Sau khi thẩm định về khách hàng vay vốn và các vấn đề liên quan đến phương án dự án vay vốn, cán bộ tín dụng lập tờ trình thẩm định và đề nghị giải quyết cho vay và là người chịu trách n
Trang 1
cứng nhắc Ngoài doanh nghiệp ngoài quốc doanh khi xin vay tại NHCTII-HBT yêu cầu bắt buộc là phải có tài sản thế chấp, vậy mà nhiều trường hợp vẫn từ chối cho vay Thành phần kinh tế tư nhân chỉ được vay theo hình thức cầm cố chứng từ có giá của 4 NHTM quốc doanh và trái phiếu kho bạc, còn các loại chứng từ có giá của các ngân hàng khác hoặc các loại tài sản khác không được chấp nhận Điều này
là một trở ngại đối với nhiều khách hàng khi muốn vay tại NHCT II-HBT, làm hạn chế việc mở rộng tín dụng ngắn hạn đối với những đối tượng khách hàng này Chất lượng tín dụng chưa cao, còn nhiều khoản vay phải gia hạn:
Mặc dù hiện nay tỷ lệ nợ quá hạn của các khoản vay ngắn hạn ở mức trung bình nhưng hầu hết các khỏan vay ngắn hạn đều phải gia hạn nợ, thậm chí có những khoản vay phải gia hạn nhiều lần Điều này gây ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của NHCTII-HBT và lảm giảm vòng quay của vốn
Tình trạng thiếu thông tin
Trước nhu cầu ngày một cao nhằm giảm rủi ro tới mức thấp nhất Ngân Hàng Nhà Nước đ• thành lập trung tâm rủi ro tín dụng để cung cấp hồ sơ khách hàng Do đó các doanh nghiệp nói chung đều có quan hệ với một tổ chức tín dụng nào đó, nên khi vay họ bắt buộc phải cung câp hồ sơ của mình như báo cáo tài chính, kết quả kinh doanh, khả năng thanh toán, tình hình vay nợ theo yêu cầu của ngân hàng cho vay, sau đó ngân hàng cho vay phải cung cấp những thông tin cho trung tâm rủi
ro tín dụng của NHNN Khi NHTM có khách hàng mới thì thông qua trung tâm rủi
ro tín dụng sẽ biết được khách hàng rõ hơn Nếu doanh doanh nghiệp làm ăn thua
lỗ, có tình hình tài chính tồi tệ không tiếp tục ở ngân hàng đã sàng ngân hàng khác thì qua trung tâm này ngân hàng sẽ có hồ sơ của họ, như vậy sẽ tránh được rủi ro
Trang 2
cho ngân hàng mới Đây là sự chuyển biến tích cực, phần nào đáp ứng nhu cầu hiện nay trong nền kinh tế thị trường, giúp cho việc nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế rủi ro Tuy vậy, những thông tin đó chưa thể đủ trong quá trình xét duyệt món vay Thông tin mà trung tâm tín dụng đưa ra các số liệu mang tính chất tĩnh, chưa
có sự phân tích đánh giá mang tính chất động về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong khi đó,NHCTII-HBT lại chưa có bộ phận chuyên nghiên cứu vấn đề này Các cán bộ trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ liên quan đến thu thập xử lý thông tin thì chưa được huấn luyện nghiệp vụ đó để có thể tra cứu từ các nguồn khác, mới chỉ thực hiện việc truyền nhận thông tin trong hệ thống theo chương trình
đã cài sẳn, chưa đủ khả năng nắm bắt, khai thác, sử dụng các thông tin có ích trên thị trường Do thiếu thông tin cần thiết nên việc xét duyệt cho vay nhiều khi chưa chính xác như: không biết rỏ tình hình thực tế của doanh nghiệp, sản xuất kinh doanh thua lỗ nhưng vẫn cho vay, hoặc vay để trả nợ ngân hàng theo hình thức đảo
nợ Và do thiếu thông tin thương mại về tình hình giá cả, cung cầu biến động của thị trường nên không lường trước các rủi ro Như vậy trong điều kiện không nắm bắt được đầy đủ, chính xác các thông tin về khách hàng cũng như không nắm bắt đầy
