Đây là nguồn vốn cố định để đầu tư vào các doanh nghiệp kinh doanh nhưng đồng thời lại là nguồn vốn huy động với lãi suất cao không có lợi ích cho hoạch toán kinh doanh của Ngân hàng.. N
Trang 1Cán bộ trực tiếp công tác kế toán, kho quĩ là 14 đồng chí chiếm tỉ trọng là 35,9 %, cán bộ làm công tác hành chính 03 đồng chí chiếm tỉ trọng 7,7 % cán bộ trong cơ quan
Phòng kinh doanh: có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch, chiến lược kinh doanh và cho vay, phục vụ các nhu cầu sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch vụ đời sống đối với sản xuất và các thành phần kinh tế Tìm kiếm khách hàng, thẩm định các dự án cho vay, quản lý và theo dõi quá trình sử dụng tiền vay và trả nợ tiền vay của khách hàng
Phòng Kế toán - Ngân quỹ: phát huy vai trò kiểm soát nghiệp vụ, các nghiệp vụ phát sinh dược hạch toán kịp thời chính xác, đầy đủ luân chuyển chứng từ nhanh chóng, gọn gàng Ngoài ra, phòng Kế toán còn có nhiệm vụ kết hợp với phòng kinh doanh theo dõi tình hình hoạt động của chi nhánh ngân hàng cấp 4
Phòng Hành chính: bố trí mạng lưới hoạt động cán bộ nhân viên cho phù hợp với yêu cầu kinh doanh có hiệu quả công tác đào tạo của chi nhánh đã được thực hiện đúng hướng, giúp cán bộ nhân viên trau dồi kiến thức Từ sự hoạt động năng nổ nhiệt tình của các phòng ban đã cung cấp thông tin kịp thời chính xác cho ban giám đốc đưa ra những quyết định sáng suốt duy trì và phát triển theo đúng chính sách của Đảng và Nhà nước
1.3 Tình hình hoạt độnh kinh doanh của NHNo & PTNT Quế Võ
Quế Võ là một huyện đất rộng, người đông (mật độ dân số 884người/km2) trình độ dân trí chưa cao, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp dịch vụ chưa phát triển mạnh.Thu từ nông nghiệp chiếm 65% tổng thu nhập quốc dân của huyện
Trang 2Điều đó, đặt ra nhiệm vụ nặng nề cho các cấp, các ngành nói chung và NHNo & PTNT nói riêng
1.3.1 Hoạt động về nguồn vốn
Với phương châm “ đi vay để cho vay “ NHNN Quế Võ đã đẩy mạnh khai thác vốn trong tầng lớp dân cư, các doang nghiệp và các tổ chức kinh tế xã hội với nhiều biện phát tích cực: Mở rộng mạng lưới giao dịch, kết hợp với bộ máy quản lý đổi mới phong cách làm việc ,đẩy mạnh khai thác nguồn vốn với hình thức lãi suất được NHNN tỉnh và NHNN Việt Nam chỉ đạo
Trong công tác huy động vốn của NHNN huyện Quế Võ đã đạt được những kết quả khả quan Với nguồn vốn huy động ngày càng cao góp phần đáng kể vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế và tạo điều kiện cho việc mở rộng kinh doanh Chỉ tiêu
31/12/2001 31/12/2002 Tỉ lệ tăng giảm -Tiền gửi tiết kiệm
-Tiền gửi các tổ chức KT-XH -Tiền gửi kỳ phiếu
Tổng nguồn vốn Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn
Thông qua bảng cơ cấu nguồn vốn của NHNN Quế Võ cho ta thấy nguồn vốn tiền gửi đến ngày 31/12/2002 là 46.900 triệu đồng bằng 105,7% tiền gửi 31/12/2001 tăng 2.104 triệu đồng (trong đó 100% vốn nội tệ), gắn vốn tăng trưởng 4,0697%.xét
về kết cấu nguồn vốn hình thành do: Tiền gửi các tổ chức tín dụng kinh tế xã hội đạt
Trang 3được 19.858 triệu đồng giảm so với cùng kỳ năm trước là 4.106 triệu đồng Nguồn vốn huy động giảm do người gửi các doanh nghiệp nhà nước giảm, đặc biệt là tiền gửi của kho bạc nhà nước giảm 3.914 triệu đồng chiếm 42% vốn huy động, bên cạnh đó mức tăng trưởng còn thấp (17.134% )
