Ngân hàng phục vụ người nghèo là một tổ chức tín dụng của Nhà nước hoạt động trên phạm vi cả nước, có chức năng huy động các nguồn vốn của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, tiế
Trang 1- Vốn để hướng dẫn người nghèo cách làm ăn và khuyến nông - lâm - ngư (gọi chung là khuyến nông): kinh phi bố trí là 7,2 tỷ đồng đã sử dụng để xây dựng 150 mô hình trình diễn kỹ thuật với 10.000 hộ tham gia, tập huấn 180 lớp khuyến nông với 18.000 lượt người, in 12.000 bản tài liệu, phát hành hàng trăm số báo chuyên đề Ngoài ra các đ ịa phương đã bố trí kinh phí để tổ chức hàng ngàn lớp tập huấn cách làm ăn cho trên 100.000 lượt người nghèo Thông qua hướng dẫn người nghèo cách làm ăn bằng các mô hình cây trồng, vật nuôi, câu lạc bộ khuyến nông, giống mới, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cho sản xuất góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nhiều hộ nghèo đã biết vay vốn để tổ chức sản xuất, tăng thu nhập, thoát đói giảm nghèo
- Ngoài ra ngân sách Nhà nước phải sử dụng các khoản chi khác đ ể trợ cấp đột xuất khắc phục thiên tai hoả hoạn để ổn định cuộc sống dân cư các khu vực này
Các khoản chi từ kênh ngân sách Nhà nước để sử dụng vào các mục đích nói trên không phải là toàn bộ hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo Nhưng nó đã có tác động tích cực hỗ trợ phát triển nông thôn, miền núi nâng cao mức sống người dân tạo điều kiện cho họ vượt qua cảnh nghèo đói Sự hỗ trợ cần thiết này phản ánh tính định hướng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường
ở nước ta Tuy nhiên chuơng trình hỗ trợ này thực sự chưa quản lý chặt chẽ, có một số khoản mang nặng tính trợ cấp từ thiện, có khi là biện pháp tình thế nên việc sử dụng nó hiệu quả chưa cao
2.2.2 Hỗ trợ vốn từ nguồn vốn tín dụng ngân hàng
2.2.2.1 Tín dụng cho hộ nông dân nghèo từ nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Ngày 28/6/1991 Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) có quyết định 202/HĐBT, theo đó giao cho ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn Việt Nam thực hiện cho vay chủ yếu đối với hộ sản xuất thiếu vốn Từ năm 1991 đến 31/12/2000, ngân
Trang 2hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã cho trên 30 triệu lượt hộ vay vốn, với doanh số trên 100 nghìn tỷ đồng trong đó dư nợ cho vay theo chính sách là gần 10 nghìn tỷ đồng bao gồm: hộ nghèo 4400 tỷ đồng, tôn nền làm sàn nhà trên cọc
1300 tỷ đồng, khắc phục hậu quả thiên tai lũ lụt 1200 tỷ đồng, cho vay ưu đãi vùng sâu vùng xa gần 3000 tỷ đồng Theo số liệu thống kê mới 30% nhu cầu vay vốn của hộ nông dân được đáp ứng, 70% hộ nông dân phải đi vay tư nhân và các nguồn vốn khác
Đối với hộ nông dân nghèo vay vốn vẫn chịu lãi suất như các hộ nông dân bình thường Riêng vùng núi, vùng sâu, vùng
xa, hải đảo được miễn giảm lãi suất so với lãi suất cho vay cùng loại Để tạo điều kiện cho hộ nông dân nghèo không có tài sản thế chấp, ngày 30/2/1999 thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 67/1999/QĐ-TTg theo đó các hộ nông dân khi cần vay vốn thì chỉ cần làm đơn có xác nhận của địa phương và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gửi đến ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Sau 10 năm cho vay, chương trình tín dụng này đã đạt được kết quả đáng khích lệ nhưng cũng cần đánh giá một số mặt tồn tại là:
Về phương thức cho vay Mặc dù ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn là tổ chức tín dụng thực hiện chính sách cho vay ưu đãi nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp nhưng cơ chế hoạch toán của ngân hàng này theo nguyên tắc ngân hàng thương mại Sự lẫn lộn giữa chức năng chính sách và chức năng kinh doanh dẫn đến xu hướng cán bộ tín dụng thường ưu tiên các
