1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hướng đi cho các chương trình đóng góp mạnh thường quân góp phần với ngân sách nhà nước hỗ trợ người nghèo - 3 docx

34 279 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 243,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định hướng thứ 4: Ngân hàng phục vụ người nghèo phải được hỗ trợ nhất định về mọi nguồn vốn hoạt động từ các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính phi ngân

Trang 1

Năm là: Nhà nước cần có chính sách ưu tiên hơn nữa trong việc sử dụng nguồn vốn từ quỹ hỗ trợ đầu tư cho phát triển hạ tầng các vùng khó khăn

- Vốn huy động từ các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân

Vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn hiệu quả thu hồi vốn chậm và thấp nên để huy động các nguồn vốn khác ngo ài nguồn vốn ngân sách cho lĩnh vực này phải quan tâm hai vấn đề sau:

Thứ nhất: Có sự khuyến khích các nh à đầu tư bao gồm trên các lĩnh vực như môi trường đầu tư thuận lợi, có bảo đảm để người đầu tư yên tâm bỏ vốn, thực hiện các hỗ trợ và ưu đãi về đầu tư Hỗ trợ đầu tư bao gồm: hỗ trợ cơ sở vật chất, hỗ trợ để tạo điều kiện cho họ tăng vốn kinh doanh, hỗ trợ về chuyển giao công nghệ

Thứ hai: Phải đa dạng các hình thức huy động vốn từ các doanh nghiệp tổ chức và cá nhân cho đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn mới khỏi tăng được mọi nguồn lực tiềm tàng, sẵn có từng địa b àn cụ thể

- Vốn đi vay:

Vốn đi vay cho mục tiêu đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn chủ yếu là nguồn dài hạn, lãi suất ổn định Trong điều kiện nguồn vốn dài hạn từ ngân sách chưa thể đáp ứng được yêu cầu, do vậy Nhà nước cần cho phép các tỉnh đẩy mạnh phương thức phát hành trái phiếu đầu tư để vay dân để tạo nguồn cho phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn

Vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam hiện nay bao gồm các nguồn: viện trợ phát triển chính thức, đầu tư trực tiếp, viện trợ của các tổ chức phi chính phủ Song có 2 nguồn vốn sau đây có khả năng đầu tư cho hạ tầng nông thôn

Trang 2

Viện trợ phát triển chính thức (ODA): là nguồn vốn do các nước và các tổ chức quốc tế viện trợ không hoàn lại, nguồn vốn cho vay lãi suất thấp hoặc cho vay không lãi Đây là nguồn vốn tài trợ có mục tiêu thực hiện chương trình làm động lực cho cải cách kinh tế như đường quốc lộ, thuỷ đ iện, thuỷ lợi, đường dây cao thế Nguyên tác sử dụng nguồn vốn này rất chặt chẽ, sử dụng đúng dự án tài trợ Tuy nhiên chúng ta vẫn có khả năng để thu hút nguồn vốn đầu tư này cho phát triển hạ tầng nông thôn Đặc biệt là đối với khu vực khó khăn miền núi, hải đảo bằng các chương trình và dự án như quy hoạch nông thôn, nước sách nông thôn

Vốn đầu tư trực tiếp (FDI): là nguồn vốn của các tổ chức và cá nhân nước ngoài góp vốn đầu tư trực tiếp bằng hình thức liên doanh theo quy định của luật đầu tư Trong những năm thực hiện chính sách mở cửa, nước ta đã thu hút được một khối lượng vốn FDI với tổng số vốn lên tới hàng tỷ USD Trong đó thu hút vào lĩnh vực nông lâm ngư là trên 5% tổng số vốn Tuy nhiên để mở rộng thu hút vốn đầu tư FDI cho phát triển hạ tầng nông thôn và các vùng đặc biệt khó khăn miền nú hải đảo, thì đòi hỏi chúng ta phải phát huy tiềm năng và lợi thế so sách của Việt Nam tạo ra môi trường thuận lợi, cởi mở để khuyến khích đầu tư nước ngoài Ngoài 2 nguồn vốn nói trên chúng ta cũng cần tận dụng tối đa các nguồn tài trợ của tổ chức phi chính phủ và cá nhân ở nước ngoài tài trợ cho phát triển hạ tầng nông thôn thông qua các dự án, chương trình khác nhau

3.2.2 Hoàn thiện và nâng cấp ngân hàng phục vụ người nghèo thành ngân hàng chính sách

3.2.2.1 Những định hướng hoạt động của ngân hàng phục vụ người nghèo

Định hướng thứ nhất: phải xác định ngân hàng phục vụ người nghèo là một ngân hàng chính sách chịu sự quản lý Nhà nước về hoạt động ngân hàng của ngân h àng Nhà nước Việt Nam Về tư cách pháp nhân nó là một tổ chức kinh tế Nhà nước Với tư cách