Đối với tiền gửi kỳ phiếu chiếm tỷ trọng cao 52,56% tổng nguồn vốn huy động tại địa phương, đạt 24.653 triệu đồng tăng 5.497 triệu đồng so với 31/12/2001 tăng trưởng 28.96 % là loại tiền gửi chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn Được như vậy là do khách hàng nhạy cảm với những lãi suất tiền gửi kỳ phiếu cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm, đồng thời lượng tiền nhàn dỗi đó phù hợp với việc quay vòng vốn có của họ Cho nên khách hàng đã rút ra một phần tiền để tiết kiệm để mua kỳ phiếu với kỳ vọng sẽ thu được số tiền lãi súât cao hơn Đây là nguồn vốn
cố định để đầu tư vào các doanh nghiệp kinh doanh nhưng đồng thời lại là nguồn vốn huy động với lãi suất cao không có lợi ích cho hoạch toán kinh doanh của Ngân hàng
Tiền gửi tiết kiệm tính đến 31/12/2002 đạt được 2.389 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 5,09 %, tốc độ tăng trưởng cao 42,6%, tổng nguồn vốn huy động tại điạ phương tăng 713 triệu đồng so với 31/12/2001 Nguồn vốn huy động của ngân hàng ngày càng tăng, điều này cho ta thấy khách hàng đã có lòng tin, sự tín nhiệm vào ngân hàng, quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng được cải thiện tốt hơn Đồng thời lượng tiền nhàn rỗi này phù hợp với việc khách hàng dùng trong chi tiêu hoặc mỗi khi cần Nguồn vốn này tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng sử dụng vốn huy động với lãi suất thấp để mở rộng công tác kinh doanh trong một thời gian nhất định (ngắn hạn)
Trang 4Trong năm 2002, mặc dù nhà nước thay đổi lãi suất và tiền vay có xu thế giảm dần nhằm thực hiện một số giải pháp, nhưng ngân hàng vẫn có tăng trưởng Đạt được kết quả này, trước hết là do NHNo & PTNT huyện Quế Võ luôn đa dạng, các hình thức huy động về thời gian và lãi suất cho phù hợp với thời gian nhàn rỗi của các tổ chức, dân cư sử dụng đến Bên cạnh đó, là việc trang bị cơ sở vật chất, thủ tục tiền gửi, rút tiền đơn giản mà vẫn đảm bảo an toàn cho nguồn vốn đổi mới phong cách giao dịch
1.3.2 Công tác sử dụng vốn
Thực hiện đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước, NHNN Quế Võ đã thực sự là ngân hàng của mọi nhà mọi người, mọi doanh nghiệp, Với phương hướng đầu tư cho các doanh nghiệp, hộ sản xuất làm ăn có hiệu quả, góp phần khơi dậy tiềm năng các ngành nghề thủ công truyền thống của địa phương: gốm Phù Lãng, đan cói Chi Lăng, tăng cường xây dựng mở mang ngành nghề thủ công nghiệp, hợp tác xã vận tải, hợp tác xã đồ gỗ dân dụng, xây dựng và phát triển trang trại, từ đó tạo thu nhập cho người dân phát triển kinh tế
xã hội Tính đến 31/12/2002 tổng dư nợ đã đạt 90.500 triệu đồng tăng trưởng đạt 42,6% so với năm 2001, tăng 27.034 triệu đồng đạt 105,23% kế hoạch đề ra Từ kết quả này cho ta thấy ngân hàng đã vượt mức kế hoạch đề ra 5,23% Điều này đã phản ánh nhịp độ phát triển kinh tế thị trường tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt, buộc các doanh nghiệp, các hộ sản xuất đổi mới kỹ thuật để tạo nhiều sản phẩm có uy tín, chất lượng phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng Điều này đòi hỏi người sản xuất phải đầu tư vốn rất lớn, trong khi đó vốn của ngân hàng tham gia vào quá trình đổi mới lại đóng vai trò quyết định Chính vì thế, mà việc cho vay của ngân hàng đến