hộ nông dân khá giả vay lớn hơn là ưu tiên cho các hộ nghèo khó khăn là những người thường vay những món nhỏ Mặt khác, phương thức cho vay tới tận tay hộ nông dân trong điều kiện Việt Nam hiện nay thường đòi hỏi chi phí cao cho các món vay nhỏ, vay phân tán với nhiều thủ tục phức tạp mà nhiều hộ nông dân khó đáp ứng được Do đó có hiện tượng nhiều hộ nông dân hướng đến hệ thống tín dụng phi chính thức để thoả mãn nhu câù thiếu vốn của mình hơn là đến ngân hàng để vay
Trang 3Thứ hai: Lãi suất cho vay đối với hộ nông dân nghèo trong thực tế quá cao - có ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện vẫn cho vay với lãi suất thoả thuận cao hơn lãi suất cho vay bình thường
Thứ ba: Khả năng rủi ro trong nông nghiệp lớn, là điều trở ngại cho ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn quyết định khi cho vay, bởi lẽ nguy cơ mất vốn thường xuyên bị đe doạ
Thứ tư: Việc cấp vốn tín dụng tới tay người nghèo thường không kịp thời và chưa phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh của họ
Những tồn tại trên đây đã hạn chế việc mở rộng cấp tín dụng cho người nghèo Thực tiễn này đòi hỏi phải đổi mới, áp dụng phương thức cho người nghèo phù hợp hơn
2.2.2.2 Tín dụng cho hộ nghèo của ngân hàng phục vụ người nghèo
Ngày 31/8/1995 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 525/TTg "về việc thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo" Theo
đó ngày 11/9/1995 Ngân hàng phục vụ người nghèo được thành lập theo quyết định số 230/QĐ/NH5 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và được cấp giấy phép hoạt động từ ngày 12/12/1995 Ngân hàng phục vụ nghèo chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1996
Ngân hàng phục vụ người nghèo là một tổ chức tín dụng của Nhà nước hoạt động trên phạm vi cả nước, có chức năng huy động các nguồn vốn của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, tiếp nhận các nguồn vốn tín dụng của Nhà nước đối với người nghèo và các nguồn vốn khác được Nhà nước cho phép để lập quỹ cho vay để thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo
Các nghiệp vụ của ngân hàng phục vụ người nghèo
Trang 4Tổ chức huy động vốn trong và ngoài nước của mọi tổ chức và tầng lớp dân cư bao gồm tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn Phát hành chứng chỉ nợ, vay chiết khấu và tái chiết khấu từ ngân hàng Nhà nước, vay các nguồn vốn khác trong và ngoài nước theo các dự án để cho vay người nghèo, vùng nghèo
Tổ chức huy động vốn tiết kiệm trong cộng đồng người nghèo để giúp đỡ nhau trong sản xuất, trong việc sử dụng vốn vay
và trả nợ ngân hàng
Nhận làm dịch vụ uỷ thác cho vay từ các tổ chức quốc tế đối với người nghèo
Được nhận các nguồn tài trợ không hoàn lại từ các quốc gia, tổ chức quốc tế để bổ sung vốn cho vay vì mục tiêu xoá đói giảm nghèo
Cho vay ngắn hạn, trung hạn phục vụ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đối với người nghèo
Đối tượng cho vay của ngân hàng phục vụ người nghèo: là các hộ nghèo có sức lao động, có điều kiện tổ chức sản xuất kinh doanh nhưng thiếu vốn sản xuất và có khả năng hoàn trả vốn (cả gốc và lãi) đúng thời hạn đã cam kết
Ngân hàng phục vụ người nghèo cho hộ nghèo vay vốn theo chuẩn mực phân loại hộ nghèo, vùng nghèo do Bộ lao động thương binh và xã hội phối hợp với các bộ, ngành các cơ quan khác công bố theo từng thời kỳ
Ban xoá đói giảm nghèo ở xã, phường xem xét lựa chọn danh sách hộ nghèo thuộc diện được vay vốn
Danh sách hộ nghèo có sự xác nhận của uỷ ban nhân dân ph ường, xã sở tại gửi đến chi nhánh ngân hàng phục vụ người nghèo tại huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh
Trang 5Chủ hộ là các đại diện hộ gia đình trong các giao dịch tín dụng với ngân hàng phục vụ người nghèo Ngân hàng phục vụ người nghèo ch ỉ cho vay những hộ nghèo không có dư nợ vay các tổ chức tài chính, tín dụng khác
Phương thức cho vay đối với hộ nghèo
Ngân hàng phục vụ người nghèo tổ chức cho vay trực tiếp đến hộ nghèo
Ngân hàng phục vụ người nghèo phối hợp với các ngân hàng thương mại quốc doanh, tổ vay vốn trong cộng đồng người nghèo và các tổ chức khác, để huy động vốn và truyền tải vốn cho vay trực tiếp đến hộ nghèo
Nguồn vốn hoạt động của ngân hàng phục vụ người nghèo bao gồm: vốn điều lệ, vốn huy động, vốn đi vay, vốn nhận uỷ thác, vốn khác
Kết quả hoạt động của ngân hàng phục vụ người nghèo
Sự ra đời của ngân h àng phục vụ người nghèo đáp ứng cấp thiết vấn đề giải quyết vốn cho người nghèo để thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo ở nước ta Do vậy nó tạo nên nhiều thuận lợi, được sự ủng hộ của các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội và cộng đồng người nghèo Sau gần 5 năm hoạt động Ngân hàng phục vụ người nghèo đã có những đóng góp quan trọng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội của đất nước Kết quả đó thể hiện
Biểu số 4: Nguồn vốn của ngân hàng phục vụ người nghèo đến ngày 31 /12 /2000
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Ch ỉ tiêu về nguồn vốn Số tiền huy động
Nguồn vốn điều lệ 700
Trang 6Nguồn vốn huy động trong cộng đồng dân cư thông qua các ngân hàng thương mại quốc doanh 2903
Nguồn vốn vay của ngân hàng nhà nước 900
Ngồn vốn nhận cho vay uỷ thác từ ngân sách các tỉnh 338
Nguồn vốn vay từ nước ngoài 139
Nguồn vốn huy động trong cộng đồng người nghèo 35
Tổng nguồn vốn 5015
Nguồn [11]
Qua bảng số 4 cho ta thấy, tính đến 31/12/2000, Ngân hàng phục vụ người nghèo đã huy động được tổng nguồn vốn là 5.015 tỷ đồng, so với nguồn vốn từ khi thành lập và chuyển giao từ quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo chuyển sang là 521 tỷ đồng thì nguồn vốn đã tăng lên 4494 tỷ đồng Nguồn vốn được tăng trưởng đều đặn qua các năm: năm 1996 tăng 37,8% so với nguồn vốn nhận bàn giao ban đầu, năm 1997 tăng 19,5% năm 1998 tăng 46,2% năm 1999 tăng 19,4%, năm 2000 tăng 22,8% với kết cấu nguồn chủ yếu là nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại quốc doanh 2903 tỷ đồng chiếm 57,8% tổng nguồn vốn
Vốn điều lệ là 700 tỷ đồng chiếm 14% tổng nguồn vốn
Đã được ngân hàng Nhà nước áp dụng cơ chế cho vay đặc biệt theo chỉ định từ Chính phủ 900 tỷ đồng chiếm 17,9% tổng nguồn vốn trong đó cho vay trung hạn (thời hạn 5 năm) số tiền 600 tỷ đồng và cho vay ngắn hạn số tiền 300 tỷ đồng
Được ngân sách các tỉnh trích nguồn vốn chuyển sang ngân hàng phục vụ người nghèo cho vay u ỷ thác 338 tỷ đồng, chiếm 6,7% tổng nguồn vốn
Trang 7Ngân hàng đã vay nước ngoài 6,1 triệu USD (tương đương với 88 tỷ VNĐ), là khoản vay trong hiệp định vay 10 triệu USD của tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) mà Ngân hàng phục vụ người nghèo đã ký hiệp định vay vốn phụ với Bộ tài chính từ tháng 8/1999; nhận vốn vay tháng 9/2000; vốn dịch vụ từ các tổ chức quốc tế để thực hiện một số dự án là 51 tỷ đồng, trong đó chủ yếu là dự án IFAD
Huy động nguồn vốn từ cộng đồng người nghèo là 35 tỷ đồng Số tiền này tuy nhỏ nhưng cũng đã tạo dựng được ý thức và thói quen tiết kiệm cho người nghèo