Trang 3

là một ngân hàng chính sách nó có chức năng chủ yếu thực hiện chính sách hỗ trợ vốn cho người nghèo, theo đó hoạt động của

nó cũng hàm chứa một cơ chế chính sách riêng Tính chính sách của ngân hàng phục vụ người nghèo được biểu hiện và phơi bày

ra ngoài bởi các quy định và các nguyên tắc hoạt động riêng biệt của nó: có điều lệ hoặc cao hơn là pháp lệnh hoạt động riêng, có

cơ chế quản lý và điều hành riêng, cơ chế tài chính và chính sách cán bộ riêng

Định hướng thứ hai: ngân hàng phục người nghèo không chỉ thực thi cấp vốn tín dụng cho người nghèo mà một cái giá cao hơn thế là thông qua hoặc kết hợp với việc truyền tải vốn có nhiệm vụ đào tạo nâng cao tri thức cho người nghèo Muỗn vậy ngân hàng phcụ vụ người nghèo phải gắn liền với các tổ chức đoàn thể xã hội địa phương và chính quyền sở tại từ mô hình tổ chức điều hành đến cơ chế chỉ đạo phối hợp

Định hướng thứ 3: để ngân hàng phục vụ người nghèo phát triển tốt phải có sự hỗ trợ đặc biệt từ phía chính phủ Phát triển của ngân hàng phục vụ người nghèo mà tập trung cốt lõi là hoạt động của nó phải làm tăng thu nhập cho người nghèo và giảm dần nghèo đói trong điều kiện bù đắp được chi phí, có lãi để tăng trưởng nguồn vốn Để đạt được điều đó, tài trợ của ngân sách Nhà nước phải đ ặt ở vị trí ''xứng đáng'' trong hệ tác nhân hỗ trợ phát triển của ngân hàng phục vụ người nghèo

Định hướng thứ 4: Ngân hàng phục vụ người nghèo phải được hỗ trợ nhất định về mọi nguồn vốn hoạt động từ các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng Bởi xét trên một góc độ nào đó, ngân hàng phục vụ người nghèo thay mặt các tổ chức tài chính - tín dụng, ''gánh vác'' toàn bộ nhiệm vụ cấp tín dụng cho người nghèo Trên ý nghĩa

đó việc đóng góp nguồn vốn của mỗi tổ chức tín dụng để bổ sung nguồn vốn cho ngân hàng phục vụ người nghèo là điều hợp lý

Trang 4

Không chỉ dừng lại ở phạm vi đó mà mỗi tổ chức kinh tế x hội phải có sự đóng góp nguồn vốn cho hoạt động của ngân hàng phục

Bộ máy quản trị kinh doanh của ngân hàng phục vụ người nghèo được trình bày ở sơ đồ sau là trên lý thuyết Thực tế có thể được điều chỉnh thêm, bớt, đan xen theo yêu cầu hoạt động của ngân hàng phục vụ người nghèo từng cấp

Nhiệm vụ đặc thù của tổ chức tín dụng cho người nghèo là hướng dẫn người nghèo làm cái gì để tăng thu nhập và sau đó là hoàn trả được nợ Kinh nghiệm thành công của Grameen Bank ngân hàng người nghèo ở Băngladesh, chính có trợ giúp của ngân hàng không chỉ là vốn bằng tiềm mà còn bằng ''vốn kiến thức'' làm ăn đối với người nghèo Bởi vậy tôi cho rằng Việt Nam có thể học tập và áp dụng Bộ máy tổ chức ngân hàng phục vụ người nghèo thiết kế trong nó một bộ phận hướng dẫn người nghèo sản xuất

Trang 5

là cần thiết không thể thiếu được Tính khả dụng của bộ phận này trong bộ máy ngân hàng phục vụ người nghèo được lý giải trên các cơ sở sau

Một là:Trên lý thuyết nghiên cứu về người nghèo cho rằng họ đều biết làm ăn, song tiếp cận trên thực tế thì đa số người nghèo khi có vốn vẫn lúng túng trong tổ chức làm ăn Trong đó cả yếu tố sợ vốn trượt khỏi tay do rủi ro, làm ăn thất bát Ngay cả những hộ nghèo xưa nay thuần nông cầm trên tay vài ba triệu bạc tiền vay cũng còn lo có trả được nợ không? Những hộ nghèo không những không đói vốn mà đòi cả kỹ thuật làm ăn Vì vậy sự trợ giúp, hướng dẫn họ làm ăn lúc này là hết sức quý giá và mang lại nhiều thành công cho cả ngân hàng lẫn cho cả người nghèo

Hai là: Đa số hộ nghèo ở nước ta chủ yếu là hộ nông dân thuần nông, không chỉ giới hạn trên thửa ruộng họ cày mà có thể hướng dẫn, khuyến khích các hộ nghèo tìm ra lối thoát với các ngành nghề mới để tạo thu nhập Bộ phân hướng dẫn người nghèo sản xuất của ngân hàng phục vụ người nghèo với những cán bộ ngân hàng có thể tiếp cận nghiên cứu, tổ chức lập dự án hướng dẫn hộ nghèo tham gia dự án để tiến hành sản xuất kinh doanh

Ba là: Thông qua quá trình trực tiếp ''nắm vùng'' với các hộ nghèo vay vốn, tự nó đã tạo ra điều kiện tốt nhất để cán bộ ngân hàng kiểm tra sử dụng vốn, hướng dẫn thu hoạch sản phẩm và tiến hành thu nợ tiền vay