Trang 531/12/2002 đã tăng lên 27.34 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước Ngân hàng đa sử dụng vốn có hiệu quả, đồng vốn đã đi đến được những người có nhu cầu đồng thời phản ánh sự lỗ lực của cán bộ nhân viên trong ngân hàng
1.3.3 Công tác kế toán thanh toán
Kế toán thực hiện hạch toán đầy đủ, chính xác, kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, chấp hành tốt chế độ hạch toán, kế toán, thu chi, tài chính Quản lý tổ chức, kho quỹ an toàn, chi trả đảm bảo đúng kế hoạch TW và tỉnh giao
1.3.4 Kết quả tài chính
Nhờ có những bước tiến đáng kể trong hoạt động kinh doanh ngân hàng mà lợi nhuận của ngân hàng ngày càng tăng, trong năm qua NHNơơơN Quế Võ đã hạch toán đầy đủ các quá trình thu nhập, chi phí trong công tác huy động vốn kịp thời, chính xác các chỉ tiêu kinh doanh tiền tệ tín dụng
Tổng thu năm 2002 là 9.653 triệu đồng tăng hơn năm 2001 là 24,43% đạt 112% kế hoạch đề ra Trong đó, thu từ hoạt động tín dụng là 9.568 triệu đồng tăng 25% so với năm 2001 đạt 116% kế hoạch năm 2002 đề ra, chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng thu của ngân hàng (99,12%) Thu từ dịch vụ ngân hàng 51 triệu đồng bằng 135% năm 2001 đạt 50% kế hoạch đề ra chiếm 6,52% tổng doanh thu Thu khác 34 triệu bằng 80% năm 2001 đạt 86% kế hoạch đề ra chiếm 0,36% tổng doanh thu Tổng chi năm 2002 là 4.533 triệu đồng bằng 96% năm 2001 đạt 98% kế hoạch
Do hoàn thành tốt các chỉ tiêu kế hoạch năm 2002 nên đã đảm bảo được chỉ tiêu lương (hệ số lương đạt 1,337), thực hiện tốt chế độ chính sách đối với người lao động, đời sống cán bộ công nhân viên ổn định và từng bước được cải thiện
2 Tình hình cho vay tại ngân hàng nông nghiệp huyện Quế Võ
Trang 62.1 Tình hình kế toán cho vay nói chung
Kế toán cho vay hộ sản xuất trong năm 2001 là 12.203 hộ bình quân dư nợ của mỗi
hộ là 7,4 triệu đồng tăng so với 31/12/2001 là 1,9 triệu đồng/ hộ Như vậy, công tác cho vay tại ngân hàng Quế Võ chủ yếu là cho vay hộ sản xuất, đây là hình thức ngân hàng cho vay được khách hàng chuyên dùng và phù hợp, hình thức ngân hàng cho vay này dùng chi phí sản xuất, thời hạn cho vay gắn với chu kỳ sản xuất lưu thông, áp dụng thời gian lưu vụ song thời gian kéo dài không quá 12 tháng đối với cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và dài hạn từ 12 tháng đến dưới 5 năm, vốn cho vay dài hạn từ 5 năm trở lên
Kế toán cho vay phải thực hiện các công việc : Phải xác lập các hồ sơ, chứng từ cho vay một cách hợp lệ, đầy đủ, khoa học Kiểm soát chứng từ trước khi phát tiền vay
Hạch toán các khoản tiền vay kịp thời, chính xác trong quá trình sử dụng vốn này,
từ khi giải ngân đến khi khoản vay được hoàn trả cả gốc và lãi
Quản lý hồ sơ: Các chứng từ được sắp xếp bảo quản chặt chẽ và khoa học để đảm bảo thu hồi nợ kịp thời nhằm bảo vệ an toàn tài sản Cuối tháng sao kê với sổ phụ phải khớp nhau
Việc thực hiện các nghiệp vụ kế toán cho vay diễn ra tốt thì việc đảm bảo về mặt pháp lý các khoản cho vay của ngân hàng càng tốt vì ngân hàng đều phải dựa vào các loại chứng từ hoạt động của kế toán cho vay, mọi liên giữa khách hàng và thu ngân về thu nợ, thu lãi cho khoản vay và căn cứ các chứng từ đó để ngân hàng xử lý những khoản vay không thực hiện đúng hợp đồng tín dụng trong đó các chứng từ gốc và chứng từ ghi sổ