đủ các thông tin có liên quan thì rủi ro xảy ra là điều kho tránh khỏi
Quy trình nghiệp vụ tín dụng phụ thuộc quá nhiều vào đánh giá chủ quan của cán bộ tín dụng
Thực tế hiện nay để thực hiện một món vay thì cán bộ tín dụng là người thực hiện tất cả các công đoạn từ A đến Z Cán bộ tín dụng phải thu thập thông tin về khách hàng vay vốn, phân tích đánh giá khách hàng, kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp các tài liệu các tài liệu khách hàng cung cấp, phân tích tính khả thi, khả năng trả nợ của
Trang 3
phương án, kiểm tra, phân tích về biên pháp bảo đảm tiền vay,về tính pháp lý, giá trị và khả năng xử lý tài sản bảo đảm này khi cần thiết Sau khi thẩm định về khách hàng vay vốn và các vấn đề liên quan đến phương án dự án vay vốn, cán bộ tín dụng lập tờ trình thẩm định và đề nghị giải quyết cho vay và là người chịu trách nhiệm về kết quả phân tích trong tờ trình, có ý kiến đề xuất về việc cho vay hay không, sau đó chuyển toàn bộ hồ sơ kèm theo tờ trình cho lãnh đạo phòng nghiệp
vụ tín dụng Khi nhận được hồ sơ, cán bộ tín dụng thẩm định lại hồ sơ và đưa ra quyết định, nếu cho vay thì trình giám đốc và giám đốc là người cuối cùng xét duyệt cho vay Trường hợp được vay, cán bộ tín dụng sẽ thông báo cho khách hàng để soạn thảo hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay, theo dõi phát tiền vay, theo dõi kiểm tra việc sử dụng vốn vay, xử lý nợ khi cần thiết Với quy trình thẩm định như trên thì trách nhiệm của cán bộ tín dụng là quá lớn và họ sẽ không thực hiện cho vay mà không tránh được mọi khiếm khuyết Bởi vì một dự án, một hợp đồng vay vốn liên quan đến rất nhiều lĩnh vực nên cán bộ tín dụng không phải lúc nào cũng am hiểu hết
Chất lượng công tác thẩm định chưa cao, trình độ cán bộ còn nhiều thiếu sót, chưa đáp ứng được những nhu cầu hiện tại:
Tại ngân hàng cán bộ tín dụng chưa phân công một cách chuyên sâu, một cán bộ được phân công quản lý một số khách hàng Đây là những khách hàng thuộc nhiều loại hình cũng như nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau Do đó, sự phân chia như vậy chưa hợp lý vì không phát huy được hiệu quả của công tác thẩm định Nếu mỗi cán bộ tín dụng quản lý một loại hình kinh doanh sẽ giúp họ có thời gian tìm hiểu
về loại hình này cũng như có điều kiện thuận lợi để so sánh tình hình hoạt động của
Trang 4
các đơn vị cùng nghành nghề sản xuất kinh doanh Hơn nữa công tác thẩm định chưa theo một quy trình cụ thể Ngân hàng chưa có một văn bản pháp lý cụ thể về các quy trình này dẫn đến việc cán bộ tín dụng phải thực hiện theo kinh nghiệm của mình điều này đôi khi dẫn đến nhiều bước trong quá trình thẩm định bị bỏ qua làm ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định tín dụng tại ngân hàng
Trong quá trình phân tích các thông tin tài chính, công tác thẩm định mới chỉ dừng lại đơn thuần ở việc đánh giá, so sánh các chỉ tiêu, hệ số kỳ này với kỳ trước Chứ chưa có được hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành, hay rất khó có được tình hình hoạt động của một đơn vị khác cùng loại hình để tiến hành so sánh.Nguyên của thực trạng này là chúng ta chưa có một cơ quan hay văn bản pháp luật nào quy định về vấn đề này Trong nhiều trường hợp do hạn chế về thời gian nền nhiều chỉ tiêu cần thiết không được tính toán