Với tổng nguồn vốn nêu trên, ngân hàng phục vụ người nghèo đã thực hiện cung cấp tín dụng tới phần lớn các hộ nghèo có nhu cầu vay vốn trên phạm vi toàn quốc Tính đến ngày 31/12/2000 đã có hơn 5 triệu lượt hộ nghèo nhận được vốn tín dụng từ ngân hàng phục vụ người nghèo với tổng số tiền là hơn 9.000 tỷ đồng Với số vốn vay, hộ nghèo đã đầu tư vào sản xuất kinh doanh, chủ yếu là đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, thâm canh tăng vụ, mở rộng ngành nghề, cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập để trả nợ ngân hàng với doanh số thu nợ đạt 4400 tỷ đồng và đã có gần 500 ngàn hộ nghèo đã thoát nghèo Như vậy cứ 6,6 hộ vay vốn của ngân hàng phục vụ người nghèo đã có một hộ thoát nghèo, qua số liệu báo cáo của từng chi nhánh cho thấy số hộ thoát nghèo ở miền núi cao hơn đồng bằng, cụ thể: ở miền núi cứ 6 hộ vay vốn có một hộ thoát nghèo và ở đồng bằng cứ 7,5 hộ vay vốn có một hộ thoát nghèo Tuy nhiên hiện nay vẫn còn 2,5 triệu hộ thuộc 208 ngàn tổ vay vốn còn dư nợ ngân hàng với số tiền
4704 tỷ đồng Dư nợ bình quân mỗi hộ 1,88 triệu đồng
Trang 8Trong doanh số cho vay trên ngân hàng đã thực hiện cung cấp tín dụng tới tất cả những hộ ngh èo ở vùng III, dư nự hộ nghèo ở khu vực III là 487 tỷ đồng với 280 ngàn hộ còn dư nợ, trong đó cho vay hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa theo Quyết định 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ là 324 tỷ đồng với 183 ngàn hộ dư nợ Nhiều hộ nghèo là người dân tộc thiếu số cũng đ ã được vay vốn, vốn dư nợ là 733 tỷ đồng, chủ yếu là người dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mường, Khơ Me, H'Mông
Dư nợ cho va y chủ yếu là các hộ nghèo ở vùng nông thôn, có đến 88% vốn vay đầu tư vào lĩnh vực trồng chọt, chăn nuôi; 2,4%
là nông nghiệp; 3,2% là ngành nghề thủ công và buôn bán nhỏ; nghề khác là 6,4%
Biểu số 5: Tốc độ tăng trưởng dư nợ theo vùng kinh tế tính đến ngày 31/12/2000
Đơn vị tính: %
Vùng 1997 so với 1996 1998 so với 1997 1999 so với 1998 2000 so với 1999 Bình quân 5 năm
Vùng Trung du miền núi phía Bắc 37 39 33 22 33,2
Trang 9Cả nước 27 37 26 21 27,7
Nguồn [11]
Qua biểu số 5 ta thấy tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân chung của toàn quốc 5 năm qua là 27,7% Như vậy có hai vùng tăng trưởng cao hơn bình quân trung của to àn quốc đó là: Vùng Đồng bằng Sông Hồng 38,5%, vùng Trung du miền núi phía Bắc 33,2%, trong đó vùng miền núi Trung du phía Bắc là vùng mặc dù có số hộ ngh èo ở vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 40% số hộ thuộc khu vực III của toàn quốc) nhưng có tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân 5 năm đứng thứ hai toàn quốc Vùng có tốc độ tăng trưởng dư nợ thấp nhất là Tây Nguyên 13,7% Điển hình một số chi nhánh có dư nợ lớn như Thanh Hoá 237 tỷ, Nghệ An 172 tỷ, Hà Tây 138 tỷ, Nam Định 130 tỷ, Bắc Giang 129 tỷ, Thừa Thiên Hu ế 122 tỷ, Phú Thọ 120 tỷ, Hà Tĩnh 111 tỷ Một số chi nhánh có d ư nợ thấp là Bình Dương 21 tỷ, TP Hồ Chí Minh 23 tỷ, Vĩnh Long 36 tỷ, Bình Định 38 tỷ, Cần Thơ 40 tỷ
Đến 31/12/2000 dư nợ bình quân/hộ toàn quốc là 1,88 triệu đồng Có bốn vùng dư nợ bình quân/ hộ lớn hơn dư nợ bình quân / hộ toàn quốc là Vùng Đồng bằng Nam Bộ 2,28 Triệu/hộ, Vùng duyên hải Miền Trung 2,09 triệu/hộ, Vùng Tây Nguyên 2,02 triệu/hộ, Vùng Trung du miền núi phía Bắc 1,99 triệu/hộ và các vùng còn lại dư nợ bình quân /hộ thấp, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long 1,72 triệu/ hộ, vùng khu IV cũ 1,72 triệu/hộ, vùng Đồng bằng Sông Hồng 1,76 triệu/ hộ Chi nhánh có d ư nợ bình quân /hộ lớn: Bình Phước 2,99 triệu/hộ, TP Hồ Chí Minh 2,48 Triệu /hộ, Yên Bái 2,47 triệu /hộ Chi nhánh có dư nợ bình quân/hộ thấp là Sóc Trăng 1,31 triệu/hộ, Tuyên Quang 1,48 triệu/hộ, Thái Bình 1,51 triệu/ hộ
Trang 10Nhìn nhận lại kết quả của chương tình tín dụng xoá đói giảm nghèo từ Ngân hàng phục vụ người nghèo, cơ thể đánh giá khái quát những mặt tích cực:
Một là: Ngân hàng phục vụ người nghèo được tổ chức và hoạt động theo Quyết định 525/TTg của Thủ tướng Chính phủ thực thi một thể chế chính sách được nông dân đồng tình hưởng ứng, thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng, Chính phủ Đây là giải pháp rất cụ thể, góp phần ổn định kinh tế xã hội, thực hiện mục tiêu xã hội công bằng văn minh
Trong điều kiện hiện nay mô hình được tổ chức và thiết lập bằng việc sử dụng hệ thống mạng lưới của các ngân hàng thương mại quốc doanh làm dịch vụ huy động vốn và cho vay đ ã tiết kiệm được chi phí xã hôị, tận dụng được nhân lực, công nghệ, tập trung được vốn, kỹ thuật chuyển trực tiếp đến hộ nghèo người nghèo (không phải chi phí tuyển nhân lực, không tăng thêm các chi phí mua sắm, xây dựng cơ sở vật chất ) Do đó triển khai được nhanh trên phạm vi toàn quốc về hoạt động của Ngân hàng phục
vụ người nghèo, có cơ chế quản lý, hạch toán theo hệ thống riêng, thống nhất, phân định rõ nguồn vốn, sử dụng vốn của Ngân hàng phục vụ người nghèo
Cũng với mô hình đặc thù có Hội đồng quản trị và ban đại diện hội đồng quản trị các cấp đã tập hợp được sức mạnh tổng hợp của các ngành các cấp, các đoàn thể chính trị xã hội và đông đảo cộng đồng dân cư từ mọi miền đất nước góp tiền, góp sức phát huy tinh thần tương thân, tương ái của dân tộc Việt Nam Được Đảng bộ và chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo, nhiều tỉnh thành phố đã huy động được nguồn tiết kiệm chi ngân sách để hình thành quỹ xoá đói giảm nghèo chuyển sang Ngân hàng phục vụ người nghèo cho vay Đặc biệt những tỉnh đã huy động được nguồn vốn địa phương lớn như Nghệ An là 18,5 tỷ đồng, Hà Tây 17,1 tỷ đồng, Đắc Lác 14,8 tỷ đồng, Khánh Hoà 13,7 tỷ đồng, Lạng Sơn 9,9 tỷ đồng, Lâm Đồng 8,5 tỷ đồng
Trang 11Hai là: Chủ động ngân sách Nhà nước hỗ trợ vốn thông qua bù chênh lệch lãi suất huy động vốn và sử dụng phương pháp tín dụng ngân hàng để hỗ trợ vốn cho người nghèo (thay vì nguồn vốn cấp từ ngân sách có hạn bằng phương pháp huy động vốn trong dân cư, phần chênh lệch lãi suất cho vay được ngân sách cấp bù) đã tạo ra khối lượng vốn lớn hơn nhiều lần so với cách đầu tư trực tiếp từ ngân sách trước đây
Ba là: Hình thành một cơ chế tín dụng riêng biệt tương đối phù hợp với người nghèo Cơ chế cho vay được nới lỏng, đơn giản hoá thủ tục cho vay, người vay không phải đ ến trụ sở ngân hàng mà chỉ phải nộp đơn vay vốn thông qua tổ vay vốn và giao dịch vay trả ngay tại trụ sở xã Người vay không phải thế chấp tài sản mà thay vào đó là sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng dân cư,
sự phối hợp giữa các tổ chức đoàn thể trong việc lồng ghép các chương trình XĐGN ở địa phương nhằm giúp cho việc sử dụng vốn đạt hiệu quả cao hơn Với cơ chế tín dụng như hiện nay, Ngân hàng phục vụ người nghèo đã thực hiện chủ trương xã hội hoá hoạt động tín dụng đối với người nghèo, hộ nghèo thông qua việc bình xét các đối tượng được vay vốn của các tổ chức cộng đồng xã hội, mở rộng tính công khai dân chủ và tính nhân dân sâu sắc
Các chính sách và cơ chế tín dụng xoá đói giảm nghèo đã được thay đổi phù hợp với các quy định cuả ngành và sự phát triển chung trong từng thời kỳ:
Về lãi suất cho vay: 5 năm qua đã có 5 lần thay đổi theo hướng hạ lãi suất cho vay đối với người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo từ mức lai suất 1,2%/tháng hạ xuống 1%/tháng, 0,8%/tháng và hiện nay đang áp dụng là 0,7%/tháng riêng đối với hộ nghèo vùng III được vay lãi suất 0,6%/tháng và đều thấp hơn lãi suất cho vay hiện hành của các ngân hàng thương mại và hợp tác xã tín dụng