Bốn là: Nhân sự bộ phận hướng dẫn người nghèo sản xuất có hiểu biết nhất định về hoạt động ngân h àng nhưng cơ bản là những cán bộ có kỹ thuật sản xuất, hiểu biết nông dân và nông thôn Với nhân sự bộ phận này, ngân hàng phục vụ người nghèo có thể phối hợp với các tổ chức khuyến nông để tu yển dụng những người đủ tiêu chuẩn tình nguyện xin làm việc tại ngân hàng phục vụ người nghèo Về lâu dài ngân hàng phục vụ người nghèo có thể tuyển dụng những sinh viên trẻ mới ra trường ở các ngành kỹ

Trang 6

thuật, sau đó bồi dưỡng cho họ kiến thức tài chính ngân hàng và đưa vào bộ phận tổ chức nói trên, có thể nói sợi chỉ đỏ xuyên suốt để quán triệt quan điểm đạo đức với người nghèo, trước hết chính là ở chỗ, ngân hàng phục vụ người nghèo phải hết sức phục vụ vì người nghèo Muốn vậy bộ máy nhân sự của nó phải là những người có tâm huyết, hết sức thương yêu người nghèo 3.2.2.2 Giải pháp tạo lập và khai thác tối đa nguồn vốn cho hoạt động ngân hàng phục vụ người nghèo

- Vốn điều lệ

Là một ngân hàng ''chính sách'' song ngân hàng phục vụ người nghèo là một tổ chức tín dụng của Nhà nước, có tư cách pháp nhân, được Nhà nước cấp vốn điều lệ Hiện nay vốn điều lệ của ngân hàng phục vụ người nghèo là 700 tỷ đồng Tôi cho rằng với

số vốn điều lệ này quá thấp, bởi 2 lý do sau

Thứ nhất: ngân hàng phục vụ người nghèo với mục tiêu hoạt động vì người nghèo, gắn liền với khách hàng người nghèo song không có nghĩa là cơ sở vật chất cho hoạt động của nó phải ''nghèo'' theo quá mức, mà ngân hàng phục vụ người nghèo phải có một cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động của hệ thống có mạng lưới từ trung ương đ ến cơ sở Vốn để tạo ra cơ sở vật chất của ngân hàng phục vụ người nghèo chủ yếu vẫn do sự hỗ trợ của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

Thứ hai: Nguồn vốn điều lệ của ngân hàng phục vụ người nghèo không chỉ sử dụng xây dựng cơ sở vật chất mà còn tạo ra nguồn vốn cho vay trong điều kiện nguồn vốn huy động hạn chế thì sử dụng nguồn vốn điều lệ để tạo ra nguồn vốn cho vay là hết sức cần thiết của ngân hàng phục vụ người nghèo Bởi vậy việc tăng vốn điều lệ lên một mức cao hơn cho ngân hàng phục vụ người nghèo là phù hợp với thực tiễn đặt ra Mặt khác vốn điều lệ của ngân hàng phục vụ người nghèo bao gồm: vốn ngân sách Nhà nước cấp và vốn đóng góp dưới hình thức cổ phần của các cổ đông Do đó cần động viên khuyến khích các cổ đông sáng lập tăng

Trang 7

cổ phần đóng góp của mình để tăng vốn điều lệ ban đầu cho ngân hàng phục vụ người nghèo và cho phép các tổ chức kinh tế, xã hội, cá nhân trong và ngoài nước tự nguyện đóng góp cổ phần tham gia vốn điều lệ Số cổ đông này, nếu có cổ phần đóng góp lớn

sẽ được bầu vào hội đồng quản trị của ngân hàng phục vụ người nghèo

- Vốn cổ phần

Ngân hàng phục vụ người nghèo là tổ chức tín dụng của Nhà nước song nó là ngân hàng chính sách nên phải có thiết chế hoạt động riêng Điều lệ hoạt động của ngân hàng phục vụ người nghèo cần tạo ra một pháp lý mà ở đó ngân hàng phục vụ người nghèo được phép huy động cổ phần đóng góp từ các cổ đông thông thường, bao gồm 2 dạng:

Dạng cổ phần bắt buộc: ngân hàng phục vụ người nghèo quy định vốn cổ phần đóng góp bắt buộc cho mọi thành viên vay vốn Mức đóng góp bằng tỷ lệ phần trăm trên số tiền mỗi khoản vay và được khấu hao từ khoản vay Tỷ lệ này được quy định rất nhỏ khoảng 1-2%, tạo ra tâm lý tự nguyện của người vay, họ xem đó như là một khoản tiết kiệm nhỏ Song đối với toàn hệ thống ngân hàng phục vụ người nghèo, có thể tạo ra nguồn vốn tái cho vay đáng kể Ví dụ: tỷ lệ đóng góp cổ phần bằng 1% khoản vay, doanh số cho vay là 8000 tỷ đồng ta sẽ huy động vốn cổ phần đóng góp dạng này 80 tỷ đồng Tất nhiên đối với loại cổ phần này không được hưởng cổ tức, không cho phép cổ đông rút ra bất cứ lúc nào