Mặc dù ngân hàng Công Thương đã đưa ra một số các định mức để cán bộ tín dụng tiến hành đánh giá trong quá trình phân tích các hệ số tài chính song các định mức này được thực hiện với mọi nghành nghề kinh doanh gây nên sự bất cập trong quá trình đánh giá
Trong quá trình thẩm định cán bộ tín dụng phải cáng đáng luôn cả việc đánh giá giá trị tài sản thế chấp Điều này sẽ làm tăng rủi ro cho ngân hàng trong trường hợp phát mại tài sản vì cán bộ tín dụng chưa có những hiểu biết chuyên môn để có thể đánh giá chính xác giá trị của tài sản dẫn đến ngân hàng có thể cho vay quá tỷ lệ an toàn hơn nữa do bối cảnh môi trường cạnh tranh gay gắt, ngân hàng chỉ có thể tiến hành thẩm định trong một thời gian ngắn sau khi cán bộ tín dụng thẩm định còn
Trang 5
phải qua sự thẩm định của trưởng phòng kinh doanh và giám đốc, vì vậy cán bộ thẩm định phải đưa ra kết luận trong một thời gian từ 2 đến 3 ngày, quá ít ỏi và đòi hỏi một trình độ chuyên môn cao đây là một hạn chế bất cập của ngân hàng
Việc chấp hành quy trình tín dụng chưa nghiêm, kiểm soát không thường xuyên Việc áp dụng các văn bản về cơ chế, chính sách chưa sát thực tế, chưa đúng với chỉ đạo của cơ quan ban hành văn bản Khi thực thực hiện các văn bản còn khó khăn vướng mắc, chưa được xử lý kịp thời hiệu quả Vẫn còn tình trạng cán bộ tín dụng xét duyệt vốn cho đã bỏ qua các nguyên tắc tín dụng, thực hiện không đúng quy trình nghiệp vụ cho vay Có cán bộ tín dụng muốn cho vay được nhiều nên đ• không kiểm tra kỹ lưỡng trước, trong và giám sát tốt khi cho vay nên để khách hàng
sử dụng vốn sai mục đích Khi phát hiện ra khách hàng có khó khăn trong việc hoàn trả nợ thì cán bộ tín dụng đã không có ngay các biện pháp phù hợp để kịp thời xử lý
và trong nhiều trường hợp đã gia hạn sai chế độ Bên cạnh đó việc kiểm tra kiểm soát lại không thường xuyên, nhiều khi chỉ mang tính hình thức nên không phát hiện kịp thời các sai phạm hoặc có phát hiện nhưng lại không có biện pháp xử lý hữu hiệu
Chiến lược khách hàng còn hạn chế, chưa sử dụng tốt chiến lược Marketing trong ngân hàng
Các cán bộ tín dụng còn chưa có tính chủ động, sáng tạo cùng khách hàng tìm kiếm phương án kinh doanh có hiệu quả mà còn thụ động trong quá trình phục vụ khách hàng Khi các điều kiện vay chưa đáp ứng đủ, các cán bộ tín dụng chưa chủ động cùng khách hàng tìm kiếm cách tháo gỡ mà còn trông chờ kế hoạch khách hàng tự
Trang 6an toàn, bởi vì các khoản vay có được hoàn trả hay không phụ thuộc vào khả năng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, khi doanh nghiệp gặp rủi ro sẽ tác động trực tiếp tới hoạt động của ngân hàng, nếu tình hình xấu hơn, doanh nghiệp bị phá sản, ngân hàng có nguy cơ mất vốn
Năng lực quản lý còn hạn chế:
Trong nền kinh tế thị trường có rất nhiều cơ hội kinh doanh cũng như có rất nhiều rủi ro luôn luôn rình rập, môi trường kinh doanh luôn đầy tính cạnh tranh điều này đỏi hỏi năng lực quản lý của các doanh nghiệp phải cao, nhưng đây cũng là một hạn chế của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung khi tham gia vào nền kinh tế thị