Trang 12Ngoài lãi suất cho vay, người nghèo, hộ nghèo không phải trả một khoản phí nào cho ngân hàng hoặc các tổ chức chính trị xã hội khác
Về quy hoạch mức cho vay tối đa: khi mới thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo, mức cho vay không qua 2,5 triệu đồng/ hộ Hiện nay điều chỉnh nâng lên tối đa không qua 3 triệu đồng/hộ Riêng đối với những hộ nghèo đầu tư cho chăn nuôi gia súc, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, mua sắm công cụ nuôi trồng đánh bắt thuỷ hải sản, kinh doanh ngành nghề được vay vốn tối
đa đến 5 triệu đồng/hộ, phù hợp với tăng trưởng nguồn vốn của Ngân hàng phục vụ người nghèo và quy mô sử dụng vốn đối với
hộ nghèo
Về thời hạn cho vay: khi mới thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo, thời hạn cho vay trung hạn tối đa 36 tháng và hiện nay thời hạn tối đa 60 tháng Ngoài ra Ngân hàng phục vụ người nghèo còn áp dụng các hình thức cho vay lưu vụ, gia hạn nợ, cho vay lại cho đ ến khi hộ nghèo thoát khỏi ngưỡng nghèo, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo hộ nghèo sử dụng vốn tín dụng đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Bốn là: Đã thiết lập kênh vốn tín dụng riêng để hỗ trợ vốn tín dụng cho người nghèo, thực hiện chính sách tín dụng hợp lý, tạo điều kiện cho hộ nghèo có vốn sản xuất, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, từng bước làm quen với nền sản xuất hàng hoá Vốn của Nhà nước đã thực sự đến tay người nghèo, người nghèo vay vốn trả nợ khá sòng phẳng
Tuy đã có sự đổi mới và đạt kết quả cao hơn các phương thức tín dụng trước đó song vẫn còn bọc lộ một số tồn tại đó là:
- Về cơ chế tạo lập nguồn vốn: có thể nói đây là kênh tín dụng của Nhà nước, thực hiện cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo, là những khoan cho vay được chỉ định trước về người sử dụng vốn Vì vậy nguồn vốn của Ngân hàng phục vụ người nghèo cần phải
Trang 13có nguồn gốc từ ngân sách Nh à nước Nhưng hiện nay, nguồn cấp từ ngân sách Nhà nước rất hạn chế và không được kế hoạch hoá một cách ổn định Theo Quyết định 525/TTg ngày 31/8/1995 của Thủ tướng Chính phủ hàng năm ngân hàng người nghèo được cấp bổ sung vốn điều lệ nhưng thực tế 5 năm qua Ngân hàng phục vụ người nghèo chỉ được cấp bổ sung vốn điều lệ 200 tỷ đồng vào năm 1998
Khó khăn lớn nhất hiện nay là cơ chế tạo lập nguồn vốn chưa có chính sách thoả đáng để xác định nguồn vốn hoạt động Cần phải khẳng định rằng nguồn vốn để thực hiện chính sách tín dụng đối với hộ nghèo phải được ngân sách Nhà nước cấp bù Việc duy trì và tăng trưởng nguồn vốn này phụ thuộc vào khối lượng vốn cấp bù của ngân sách Nhà nước Hơn nữa việc tổ chức huy động vốn của Ngân hàng phục vụ người nghèo phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng huy động vốn, khả năng nguồn vốn và quan điểm xử lý cho vay của các ngân hàng thương mại Do vậy Ngân hàng phục vụ người nghèo dễ dàng gặp khó khăn về nguồn vốn
và dễ có thể bị quá hạn những khoản nợ vay khi các ngân hàng thương mại đòi nợ Với cơ chế này Ngân hàng phục vụ người nghèo luôn phải đối phó với các khoản nợ
- Về mô hình tổ chức: Mô hình tổ chức của Ngân hàng phục vụ người nghèo hiện nay là mô hình kiêm nhiệm Thành viên Hội đồng quản trị và ban đại diện hội đồng quản trị Ngân hàng phục vụ người nghèo các cấp, tổ chuyên gia tư vấn là cơ quan chức năng trong bộ máy quản lý Nhà nước làm việc theo chế độ kiêm nhiệm nên hạn chế về thời gian và điều kiện để thực thi nhiệm
vụ
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam được giao nhiệm vụ điều hành tác nghiệp cho Ngân hàng phục vụ người nghèo nhưng do đặc thù mô hình tổ chức của Ngân hàng phục vụ người nghèo được thành lập theo hệ thống dọc từ Trung
