích ở trên, việc trộn lẫn các dịch vụ đối xứng và bất đối xứng gây ra sự không tương hợp phổ cho việc bố trí tần số của song công phân tần và thời gian của song công phân thời Vì vậy, hỗ trợ cùng một lúc các dịch vụ đối xứng và bất đối xứng với nhiều tốc độ dữ liệu khác nhau là không thực tế trừ khi có một sự thoả thuận về bố trí các khoảng thời gian/ tần số Tuy nhiên, hầu hết các khách hàng doanh nghiệp yêu cầu dịch vụ trong những ngày làm việc trong khi các khách hàng dân dụng yêu cầu các dịch vụ vào buổi chiều hoặc các ngày nghỉ Các modem VDSL có khả năng cung cấp nhiều tỷ số tốc

độ dữ liệu chiều xuống so với chiều lên khác nhau cho phép các nhà khai thác và điều hành dịch vụ cung cấp dịch vụ đối xứng vào ban ngày và dịch vụ bất đối xứng vào ban đêm Băng cách này, các nhà điều hành và khai thác dịch vụ có thể cung cấp tốc độ dịch vụ cần thiết cho cả khách hàng doanh nghiệp cũng như các khách hàng dân dụng có đường day nằm trong cung một chão cáp

Như đã mô tả ở trên, độ phức tạp của một modem song công phân tần phụ thuộc vào số kiểu bố trí dải tần mà nó hỗ trợ Modem hỗ trợ mọi tỷ số tốc độ dữ liệu chiều xuống so với chiều lên khác nhau của VDSL trên mọi đường dây sẽ rất phức tạp và giá thành sẽ rất cao, đặc biệt là khi sử dụng nhiều bộ lọc tương tự tách dải thông Trái lại, các hệ thống song công phân thời có thể cung cấp modem đơn giản hơn cả ở phần xử lí số tín hiệu cũng như phần tương tự Với các modem song công phân thời dựa trên kĩ thuật DMT thì sự phức tạp giảm nhiều nhờ vào việc dùng chung phần cứng cho cả máy thu và máy phát Việc sử chung phần cứng có thể thực hiện được là do các chức năng thu phát của một modem DMT đều có nhiều tương đồng: cả hai đều tính toán các phép biến đổi Fourier rời rạc (DFT) thường được thực hiện bằng giải thuật FFT Vì cơ chế song công phân thời được

sử dụng nên modem có thể thu và phát trên những khoảng thời gian khác nhau Kết quả là chỉ cần một phần cứng tính DFT cho mỗi modem FFT này sử dụng trên tất

Ngày đăng: 05/08/2014, 23:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ dùng để mã hoá được mô tả trên hình 2.25. - KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VDSL CHƯƠNG 2_3 ppsx
Sơ đồ d ùng để mã hoá được mô tả trên hình 2.25 (Trang 3)
Hình 2.25 Mối quan hệ giữa các trạng thái QAM và SNR, BER - KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VDSL CHƯƠNG 2_3 ppsx
Hình 2.25 Mối quan hệ giữa các trạng thái QAM và SNR, BER (Trang 4)
Hình 2.26 Sơ đồ thu phát theo FDD - KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VDSL CHƯƠNG 2_3 ppsx
Hình 2.26 Sơ đồ thu phát theo FDD (Trang 5)
Hình 2.27 Vị trí điển hình của các kênh chiều lên và chiều xuống trong FDD - KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VDSL CHƯƠNG 2_3 ppsx
Hình 2.27 Vị trí điển hình của các kênh chiều lên và chiều xuống trong FDD (Trang 6)
Hình 2.28 Dải thông dùng cho cả hai chiều truyền dẫn chiều xuống và chiều lên - KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VDSL CHƯƠNG 2_3 ppsx
Hình 2.28 Dải thông dùng cho cả hai chiều truyền dẫn chiều xuống và chiều lên (Trang 8)
Hình 2.30 NEXT khi trộn lẫn các hệ thống FDD đối xứng và bất đối xứng - KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VDSL CHƯƠNG 2_3 ppsx
Hình 2.30 NEXT khi trộn lẫn các hệ thống FDD đối xứng và bất đối xứng (Trang 10)
Hình 2.32 Tầm cực đại trung bình của các hệ thống song công VDSL phân thời đối - KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VDSL CHƯƠNG 2_3 ppsx
Hình 2.32 Tầm cực đại trung bình của các hệ thống song công VDSL phân thời đối (Trang 17)
Hình 2.34 Cấu trúc mạng VDSL - KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VDSL CHƯƠNG 2_3 ppsx
Hình 2.34 Cấu trúc mạng VDSL (Trang 21)
Hình 2.35 Kiến trúc FTTEx - KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VDSL CHƯƠNG 2_3 ppsx
Hình 2.35 Kiến trúc FTTEx (Trang 22)
Hình 2.36 Kiến trúc FTTC - KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VDSL CHƯƠNG 2_3 ppsx
Hình 2.36 Kiến trúc FTTC (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w