Dạng cổ phần tự nguyện: Nhà nước và ngân hàng phục vụ người nghèo khuyến khích và động viên tất cả mọi tổ chức kinh tế, xã hội, đoàn thể, mọi cá nhân trong và ngoài nước tham gia đóng góp cổ phần hưởng cổ tức vào ngân hàng phục vụ người nghèo Loại cổ phần này nên duy trì ổn định, chỉ được rút ra khi có thời gian đóng vào khá dài (5năm, 10 năm, 20 năm ) Khi công tác tuyên truyền, phong trào xã hội và từ thiện trong cộng đồng được mở rộng và phát triển thì vốn cổ phần dạng này sẽ nâng lên

Trang 8

- Nguồn vốn huy động từ kênh ngân sách Nhà nước

Hiện nay vốn của ngân sách Nhà nước chi cho các mục đích liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo ở nước ta với con số không phải nhỏ Mặc dù ngân sách Nhà nước vẫn bội chi lớn, chính phủ vẫn phải đi vay dân, vay nước ngoài để bù đắp nhưng hàng năm vẫn phải chi ra hàng nghìn tỷ đồng cho chương trình này

Vốn ngân sách Nhà nước dù dưới 2 dạng: cấp phát không hoàn lại và cấp phát có hoàn lại thông qua các chương trình tín dụng Nhà nước Thực tế cho thấy cách thức cấp phát, cho vay của ngân sách Nhà nước thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo đạt hiệu quả còn thấp do nhiều nguyên nhân Song cốt lõi của vấn đề bởi nguyên nhân nguồn vốn chưa được bảo toàn tăng trưởng, sinh lời Bên cạnh đó cách thức truyền tải vốn thấp của nguồn vốn thực hiện ch ương trình xoá đói giảm nghèo Bởi vậy các nguồn vốn của NSNN cho mục tiêu, chương trình xoá đói giảm nghèo chưa được tập trung Song để nguồn vốn không phân tán

và chồng chéo, cấp đúng đối tượng phải chuyển về một mối thực hiện chức năng tín dụng cho người nghèo Ngân hàng phục vụ người nghèo được thành lập với đúng ý nghĩa của nó, là kênh huy động vốn chính thức các nguồn vốn cho người nghèo Trong đó các nguồn vốn của ngân sách Nhà nước cho mục tiêu chương trình xoá đói giảm nghèo phải được chuyển vào kênh tín dụng này bao gồm các nguồn chủ yếu sau:

+ Nguồn ngân sách Nhà nước cấp cho chương trình tín dụng có liên quan đến người nghèo thực hiện qua kho bạc Nhà nước Kênh này bao gồm: nguồn vốn thực hiện chương trình quốc gia về giải quyết việc làm, nguồn vốn thực hiện chương trình quốc gia về phủ xanh đất trống đồi núi trọc

Trang 9

Cơ sở thực hiện việc chuyển một phần các nguồn vốn nói trên vào kênh tín dụng ngân hàng phục vụ người nghèo được luận chứng bởi

Một là: Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nêu rõ ''Hiện nay gần 20 chương trình quốc gia và dự án được thực hiện có nội dung gắn với xoá đói giảm nghèo Từ năm 1996 sẽ lồng ghép chương trình xoá đói giảm nghèo với các chương trình khác trong đó lấy chương trình quốc gia về giải quyết việc làm, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chương trình phát triển kinh tế

xã hội các xã đặc biệt khó khăn làm nòng cốt'' Như vậy ý nghĩa mục tiêu của các chương trình quốc gia này đã được khẳng định

về tính chủ đạo cho việc thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo trong các năm tới ở nước ta Do đó để tạo ra nguồn vốn tập trung hỗ trợ người nghèo, tôi cho rằng việc chuyển một bộ phận của 3 nguồn vốn trên vào ngân hàng phục vụ người nghèo là cần thiết và hợp lý Vốn giải quyết việc làm chỉ giao cho kho bạc Nhà nước quản lý và cho vay tạo việc làm cho vùng đô thị và các

Bốn là: nguồn vốn của NSNN được bảo toàn thông qua hình thành quỹ bảo toàn vốn ngân sách cấp tại ngân hàng phục vụ người nghèo

Trang 10

Ngân sách Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho vùng nghèo, các xã đặc biệt khó khăn xây dựng cơ sở hạ tầng để cải thiện mức sống cộng đồng

Ngân sách Nhà nước chi cho các chương trình mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội

Quan điểm sử dụng các nguồn kinh phí NS nói trên là hình thành các dự án nhỏ của các tổ chức đoàn thể cộng đồng, ngân hàng phục vụ người nghèo thực hiện cho vay vốn để thực hiện dự án Nguồn ngân sách được ngân hàng phục vụ người nghèo bảo toàn vốn gốc ban đầu của nó

- Nguồn hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước địa phương được trích một phần chuyển vào ngân hàng phục vụ người nghèo điạ phương