Trang 72.2 Vấn đề lưu trữ hồ sơ của kế toán cho vay
Theo quy chế cho vay đối với khách hàng trong hệ thống NHNN và PTNN Việt Nam (Ban hành kèm theo quyết định số 72/QĐ - HĐQT - tín dụng ngày 31/3/2002 của chủ tịch hội đồng quản trị NHNo& PTNT Việt Nam)
Trong kế toán cho vay( phòng kế toán) lưu trữ hồ sơ, ngoài bộ hồ sơ kinh tế do phòng tín dụng giữ tất cả hồ sơ pháp lý hồ sơ cho vay vốn và các loại giấy tờ khác
do phòng kế toán giữ việc lưu giũ theo danh mục hồ sơ được thực hiện trên máy tính
Các giấy tờ đảm bảo tiền vay của khách hàng được lưu giữ tại kho theo chế độ quy định như đối với giấy tờ có giá
Đối với khách hàng là hộ gia đình, các cá nhân mà không phải thực hiện thế chấp, bảo lãnh, cầm cố dùng sổ vay vốn thay hợp đồng tín dụng
Khoản vay sau khi được ngân hàng ký duyệt cho vay thì bộ phận tín dụng chuyển
hồ sơ cho bộ phận kế toán thực hiện các nghiệp vụ hạch toán
Khi nhận được hồ sơ của cán bộ tín dụng chuyển đến cán bộ kế toán cho vay kiểm tra lại hồ sơ cho vay theo những danh mục quy định sau khi kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ Đủ điều kiện kế toán tiến hành đăng ký sổ khế ước cho khách hàng vào sổ đăng ký khế ước Sau đó kế toán viên phải gửi bản hợp đồng tín dụng cùng các giấy
tờ có liên quan để làm căn cứ giải ngân
Việc thực hiện tốt các quy định chung của ngân hàng về lưu trữ hồ sơ vay vốn của khách hàng giúp phòng kế toán cho vay tại ngân hàng huyện Quế Võ lưu trữ hồ sơ cho vay an toàn, hợp lý, khoa học
2.3 Giai đoạn giải ngân
Trang 8Việc giải ngân cho khách hàng được thực hiện sau khi cán bộ tín dụng đã đánh giá thẩm định dự án sản xuất kinh doanh của khách hàng có khả năng Giao cho bộ phận kế toán khi đó bộ phận kế toán cho vay kiểm soát, đối chiếu đúng đủ theo danh mục hồ sơ cho vay, kiểm tra va quản lý theo quy định cho vay hiện hành, kiểm soát tính hợp lệ, hợp pháp của bộ hồ sơ Sau đó, căn cứ vào số tiền cho vay đã được
ký kết kế toán lập chứng từ giải ngân theo quy trình giao dịch trực tiếp trên máy vi tính
Số tiền trên chứng từ làm căn cứ cho kế toán giải ngân, hạch toán:
Nợ: tài khoản cho vay thích hợp (của đơn vị hoặc cá nhân)
Có: tài khoản tiền mặt
Đồng thời lập phiếu nhập tài khoản ngoại bảng “ tài khoản thế chấp cầm cố” nếu đơn vị vay có tài khoản cầm cố thế chấp
Kế toán cho vay phải theo dõi và ghi chép trên hợp đồng tín dụng lấy chữ ký nhận tiền của khách hàng vay tiền
Giao một liên hợp đồng tín dụng vay tiền cho khách hàng giữ, một liên kèm giấy tờ vay vốn lưu cùng bộ hồ sơ vay vốn tại bộ phận kế toán cho vay để theo dõi thu lãi hàng tháng và thu nợ
Trong trường hợp khách hàng vay theo hạn mức tín dụng (nhận tiền vay nhiều lần trên một hợp đồng tín dụng, kể từ lần thứ hai giải ngân kế toán cho vay phải kiểm tra đối chiếu tổng số tiền vay đã giải ngân các đợt không được vượt quá số tiền cho vay đã ký trên hợp đồng tín dụng”
Trường hợp người nhận tiền vay không phải là người đứng tên trên hợp đồng tín dụng thì phải có giấy uỷ quyền hợp pháp của người đứng tên trên hợp đồng
Trang 9Tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Quế Võ, chủ yếu giải ngân tiền vay bằng tiền mặt Đa số khách vay là hộ tư nhân, cá thể vay để phát triển sản xuất, chăn nuôi phục vụ đời sống nên không có tài khoản riêng tại ngân hàng Khi khách hàng rút vốn vay bằng tiền mặt sẽ thuận tiện cho khách hàng trong việc