Trang 7
trường, dẫn đến các doanh nghiệp hoạt động không hiêu quả thậm chí còn thua lỗ Điều này làm ảnh hưởng đến quyết định cho vay của ngân hàng Khả năng sử dụng vốn kém hiệu quả sẽ ảnh tới chất lượng khoản vay
Số liệu tài chính của doanh nghiệp không trung thực:
Một thực tế đang tồn tại lâu nay là tình trạng các doanh nghiệp vay vốn luôn đối phó với các ngân hàng thông qua việc cung cấp số liêu không trung thực, mặc dù các số liệu này đã được các cơ quan có chức năng kiểm duyệt Chế độ kế toán đã ban hành nhưng phần lớn các doanh nghiệp thực hiện không nghiêm túc Điều này gây khó khăn cho ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như việc quản lý vốn vay của đơn vị để qua đó có thể đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn có tác dụng hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, nhằm thu hồi vốn cho ngân hàng
4.2.3 Các nhân tố khách quan khác
Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường ngân hàng:
Hiện nay nước ta có nhiều ngân hàng cùng hoạt động: NHTM quốc doanh, NHTM
cỗ phần, ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh Tại khu Hai Bà Trưng NHCTII-HBT có các đối thủ cạnh tranh như:
1 Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội
2 Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn HBT
3 Ngân hàng cỗ phần kỹ thương
4 Chi nhánh cỗ phần Sài gòn – Thương tín
5 Ngân hàng cỗ phần Sài gòn – Công thương
6 Ngân hàng cỗ phần á châu
Trang 8
7 Phòng giao dịch ngân hàng Ngoại thương
8 Quỹ tín dụng TW
9 Phòng giao dịch ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Ngoài ra còn nhiều đối thủ khác nữa trong hệ thống và ngoài hệ thống
Mặc dù tín dụng ngắn hạn của NHCTII –HBT lớn mạnh hơn các ngân hàng cùng hệ thống nhưng không vì thế mà ngân hàng lơ là trong hoạt động kinh doanh của mình Đặc biệt hiện nay các ngân hàng nước ngoài có ưu thế lớn hơn hẳn ngân hàng ở trình độ quản lý cũng như quy mô về vốn, uy tín trên thị trường thế giới, và sức mạnh cạnh tranh rất cạo những điều này làm ảnh hưởng đến khả năng hoạt động của ngân hàng
Môi trường pháp lý không thuận lợi:
Hệ thống văn bản ban hành liên quan đến hoạt động ngân hang chưa đồng bộ và chưa phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế Hệ thống pháp luật ở nước ta tuy đã
có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn chưa thực sự khoa học, vừa thiếu lại không đồng bộ, thẩm chí còn nhiều điểm chồng chéo, mâu thuẫn với nhau giữa các văn bản luật và dưới luật, việc ban hành về cấp độ thì chưa phù hợp, gây khó khăn trong việc tổ chức và thực hiện, cụ thể là :
- Thể lệ tín dụng ngắn hạn là văn bản cốt lõi do Thống đốc NHNN ban hành dưới dạng quyết định trong khi đó, thể lệ cho vay đối với hộ sản xuất chỉ là một bộ phận của tín dụng trung và dài hạn thì lại được ban hành dưới hình thức văn bản cao hơn
là Nghị định của chính phủ và NHNN ban hành thông tư hướng dẫn
- Nghị định 49/CP của chính phủ ban hành ngày 6/11/97 quy định các doanh nghiệp nhà nước khi vay vốn của NHTM quốc doanh không cần thiết phải thế chấp, không
Trang 9