để hỗ trợ nguồn vốn cho vay đối với người nghèo Thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo đã trở thành vấn đè trên bình diện quốc gia Điều đó cũng có nghĩa là vốn hỗ trợ cho người nghèo không chỉ thuộc các chương trình quốc gia, mà sự đóng góp tích cực của từng địa phương là hết sức cần thiết Tính đến ngày 31-12-2000 nguồn vốn từ ngân sách địa phương chuyển sang ngân hàng phục vụ người nghèo là con số không nhỏ Song phải hình thnàh cơ chế động viên thu hút và sử dụng nguồn vốn này thống nhất trong cả nước Theo tôi, cơ chế đó phải thực hiện được nguyên tắc bảo toàn vốn gốc cho ngân sách, chứ không trả lãi trực tiếp cho địa phương

- Tiền gửi tiết kiệm của cộng đồng người nghèo

Mặc dù phải vay mượn và ''ăn đong'' nhưng người nghèo ở nước ta luôn có tư tưởng, ý thức tiết kiệm Với những món tiền nhỏ của những hộ nghèo có thể tiết kiệm được, sẽ trở thành khoản tiền lớn, tạo nguồn cho ngân hàng phục vụ người nghèo quay vòng

nó Việc thực hiện huy động vốn bằng các hình thức tiết kiệm bắt buộc hoặc tự nguyện sau đây:

Trang 11

Tiền gửi tiết kiệm bắt buộc: Tiết kiệm bắt buộc là yêu cầu đối với các hộ nghèo khi vay vốn ngân hàng phục vụ người nghèo Tiết kiệm của hộ nghèo được gửi trực tiếp thông qua tổ vay vốn để gửi vào ngân hàng phục vụ người nghèo Sự bắt buộc này đã hình thành cho người nghèo có ý thức và kế hoạch chi tiêu tiết kiệm để tạo nguồn tích luỹ trả nợ khi đến hạn, hơn nữa tạo thói quen tiếp cận với nền kinh tế tiền tệ mà họ đang bước tới Việc gửi tiền tiết kiệm bắt buộc đối với hộ nghèo và phù hợp với khả năng tiết kiệm của hộ nghèo vay vốn có thể tiến hành theo định kỳ quy định của ngân hàng phục vụ người nghèo và phù hợp với khả n ăng tiết kiệm của hộ nghèo Nhưng hiệu quả hơn cả, phải tiết kiệm từ món tiền nhỏ với từng định kỳ thời gian hàng tuần hay 20 ngày trở lại Số tiền tiết kiệm bắt buộc cũng không cần trả lãi cho người nghèo, bởi doanh số nhỏ được xem như tiền cất ''hòm'' vậy

Tiền gửi tiết kiệm tự nguyện nhưng hấp dẫn thông qua xổ số: hình thức tiết kiệm tự nguyện, không hưởng lãi nhưng gắn liền với trao thưởng thông qua xổ số tiết kiệm chắc chắn có nhiều khả thi Bởi tâm lý phần lớn của người nghèo ở nông thôn nước ta là luôn ''cầu''may Tình trạng đánh đề ở các vùng quê Việt Nam là minh chứng cho điều đó Ngân hàng phục vụ người nghèo có thể phối hợp với các công ty xổ số quay thưởng cho sổ tiết kiệm trên cơ sở giải thưởng và chi phí được tính từ lãi tiết kiệm mà họ không phải trả cho người nghèo Hình thức tiết kiệm này còn có tác dụng hạn chế tình trạng đánh đề và phường hụi ở nông thôn Tiền gửi từ quỹ tổ tương hỗ Ngân hàng phục vụ người nghèo cần hướng dẫn cho các tổ vay vốn hình thành quỹ tổ tương hỗ Việc hình thành quỹ này là cần thiết cho sự tương trợ và ràng buộc với nhau giữa các thành viên trong tổ, bởi nếu được quy đ ịnh như sau:

Thành viên ra khỏi tổ không được rút tiền đóng góp

Trang 12

Có thể rút tiền quỹ trả nợ cho mỗi th ành viên khi mất khả năng trả nợ ngân hàng

Qu ỹ tổ được hình thành từ khấu trừ khoản vay (khoảng 1-2%) và được gửi vào ngân hàng phục vụ người nghèo nơi thành viên vay vốn Tiền gửi sẽ được ngân hàng trả lãi Việc tạo ra quỹ tổ là điều kiện giảm bớt rủi ro cấp tín dụng cho người nghèo chỉ dựa vào tín chấp là bảo đảm không có pháp lý

- Tiền gửi thực hiện mục tiêu hỗ trợ người nghèo của các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính tín dụng Để thành công trong việc hỗ trợ vốn cho người nghèo, thì ngân hàng phục vụ người ngh èo phải được sự hỗ trợ hợp lực của toàn nền kinh tế Trong đó về phương diện nguồn vốn phải có sự chia sẻ khó khăn của hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính tín dụng, đặt ra điều này bởi các lý do sau:

Một là: Xoá đói giảm nghèo là một mục tiêu trong hệ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở nước ta Kinh tế xã hội phát triển điều