sử dụng vốn vay nhưng hình thức này làm cho ngân hàng gặp khó khăn trong việc kiểm soát sử dụng vốn vay đúng mục đích Bởi vì cho vay những hộ này là những
hộ thực tế sản xuất không ổn định, chỉ sản xuất theo vụ đồng vốn vay ít trong khi đó
số lượng vay nhiều
2.4 Thực trạng công tác cho vay tại NHNN và PTNT huyện Quế Võ Trên cơ sở thực hiện có hiệu quả chiến lược huy động vốn nguồn lực tại chỗ NHNN huyện đã đầu tư mở rộng cho vay các thành phần kinh tế, mở rộng cho vay tiêu dùng và hộ sản xuất kinh doanh đạt kết quả
Theo báo cáo tổng kết của NHNN và PTNT huyện Quế Võ đến 31/12/2002 tổng dư
nợ đạt 90.500 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng đạt 42,6% so với năm 2001, tăng 27.034 triệu đồng Tổng dư nợ được hình thành và thay đổi theo:
Phân theo loại hình kinh tế
Trang 10Qua đây cho ta thấy dư nợ của ngân hàng tăng trong đó cho vay sản xuất là chủ yếu chiếm tỷ trọng 99,41 % còn lại hợp tác xã chiếm tỉ trọng 0,59%, doanh nghiệp nhà nước hầu như không có
Chỉ tiêu 31/12/2001 31/12/2002 Tỉ lệ tăng giảm
- Dư nợ ngắn hạn
- Dư nợ cho vay trung và dài hạn Bảng 2: Tổng dư nợ phân theo loại vay
Trong tổng dư nợ cho vay hộ sản xuất là chủ yếu, số hộ dư nợ đến ngày 31/12/2002
là 12.203 hộ, bình quân dư nợ một hộ là : 7,4 triệu đồng tăng so với năm 2001 là 1,9 triệu đồng/ 1 hộ Việc cho vay hộ sản xuất được ngân hàng mở rộng xuống các vùng cho các hộ vay vốn để phát triển kinh tế Bên cạnh cho vay hộ sản xuất thì cho vay tiêu dùng cũng ngày càng được mở rộng và đạt hiệu quả cao
Sở dĩ ngân hàng đạt được như vậy là do những năm qua ngân hàng đã không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng mà còn mở rộng nó Mở rộng đối tượng đầu tư, tích cực tìm kiếm, đầu tư vốn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã làm ăn có hiệu quả, triển khai kịp thời chính sách khách hàng: Theo đề án chiến lược kinh doanh đã được trung ương phê duyệt Bên cạnh đó, thực hiện giao khoán chỉ tiêu kế hoạch tới ngân hàng liên xã, cá nhân nhận khoán Chính vì vậy mà dư nợ của ngân hàng luôn tăng trưởng, ngân hàng luôn tạo sự cân đối giữa cho vay trung, dài hạn với cho vay ngắn hạn, thích ứng với nguồn huy động và mục đích của ngân hàng
Chỉ tiêu
Trang 1131/12/2001 31/12/2002 Tỉ lệ tăng giảm
- Dư nợ ngành NN
- Dư nợ ngành CN-TTCN -Dư nợ thương nghiệp,dịch vụ
- Dư nợ đời sống Bảng 3: Tổng dư nợ phân theo ngành kinh tế
Qua bảng số liệu trên ta thấy dư nợ của ngân hàng liên tục tăng Do nền kinh tế – xa hội phát triển đã tác động tới ngành thương nghiệp dịch vụ phát trển rõ rệt ; chiếm 65,709% tăng 4394 triệu đồng so với năm 2001 Bên cạnh có nghành nông nghiệp chiếm tỉ lệ đáng kể 45,495% tăng 22.047 triệu đồng chiếm 127,04 % dư nợ tính đến 31/12/2002, dư nợ cho vay đời sống đạt 7.715 triệu đồng tăng 366 triệu đồng đạt 105% kế hoạch đề ra, tăng trưởng 4,98% Dư nợ cho vay ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đến 31/12/2002 đạt 1137 triệu đồng tăng 242 triệu đồng tăng 27,039 %,chiếm tỉ trọng 1,26 % tổng dư nợ
Đạt được kết quả trên là do sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ được giao nhiệm vụ, họ