Trang 14ương đếnđịa phương, với phần lớn đội ngũ cán bộ làm kiêm nhiệm nên tính pháp lý, trách nhiệm không rõ ràng, sự quan tâm chỉ đạo của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn ở một số nơi có những lúc chưa được chú trọng
- Đối tượng phục vụ của Ngân hàng phục vụ người nghèo: nguyên tắc đặt ra là Ngân hàng phục vụ người nghèo cho hộ nghèo vay vốn theo chuẩn mực phân loại hộ đói nghèo do Bộ lao động thương binh và xã hội công bố từng thời kỳ nhưng phải là hộ nghèo
có sức lao động, có điều kiện tổ chức sản xuất kinh doanh nhưng thiếu vốn sản xuất và có khả năng hoàn trả vốn
Trên thực tế việc lập danh sách hộ nghèo vay vốn ở địa phương do cộng đồng dân cư thực hiện và được Ban XĐGN xã bình xét Việc làm này phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phuơng nên mang tính tương đối và có sự khác nhau về chuẩn mực đói nghèo giữa các địa phương Mặt khác những hộ nghèo theo tiêu chí phân loại hiện nay nhiều hộ nghèo chưa có điều kiện tiếp cận với hệ thống tín dụng của Nhà nước vì họ chưa có khả năng tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, chưa quen với việc hạch toán
lỗ lãi để tạo thu nhập trả nợ ngân hàng Nhưng cũng lại còn một bộ phận người dân có thu nhập thấp (trên ngưỡng ngh èo theo quy định) mà chưa có điều kiện tiếp cận với tín dụng thương mại và cần được hỗ trợ từ kênh tín dụng ưu đãi này Từ thực tế đó nhiều địa phương đã cho vay những hộ gia đình có thu nhập cao hơn chuẩn mực của Bộ lao động thương binh và xã hội Do vậy hiện nay nhiều tỉnh, thành phố có số hộ chủ nợ Ngân hàng phục vụ người nghèo cao hơn số hộ nghèo đói thực tế của cả nuớc Trong khi đó nhiều người nghèo, hộ nghèo nằm trong diện nghèo đói theo chuẩn mực của Bộ lao động thương binh và xã hội vẫn chưa được vay vốn vì không đủ điều kiện vay
- Về lãi suất cho vay: Hiện nay trên thị trường nông thôn, đang có nhiều nguồn vốn tín dụng phục vụ chương trình XĐGN với nhiều mức lãi suất cho vay khác nhau nhưng lãi suất cho vay của ngân hàng phục vụ người nghèo lại cao hơn lãi suất cho vay của
Trang 15các nguồn vốn khác Từ đó gây ra hiện tượng so bì tỵ nạnh trong nhân dân, nhiều địa phương kiến nghị giảm lãi suất cho vay đối với người nghèo xuống ngang mức lãi suất của chương trình dự án khác (như 120,327) Đặc biệt một số nơi đã dùng ngân sách địa phương để bù lãi suất cho người nghèo khi vay vốn của ngân hàng phục vụ người nghèo, tạo ra lãi suất cho vay đối với người nghèo thấp hơn lãi suất qui định hoặc cho vay không lãi, đã gây ra một số hạn chế làm cho người vay ỷ lại sẽ dẫn đ ến lơ là và thiếu trách nhiệm trong việc trả nợ gốc và lãi hoặc là nếu đến thời điểm ngân sách khó khăn ngừng việc chi cấp bù sẽ dẫn gặp phải việc người vay không có thói quen trả nợ Đồng thời cũng từ việc bù lãi suất nêu trên để cho vay theo đối tượng chỉ định, cho vay đồng loạt, thậm chí cho vay ở những vùng, những đối tượng quá khó khăn chưa có khả năng sử dụng vốn tín dụng dẫn đến chất lượng tín dụng yếu kém Ngoài ra cũng phải xét tới một khía cạnh chủ quan từ phía cán bộ ngân hàng là việc tính toán
bù một khoản tiền lãi ngay tại ngân sách tỉnh phần nào tạo cho cán bộ ngân hàng ít quan tâm tới việc kiểm tra, kiểm soát người vay sử dụng vốn và đôn đốc người vay trả nợ
- Việc giải ngân vốn cho vay đối với người nghèo còn chậm Nhiều địa phương vẫn còn tình trạng "vốn treo người nghèo nhịn đói" Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên có nhiều, ngoại trừ yếu tố mô hình tổ chức triển khai chậm thì nói lên một số điểm đó là:
+ Phân bổ nguồn vốn còn mang tính bình quân, không khảo sát theo nhu cầu vốn thực tế nên nơi thừa đọng vốn trong khi nơi khác lại thiếu