đó đảm bảo và quyết định cho tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế được xem là một trong những mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ quốc gia Hiểu một cách lôgic, xoá đói giảm nghèo là nhiệm vụ mà hệ thống ngân hàng Việt Nam phải góp phần gánh vác để thực hiện tốt mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia Bởi vậy các ngân h àng thương mại, các tổ chức tài chính tín dụng phải có nhiệm vụ tạo nguồn vốn để hỗ trợ người nghèo là vấn đề đặt ra có đủ luận chứng

Hai là: Vấn đề giúp người nghèo có vốn làm ăn là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, tổ chức kinh tế xã hội và toàn thể cộng đồng Quả thật về mặt nhân văn người nghèo cũng là con người cần phải giúp đỡ họ Trong đó các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính tín dụng, với lợi thế nguồn vốn của mình, với bề dầy lịch sử cấp vốn cho người nghèo, phải có trách nhiệm tạo nguồn vốn cho người nghèo là vấn đề phù hợp đạo lý nhân văn nói trên

Trang 13

Ba là: Để đảm bảo thực hiện sự hỗ trợ nói trên, cần phải có một điều lệ quy định rõ trách nhiệm này trong luật ngân hàng và luật các tổ chức tín dụng

- Tiền gửi từ các tổ chức kinh tế xã hội, cá nhân trong và ngoài nước Nhà nước khuyến khích mọi tổ chức kinh tế, x ã hội, cá nhân trong và ngoài nước gửi tiền vào ngân hàng phục vụ người nghèo để tạo nguồn vốn cho vay đối với người nghèo Tuy nhiên đây là hình thức tiền gửi theo cơ chế lãi suất thị trường Bởi vậy tuỳ vào yêu cầu thực tiến nguồn vốn mà ngân hàng phục vụ người nghèo tổ chức huy động

Nhà nước cho phép huy động tiền gửi từ các quỹ bảo hiểm và các quỹ khác với lã một số quỹ thuộc dạng này có nguồn vốn rất lớn tạm thời nhàn rỗi chưa được sử dụng để sinh lời nó thông qua tác động của kênh vốn tín dụng

- Huy động vốn từ các nguồn tài trợ cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo

Ngân hàng phục vụ người nghèo với tư cách đại diện cho chính phủ tiếp nhận mọi nguồn vốn hỗ trợ cho người nghèo, tự nó đã khẳng định là tổ chức chính thức được giao nhiệm vụ thu hút các nguồn tài trợ cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo Để khai thác các nguồn tài trợ cho mục tiêu nói trên, yếu tố cần thiết trước hết phải có định hướng, chính sách của Nhà nước phải rõ ràng, cụ thể Định hướng, chính sách của Nhà nước là hành lang và đường băng, cũng là điều kiện để khỏi dòng vốn tài trợ này và thu hút

nó vào kênh tín dụng cho người nghèo Để làm được điều đó định hướng và chính sách của Nhà nước phải thể hiện được các nội dung sau:

Thứ nhất: Khuyến khích sự tài trợ của mọi tổ chức cá nhân chia sẻ với cộng đồng người nghèo Qua đó họ có những hành động, chương trình giúp đỡ có tính nhân đạo cho người nghèo vùng nghèo

Trang 14

Thứ hai: Khuyến khích mọi tổ chức kinh tế, xã hội, đoàn thể và cá nhân hình thành các dự án thu hút nguồn tài trợ cho người nghèo, đồng thời tạo điều kiện tốt nhất cho họ tiếp nhận các nguồn tài trợ đó

Thứ ba: Đảm bảo các nguồn tài trợ được sử dụng với hiệu quả cao nhất vừa thực hiện đúng mục tiêu tài trợ, vừa tạo lòng tin cho người tài trợ

Để khỏi tăng các nguồn tài trợ nói trên, ngân hàng phục vụ người nghèo cần phải giải quyết tốt các vấn đề sau:

Một là: ngân hàng phục vụ người nghèo chủ động phối hợp cùng với các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, hiệp hội kêu gọi và ký kết các hiệp ước tài trợ thông qua đầu tư vốn vào các chương trình và dự án, giúp đỡ kỹ thuật, đào tạo trí thức cho người nghèo Hai là: ngân hàng phục vụ người nghèo phối hợp với các bộ, ngành, đoàn thể hữu quan xây dựng các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệp, nông thôn có tính khả thi để thu hút các nguồn tài trợ

Ba là: Hình thành một cơ chế tiếp nhận nhanh nguồn tài trợ từ uỷ thác của chủ dự án hoặc ch ương trình trong khuôn khổ luật lệ cho phép

Bốn là: ngân hàng phục vụ người nghèo thực hiện quản lý nguồn và cấp tín dụng đạt chất lượng theo yêu cầu của chủ dự án và đúng mục tiêu dự án Thực tế cho thấy các nguồn tài trợ cho muc tiêu xoá đói giảm nghèo mang nặng tính chất xã hội từ thiện và nhân đạo song không phải như vậy mà cho phép phía nhận tài trợ quản lý lỏng lẻo Ngược lại hoàn toàn đ iều đó, phía quản lý tài trợ chịu sự kiểm soát khắt khe của phía tài trợ Bởi vậy yêu cầu ngân hàng - người tiếp nhận uỷ thác quản lý phải nâng cao vai trò, trách nhiệm thực hiện đúng cam kết của hợp đồng đã nhận với bên uỷ thác