đã thực hiện tốt quá trình cho vay, thẩm định phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng, đi sâu vào tìm hiểu khách hàng Ngoài ra, ngân hàng có hình thức chuyển tải vốn khá hiệu quả, đó là việc mở rộng cho vay đời sống tạo điều kiện cho cán bộ nhân viên hưởng lương có điều kiên vay vốn Đối tượng này có thu nhập ổn định hàng tháng, khả năng thu hồi vốn cao từ đó nâng cao chất lượng tín dụng 2.5 Tình hình nợ quá hạn
Nợ qúa hạn
Trang 12Tỉ lệ 38 triệu đồng 0,04 % 95 triệu đồng 0,1%
Bảng 4: Nợ quá hạn năm 2001 và 2002
Tuy đã có sự cố gắng, phấn đấu nỗ lực của cán bộ nhân viên ngân hàng, ban lãnh đạo và sự giúp đỡ của các cấp chính quyền địa phương tạo điều kiện thuận lợi trong công tác đầu tư quản lý vốn Song qua sô liệu trên cho ta thấy nợ quá hạn có xu hướng tăng cụ thể năm 2002, đã tăng 0,06% bằng 57 triệu đồng so với cùng thời kỳ năm trước Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do dư nợ của những năm trước còn tồn đọng lại (nợ quá hạn phát sinh năm 2002 là 5.591 triệu đồng nhưng đã thu hồi5.531 triệu đồng, xử lý rủi ro 2,7 triệu đồng) Điều này cho ta thấy cùng với các cấp chính quyền, ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên ngân hàng cần phải cố gắng bám sát, đi sâu vào tìm hiểu khách hàng hơn nữa, nếu có biến động thì tuỳ theo trường hợp thực tế để có biện pháp xử lý phù hợp nhằm giảm tình trạng nợ quá hạn, đặc biệt là nợ đọng vì nó sẽ làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong năm tiếp theo
3 Giai đoạn thu nợ
Quy trình kế toán thu nợ tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Quế Võ được thực hiện:
Kế toán cho vay căn cứ vào kỳ hạn trả nợ trên hợp đồng tín dụng thông báo cho bộ phận tín dụng chuyên quản đôn đốc thu nợ (bằng việc lấy giấy báo nợ đến hạn theo mẫu quy định gửi cho cán bộ tín dụng)
Trang 13Khi lập giấy báo nợ đến hạn phải được lập và gửi tới khách hàng trước kỳ hạn tối thiểu 10 ngày (kìỳhạn trả nợ là ngày trả nợ cuối cùng ghi trên hợp đồng tín dụng) Hạch toán tài khoản cho vay, thu nợ trực tiếp tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Quế Võ hạch toán thu nợ (ghi có tài khoản cho vay) là các chứng từ hợp lệ, hợp pháp do khách hàng hoặc ngân hàng lập kèm theo hợp đồng tín dụng
Sau đó được hạch toán:
Nợ: Tài khoản tiền mặt ( nếu trả bằng tiền mặt)
Có: Tài khoản cho vay của khách hàng vay (phần gốc cộng lãi kèm)
4 Giai đoạn thu lãi cho vay
Phương pháp này được áp dụng cho cả lãi suất ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Khi tính lãi xong, kế toán lập phiếu thu tiền (nộp bằng tiền mặt) hoặc lập phiếu chuyển khoản (nếu bằng chuyển khoản) vào máy kế toán hạch toán
Nợ: Tài khoản tiền gửi đơn vị vay (nêú bằng chuyển khoản)
Tài khoản tiền mặt (nếu bằng tiền mặt)
Có: Tài khoản thu nhập của ngân hàng
Đồng thời kế toán ghi ngày thu lãi số tiền lãi đã tính vào hợp đồng tín dụng Phiếu thu lãi được lập thành một liên lạc chứng từ hạch toán Nếu khách hàng yêu cầu lập thêm một liên chuyển cho khách hàng sau khi thu lãi xong Với số lượng khách hàng lớn và rất đông hộ sản xuất thường vay những món nhỏ nên tiền thu lãi hàng tháng ít, kế toán phải ghi chép nhiều nhất là cuối tháng Để đảm bảo doanh thu của ngân hàng và thu nhập ổn định những hộ sản xuất có chu kỳ sản xuất thường từ 6 đến 12 tháng nên quá trình thu hồi vốn chậm, thu lãI theo tháng thì họ chưa có tiền