giới hạn tỷ lệ vốn điều lệ mà căn cứ vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh ngiệp Trong khi hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các dự án lại do cấp chủ quản phán duyệt Đây chính là một quy định mâu thuẫn ghê gớm với tiến trình cải cách thủ tục hành chính hiện nay Bởi chuyển sang nền kinh tế thị trường
ta đang xoá bỏ cấp trung gian, cấp chủ quản vừa cồng kềnh vừa can thiệp quá sâu vào hoạt động tự chủ của các doanh nghiệp
Việc thực hiện pháp luật của các chủ thể kinh doanh chưa nghiêm, cơ chế đảm bảo thực thi pháp luật kém hiệu lực:
- Thực trạng phổ biến hiện nay là các doanh nghiệp vi phạm pháp luật ở những mức
độ khác nhau Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế không được coi trọng, việc ký và thực hiện hợp đồng không nghiêm túc, có trường hợp ký hợp đồng giả để lấy tiền vay ngân hàng Thực tế đòi hỏi cơ chế vận hành pháp luật phải đồng bộ, thống nhất từ lập pháp, hành pháp và tư pháp Thế nhưng trong thời gian qua cho dù nhà nước đã rất chú trọng ban hành các bộ luật nhưng việc thực hiện và giám sát lại chưa đi vào cuộc sống vì chưa có một bộ máy đủ năng lực về trình độ chuyên môn thậm chí còn
có biểu hiện thoái hoá, biến chất về đạo đức trong thực thi pháp luật như ăn đút lót, hối lộ để giảm tội cho kẻ vi phạm
- Các cơ quan hữu quan chưa có cái nhìn thấu đáo về ngân hàng và hoạt động kinh doanh tiền tệ nên chưa có sự phối hợp đồng bộ, tích cực với ngân hàng trong việc giải quyết những vấn đề liên quan Cho đến nay, không ít người cho rằng việc cho vay và thu hồi nợ chỉ đơn thuần là việc của ngân hàng, trong khi trên thực tế có nhiều khoản vay ngân hàng đã thực hiện theo đúng mọi quy định của Nhà nước mà vẫn không thu hồi được nợ, bởi lúc đó nó đã vượt ra khỏi chức năng và khả năng
Trang 10
của ngân hàng Mặc dù đã có nhiều thông tư liên tịch giữa NHNN và các bộ nghành liên quan hướng dẫn việc thực hiên vấn đề có liên quan đến hoạt động của ngân hàng, nhưng thực tế đòi hỏi sự phối hợp hơn nữa giữa các cơ quan này
Tóm lại, hoạt động của các ngân hàng thương mại nói chung và NHCTII-HBT nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên cùng với sự phát triển của nền kinh tế nước nhà, chắc chắn chất lượng tín dụng của ngân hàng đặc biệt là chất lượng tín dụng ngắn hạn của NHCTII-HBT sẽ được cũng cố và nâng cao, tạo được thế cạnh tranh trong toàn hệ thồng ngân hàng, thúc đẩy hoạt động kinh doanh của chi nhánh phát triển ổn định và vững mạnh
Chương III: GiảI pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại NHCT HBT
II-1 Định hướng hoạt động tín dụng của NHCTII-HBT trong năm 2003
Nằm trong bối cảnh đất nước đang trên đà đổi mới, chính phủ tập trung vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Do
đó nhiệm vụ của nghành ngân hàng nói chung cũng như chi nhánh NHCTII-HBT nói riêng cần tiếp tục tăng cường huy động vốn, đáp ứng nhu cầu về vốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế
Để thực hiện tốt nhiêm vụ kinh doanh, chi nhánh đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu năm 2003 như sau:
* Mục tiêu: Tập trung chỉ đạo công tác kinh doanh, bám sát các định hướng, nhiêm
vụ của NHCTVN, đưa hoạt động của chi nhánh đi đúng hướng đạt vượt mức mục tiêu đề ra:
Trang 11- Về tín dụng: Phấn đấu tăng trưởng dư nợ lành mạnh, an toàn và hiệu quả đối với mọi thành phần kinh tế Đặc biệt phải quan tâm đến chất lượng tín dụng, nâng cao năng lực thẩm định cho vay Tiếp tục chọn lọc khách hàng, kiên quyết rút dần dư nợ đối với những khoản vay không có dấu hiêu an toàn
Phấn đấu thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay đối với các doanh nghiệp
- Về công tác xử lý nợ tồn đọng: Tiếp tục triển khai tích cực các biện pháp để xử lý
nợ tồn đọng của chi nhánh
-Quan tâm đến chất lượng các loại hình dịch vụ Ngân hàng để nâng cao sức cạnh tranh, mặt khác nhằm tăng tỷ trọng thu dịch vụ phí ngân hàng trong tổng thu nhập
2 GiảI pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại NHCTII-HBT
2.1 Nâng cao chất lượng thẩm định dự án
Một hạn chế rất lớn của các NHTM Việt Nam cũng như chi nhánh NHCTII-HBT là năng lực thẩm định dự án Thẩm định là đánh giá hiệu quả một dự án, một khoản tín dụng trên lý thuyết, đó là công việc mang tính định lượng cũng như tính định tính
Đó là việc tính toán tổng quan về một dự án, từ đó xác định được số tiền thu được
Trang 12
từ dự án, số tiền phải bỏ ra và rất nhiều chỉ tiêu liên quan đến xã hội, sinh thái Rõ ràng chất lượng thẩm định được nâng lên thì sẽ nâng cao được chất lượng của tín dụng ngân hàng Nâng cao năng lực thẩm định dự án còn giúp cho các ngân hàng có thể chủ động trong việc tham gia tư vấn, thẩm định và từ chối ngay từ đầu những dự
án khả thi, tiết kiêm chi phí cho nền kinh tế Để nâng cao chất lượng thẩm định dự
án thì chi nhánh NHCTII-HBT cần phải thực hiện các giải pháp sau:
2.1.1 Nâng cao chất lượng thu thập thông tin
Để công tác thẩm định được tốt, đòi hỏi phải có đầy đủ các thông tin cần thiết cho quá trình thẩm định như những thông tin về người vay, về doanh nghiệp, về dự án xin vay Ngoài ra còn có những thông tin khác liên quan như thông tin về thị trường, về môi trường kinh tế, chính trị xã hội, thông tin về lĩnh vực hoạt động của người vay Các thông tin này có đầy đủ chính xác mới có thể đưa ra được quyết định đúng đắn Nguồn thông tin chủ yếu là từ doanh nghiệp xin vay cung cấp mà nguồn này không phải lúc nào cũng trung thực, do vậy để thẩm định tốt, cán bộ tín dụng cần thu thập thông tin từ những nguồn khác đó là:
* Phỏng vấn trực tiếp người vay và điều tra trực tiếp cơ sở sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong khi phỏng vấn cần làm rỏ những thông tin như: mục đích của việc vay vốn, tình hình tài chính của người vay và khả năng trả nợ, lịch sử và xu hướng phát triển, đội ngủ cán bộ, trình độ quản lý, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Điều cần chú ý là khi phỏng vấn trực tiếp thì cán bộ tín dụng không những giỏi về chuyên môn mà còn phải am hiểu về nhiều lĩnh vực khác có liên quan, đặc biệt phải hiểu rõ tâm lý của người được phỏng vấn Trong khi điều tra trực tiếp tại
cơ sỏ sản xuất, cần nắm bắt được tình hình sản xuất kinh doanh chung của doanh
Trang 13
nghiệp, năng lực cán bộ lãnh đạo, quan hệ với các đối tác ra sao, trách nhiệm của công nhân với công việc Qua đó có thể đánh giá được triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai
* Thu thập thông tin từ bên ngoài: Ngoài nguồn thông tin chính thức do khách hàng cung cấp thông qua các báo cáo tài chính trong hồ sơ xin vay và những thông tin thu được qua phỏng vấn và khảo sát thực tế khách hàng, cán bộ tín dụng cần có những thông tin khác bổ sung thêm Ngân hàng có thể thu thập thông tin từ các đối tác làm
ăn của doanh nghiệp đó, từ các ngân hàng bạn mà ngân hàng đ• từng quan hệ, từ các trung tâm thông tin chuyên nghiệp hoặc cũng có thể từ các mối quan hệ cũ của cán
bộ tín dụng
Việc có được những thông tin bảo đảm chính xác cho công tác thẩm định Ngày nay khi khoa học phát triển mạnh, kinh tế thị trường đã đòi hỏi thông tin nhanh nhạy và chính xác, chi nhánh cần xây dựng cho mình những nguồn cung cấp thông tin thường xuyên, chính xác và với chi phí thấp nhất
* Lập quỹ thẩm định và trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác này:
Việc thu thập thông tin phải bỏ ra những chi phí nhất định như: Chi phí gặp gỡ, phỏng vấn khách hàng, chi phĩ cho cán bộ tín dụng đi xuống tận cơ sở để trực tiếp điều tra, chi phí để mua thông tin từ các trung tâm cung cấp thông tin Ngoài ra chi nhánh cần phải đưa các chỉ tiêu tài chính vào phần mềm máy tính Đưa toàn bộ thông tin tổng hợp về khách hàng vào máy tính để khi cần cán bộ tín dụng có thể truy cập dễ dàng
Tuy nhiên, vấn đề thu thập thông tin là một vấn đề hết sức khó khãn do phạm vi thu thập thông tin rộng, các kênh cung cấp thông tin không đầy đủ và khó tiếp cận trong
Trang 14
khi cán bộ thẩm định bị giới hạn về thời gian Do vậy người thẩm định phải thường xuyên chú ý vấn đề thu thập và lưu trữ thông tin một cách khoa học những nghành nghề do mình phụ trách Chi nhánh thành lập, bộ phận chuyên trách công tác thu thập thông tin
Trong công tác thu thập thông tin cần chú ý tới những thông tin cần thiết để phục vụ cho công tác thẩm định ở phương diện thị trường sản phẩm của dự án, bao gồm các thông tin sau:
- Thông tin về số lượng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cùng loại sản phẩm trong cùng một khu vực thị trường, kể cả các doanh nghiệp sắp được thành lập
- Thông tin về mức cầu đối với sản phẩm cung loại trong những năm qua, để thấy được tốc độ tăng trưởng trong thời gian qua, làm cơ sở cho việc dự báo trong tương lai
- Mức cung thực tế của các doanh nghiệp trên thị trường hiện tại, thị phần và mức độ cạnh tranh
- Thông tin về giá cả, dự báo thị trường trong nước và quốc tế
- Quy hoạch, kế hoach đầu tư, định hướng phát triển của các bộ nghành 2.1.2 Nâng cao chất lượng công tác xử lý thông tin
Thông tin đầy đủ, chính xác mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để việc thẩm định được chính xác Nếu việc xử lý thông tin không được chính xác thì mọi thông tin thu được cũng chỉ là vô nghĩa Do đó việc thu thập thông tin phải đi liền với xử
lý thông tin
Khi có được số liệu chính xác từ quá trình thu thập thông tin thì cần phải xem xét tính sát thực và mức độ tin cậy của thông tin, phải xem xét các số liệu này cả về
Trang 15