Trang 15

Tài trợ vốn cho người nghèo đang là xu thế của cộng đồng thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng Trong điều kiện nguồn vốn huy động qua các kênh chính thức đáp ứng cấp tín dụng cho người nghèo thì khỏi tăng nguồn vốn tài trợ cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo là hết sức quan trọng cho hoạt động của ngân hàng phục vụ người nghèo Điều đó, với sự nỗ lực riêng của ngân hàng phục vụ người nghèo là chưa đủ mà cần sự trợ giúp của Nhà nước các cấp, các ngành, các tổ chức kinh tế, xã hội thông qua phong trào tuyên truyền khích lệ các nhà tài trợ và các nhà hảo tâm

- Nguồn vốn từ quỹ bù đắp rủi ro

Cấp tín dụng cho người nghèo bao giờ cũng đồng hành với rủi ro mất vốn Quả thật, khả năng hoàn trả vốn đúng hạn và đầy đủ của người nghèo vay vốn còn nhiều hạn chế Thực tế cho thấy các hộ nghèo chủ yếu tập trung vào vùng nông thôn, sản xuất nông nghiệp gắn với thiên tai, mất mùa xảy ra thường xuyên Do vậy không có quỹ bù đắp rủi ro mất vốn cho ngân hàng phục vụ người nghèo thì sự tồn tại của nó hết sức mong manh Bởi nguồn vốn sẽ hụt dần cùng với việc khoanh nợ, xoá nợ cho hộ nghèo, mặt khác do tâm lý sợ bị lỗ, người nghèo thích thu lợi nhanh nên tính toán bỏ vốn làm ăn luẩn quẩn, ít hiệu quả Người nghèo thường tung hết vốn liếng vào làm ăn nên khi thất bát rơi vào thế ''trắng tay'', nợ nần Cũng không ít trường hợp do túng thiếu quanh năm, tiền vốn ngân hàng cho vay có thể bị sử dụng vào mục đích khác như mua lương thực, chữa bệnh, tiền học cho con

để đảm bảo những nhu cầu cơ bản của con người

Lập quỹ bù đắp rủi ro là việc cần thiết cho mọi tổ chức tín dụng, song nó lại cần thiết h ơn đối với tổ chức tín dụng cho người nghèo Mặc dù đã có quyết đ ịnh số 48/1999/QĐ - NHNN 5 ngày 8-2-1999 của thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam, song hiện nay vẫn chưa thể thực hiện được bởi vì vấn đề đặt ra là lấy nguồn từ đâu để lập quỹ bù đắp rủi ro này và sử dụng nó cho

Trang 16

hiệu quả trong điều kiện ngân hàng phục vụ người nghèo với khả năng tạo ra lợi nhuận rất thấp Vì vậy, theo tôi cần tạo ra một

cơ chế lập quỹ bù đắp rủi ro cho ngân hàng phục vụ người nghèo phù hợp với tính ''chính sách'' của nó Nhà nước nên cho phép trích từ ngân sách Nhà nước để cấp cho ngân hàng phục vụ người nghèo hình thành quỹ bù đắp rủi ro trên cơ sở có sự tự lực của ngân hàng phục vụ người nghèo Tức là quỹ bù đắp rủi ro được lập từ hai nguồn: ngân sách Nhà nước cấp và nguồn trích từ lợi nhuận của ngân hàng phục vụ người nghèo Song phần ngân sách Nhà nước cấp là chủ yếu, tỷ lệ này sẽ được giảm dần khi lợi nhuận của ngân hàng phục vụ người nghèo tăng lên

Nguồn của ngân sách Nhà nước cấp để hình thành quỹ bù đắp rủi ro cho ngân hàng phục vụ người nghèo được trích ra từ quỹ dự phòng trợ cấp các vùng thiên tai đối với hộ nghèo, vùng nghèo Như vậy chi ngân sách Nhà nước thực tế không tăng lên mà thay đổi phương thức chỉ đ ể đạt mục tiêu sử dụng cao hơn Bởi vậy trợ cấp khắc phục thiên tại bằng xin, cho, cấp chỉ phù hợp với những giải pháp tính thế mang tính cứu tế mà thôi

Để ngân hàng phục vụ người nghèo hoạt động và phát triển, quỹ bù đắp rủi ro được lập thường xuyên với số dư đủ lớn Khi thực

tế có rủi ro, được trích quỹ để bù đắp kịp thời đảm bảo nguồn vốn hoạt động cho ngân hàng phục vụ người nghèo Quỹ bù đắp rủi

ro cho ngân hàng phục vụ người nghèo khi chưa sử dụng (phản ánh trên số dư của quỹ) được sử dụng để tăng nguồn vốn cho vay

và bảo toàn nó Tuy nhiên để quỹ này sử dụng đúng mục đích và hiệu quả phải có một cơ chế quản lý như đối với các quỹ tài chính đặc thù

- Ngoài những nguồn vốn nói trên, ngân hàng phục vụ người nghèo có thể sử dụng tối đa các nguồn huy động tiền gửi bằng việc quy đ ịnh miễn nộp dự trữ bắt buộc vaò ngân hàng Nhà nước

Trang 17

Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các tổ chức tín dụng phải gửi tại ngân hàng Nhà nước để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Như vậy nếu ngân hàng phục vụ người nghèo được thực thì chính sách miền nộp dự trữ bắt buộc vào ngân hàng Nhà nước sẽ tạo

ra khả năng mở rộng hệ số tạo tiễn của nó Nói một cách cụ thể hơn, việc được miễn nộp tiền dự trữ bắt buộc sẽ tạo cho ngân hàng phục vụ người nghèo sử dụng tối đa nguồn vốn huy động từ tiền gửi để cho vay Hơn nữa, đó cũng là điều kiện làm giảm đáng kể lãi suất cho vay đối với ngân hàng phục vụ người nghèo

Ngân hàng Nhà nước hoàn toàn có đủ luận chứng để thực thi miễn nộp tiền dự trữ bắt buộc đối với ngân hàng phục vụ người nghèo bởi các lý do sau:

Một là: Tiền gửi huy động của ngân hàng phục vụ người nghèo ít xảy ra mất khả năng thanh toán bởi chủ yếu nguồn tiền gửi ổn định, quy mô nhỏ

Hai là: Việc tăng hộ số tạo tiền, theo đó cung ứng tiền thông qua cấp tín dụng cho người nghèo tăng lên, song ngân hàng Nhà nước vẫn chủ động kiểm soát được lượng tiền cung ứng, bởi hạn mức tín dụng cho người nghèo có giới hạn theo khả năng nguồn vốn của ngân hàng phục vụ người nghèo

Ba là: Nâng hệ số tạo tiền, giảm được lãi suất cho vay có tác động tích cực thực hiện chính sách ưu đãi đối với người nghèo, điều

đó không ảnh hưởng lãi suất trên thị trường tín dụng của nền kinh tế bởi đối tượng nhận tín dụng được giới hạn trong khu vực người nghèo và vùng nghèo

Ngày đăng: 05/08/2014, 22:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Những đ iển h ình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn - Bộ kế hoạch đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đ iển h ình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: Bộ kế hoạch đầu tư
16. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII NXB chính trị quốc gia, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 1996
22. Michael Todaro Kinh tế học cho thế giới thứ 3. NXB Giáo dục 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học cho thế giới thứ 3
Tác giả: Michael Todaro
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
23. Frederec S.Mishkin: Tiền tệ, ngân h àng và thị trường tài chính - NXB Khoa h ọc kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính
Tác giả: Frederec S. Mishkin
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội
2. Về chương trình XĐGN ở nước ta từ nay đến năm 2000, quan điểm - chính sách - giải pháp, chuyên lu ận của Hoàng Chí Bảo, viện Chủ nghĩa xã hội khoa học năm 1998 Khác
3. Việt Nam quá độ sang kinh tế thị trường - Báo cáo kinh tế của ngân hàng thế giới Khác
4. Nguyễn Thị Hằng - B ước tiến mới của sự nghiệp xoá đói giảm nghèo Khác
5. Phát biểu của Thủ tướng Phan Văn Khải tại hội nghị sơ kết năm 1999 và triển khai kế hoạch 2000 chương trình quốc gia XĐ NG Khác
6. Báo cáo thường niên từ 1992 -2000 của kho bạc Nhà nước Việt Nam Khác
7. Báo cáo tổng kết 2 năm (1998-2000) thực hiện chương trình 135 - vụ kinh tế địa phương và lãnh th ổ Khác
8. Báo cáo thực hiện chương trình 135 - Sở lao động thương bình và xã hội tỉnh Cao Bằng Khác
9. Đánh giá thực hiện chương trình 327 - Bộ Tài chính Khác
11. Báo cáo thường niên của Ngân hàng phục vụ người nghèo Việt Nam 1996 - 2000 Khác
12. Báo cáo thường nhiên của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 1996 - 2000 Khác
13. Báo cáo tại hội nghị giải quyết vấn đề nghèo đói trên th ế giới - Oasingtơn Khác
14. C.Marx: tư bản quyển 1, 2, 3,-NXB sự thất Hà Nội 1993 Khác
15. Kinh tế thị trường lý thuyết và thực tiễn. Uỷ ban kế hoạch Nh à nước và quỹ hoà bình Savakawa xu ất bản 1993 từ tập 1 đến tập 3 Khác
17. Đề tài KX-07-95 (Do PGS.TS. Đỗ Nguyên Phươ ng chủ trì): Về phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo và xoá đói gi ảm nghèo ở nước ta hiện nay Khác
18. Tổng hợp tình hình thu chi ngân sách 1996 - 2000. Báo cáo vụ ngân sách - Bộ tài chính Khác
19. Đổi mới ngân sách Nh à nước NXB thống kê Hà Nội 1996 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w