tương đối lẫn tuyệt đối Phân tích báo cáo tài chính theo chiều dọc lẫn chiều ngang Theo chiều ngang cho thấy sự biến động theo thời gian, thấy được sự tăng trưởng của các doanh nghiệp Còn theo chiều dọc cho thấy sự hợp lý trong cơ cấu các khoản mục để từ đó xem xét khả năng, năng lực của doanh nghiệp để thấy được điểm mạnh yếu của doanh nghiệp Trong khi phân tích cần xem xét đến sự thay đổi của các tỷ lệ và đặt nó trong môi trường hoàn cảnh cụ thể, có sự so sánh với các chỉ tiêu của nghành để đánh giá một cách chính xác
Khi phân tích không nên tính toán toàn bộ các chỉ tiêu vì điều này là không cần thiết bởi có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá và những chỉ tiêu này có tính chất chung cho mọi doanh nghiệp Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp mà ngân hàng chọn ra một số chỉ tiêu cơ bản, phản ánh được rỏ nét tình hình hoạt động của các doanh nghiệp Khi thậm định dự án xin vay phải đoán được những rủi ro có thể xảy ra, xem xét tính khả thi của dự án không chỉ dưới góc độ tài chính, mà còn cả những ảnh hưởng tới môi trường, xã hội
Bên cạnh việc phân tích các chỉ tiêu định lượng, việc phân tích các chỉ tiêu định tính cũng hết sức quan trọng Đó là việc đánh giá tư cách của người vay, khả năng quản
lý, đồng thời phân tích sự biến động của lĩnh vực kinh tế khách quan hoạt động Ngày nay trong kinh doanh, năng lực, kinh nghiệm và tầm nhìn của người l•nh đạo
có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp do đó cần chú trọng tới vấn đề này khi thẩm định cho vay
2.2 Đa dạng hoá phương thức cho vay ngắn hạn đặc biệt mở rộng chiết khấu chứng
từ có giá trên thị trường tiền tệ:
Trang 16
Nền kinh tế càng phát triển, lượng cho vay của các ngân hàng thương mại càng tăng nhanh và loại hình cho vay càng trở nên vô cùng đa dạng Xu hướng cho vay chuyển dần từ cho vay ngắn hạn sang cho vay dài hạn Khu vực ngắn hạn nhường chỗ cho thị trường tài chính – tiền tệ cung ứng Với hình thức cho vay ngắn hạn hiện nay người ta gọi là “ tín dụng ứng trước” nghĩa là vốn vay đưa ra lưu thông không tương xứng với một lượng hàng hoá nào, việc luân chuyển vốn tách rời việc luân chuyển vật tư hàng hoá Tuy nhiên phương pháp này đã gặp phải một số hạn chế sau: Rủi ro tập trung vào một khách hàng, hàng hoá luân chuyển chưa tương xứng với sự luân chuyển vốn tín dụng Để khắc phục tình trạng này NHCTII-HBT nên mở rộng hình thức cung ứng vốn bằng hình thức chiết khấu thương phiếu Hình thức này cho phép mở rộng việc mua bán chịu giữa các doanh nghiệp với nhau, sự tham gia của ngân hàng thúc đẩy lưu chuyển hàng hoá giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế Không những thế nó còn được coi là một nghiệp vụ ít rủi ro, vì chiết khấu là một hợp đồng được phép truy đòi, vì vậy khi ngân hàng không thu được nợ của người phát hành chứng từ đó thì có thể đòi ở những người liên đới trách nhiệm theo quy định của pháp luật Trong trường hợp cần thiết, các tổ chức tín dụng có thể tái chiết khấu tại NHNN khi chứng từ có giá đến hạn thanh toán
Chiết khấu không làm đóng băng vốn của ngân hàng: do thời hạn ngắn lại có thể chiết khấu trong trường hợp cần thiết nên khoản vốn của ngân hàng nhanh chóng được giải phóng, nâng cao tính thanh khoản trong quản lý tài sản có của ngân hàng Mặt khác trong ngắn hạn cũng giúp cho ngân hàng dự đoán được sự phát triển của nền kinh tế khi quyết định có chiết khấu hay không