+ Ngân hàng phục vụ người nghèo không thực hiện được trích lập rủi ro theo Quyết định số 48/1999/QĐ-NHNN5, ngày 8/2/1999 của thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc cấp tín dụng mang tính đặc thù của khu vực này Bởi vậy ngân
Trang 16hàng phục vụ người nghèo trực tiếp cho vay đối với người nghèo nẩy sinh tư tưởng xét cho vay cầm chừng, sợ rủi ro phải chịu trách nhiệm
2.2.3 Một số hình thức tín dụng cho người nghèo không chính thức ngoài kênh tín dụng ngân hàng
Ngoài kênh tín dụng ngân hàng (tín dụng quốc doanh, tín dụng cổ phần ) còn nhiều tổ chức, hiệp hội, đoàn thể và cá nhân thực hiện truyền tải vốn cho người nghèo Song mức độ quy mô đáng kể là các quỹ sau đây
2.2.3.1 Quỹ hỗ trợ nông dân của hội nông dân Việt Nam
Qu ỹ hỗ trợ nông dân được Nhà nước cho phép th ành lập theo văn bản số 4035/KTTH ngày 26/7/1995 của Thủ tướng Chính phủ và đi vào hoạt động từ năm 1996 Về tổ chức, quỹ hỗ trợ nông thôn thuộc Hội nông dân Việt Nam và có quy mô từ trung ương đến tận cơ sở: Tổ hội, chi hội theo xóm, thôn, xã hoặc tổ hội, chi hội nghề nghiệp
Qu ỹ hỗ trợ nông dân không phải là tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà là tổ chức dịch vụ hỗ trợ nông dân do Hội nông dân các cấp tổ chức Chi hội và tổ hội nông dân là đơn vị hỗ trợ vốn, là nơi trao đổi kinh nghiệm sản xuất, chuyển giao kỹ thuật thông tin, giúp đỡ nông dân tiệu thụ sản phẩm, là nơi giải ngân đồng thời là đơn vị thu hồi vốn Hệ thống tổ chức hội các cấp đảm bảo nhận vận hành quỹ, có bộ phận chuyên trách từng cấp Thực chất quĩ hộ trợ nông dân là một dịch vụ tài chính vi mô của tổ chức phi Chính phủ trong nước đó là Hội nông dân các cấp
Nguồn vốn huy động của quỹ hỗ trợ nông dân bao gồm sự ủng hộ, cho mượn và cho vay với lãi suất thấp của nông dân, các doanh nghiệp và đồng bào cả nước, việt kiều và các tổ chức quốc tế Ngoài ra quỹ còn được sự hỗ trợ của Nhà nước theo phương châm "nhà nước và nhân dân cùng làm" Mục tiêu của quỹ hỗ trợ nông dân là hỗ trợ vốn cho nông dân, trước hết là nông dân
Trang 17nghèo Tổ chức hoạt động của quỹ gắn bó với các hoạt động khác như: chương trình kế hoạch hoá gia đình, chống tệ nạn xã hội, chống mù chữ, phong trào nông dân sản xuất giỏi, xây dựng nông thôn mới Lãi suất cho vay của quỹ bao gồm: Lãi suất thấp, không lãi suất và lãi suất thị trường tuỳ thuộc nguồn vốn huy động và đối tượng cho vay
Qua gần 5 năm hoạt động tổng số quỹ hỗ trợ nông dân là 114,25 tỷ đồng, đã hỗ trợ cho 78.956 hộ nghèo và đưa tổng số lượt hộ vay vốn lên 196.803 hộ Đến nay đã có 459 huyện, thị và 4065 xã, phường xây dựng quỹ hỗ trợ
Ngoài ra các cấp hội vận động cán bộ, hội viên giúp đỡ nhau khắc phục hậu quả thiên tai, lũ lụt, hạn hán, tai nạn rủi ro, đói giáp hạt, xây dựng nhà tình thương, nhà tình nghĩa, gia đình thương binh liệt sỹ, bà mẹ Việt Nam anh hùng Với số tiền 46.036 triệu đồng, 4.103.951 kg gạo, 54 tấn thóc giống, 42.000 gói m ì tôm, 10.584 bộ quần áo, 42.895 triệu đồng vật tư phân bón, giúp 335.757 hộ khó khăn và đồng bào miền Trung bị lũ lụt Làm 1090 nhà tình thương và 3022 nhà tình nghĩa Mua 7.957 sổ tiết kiệm tình nghĩa trị giá 8.682 triệu đồng giúp gia đình thương binh liệt sỹ, mẹ Việt Nam anh hùng, trẻ em nhiễm chất độc mầu da cam
Tổ chức 1443 lớp tập huấn dân số kế hoạch hoá gia đình cho 83.086 cán bộ hội viên, tiến hành 23.367 buổi truyền thông cho 1.522.356 lượt hội viên nông dân Kết quả đã có 3.251.636 hộ đăng ký xây d ựng gia đình đạt 6 tiêu chuẩn, qua bình xét đã có 2.133.701 hộ đạt 6 tiêu chuẩn, 791.913 hộ không sinh con thứ 3 và 7973 người đình sản Mở 1340 lớp phòng chống HIV/AIDS
có 112.528 hội viên, nông dân tham gia học tập; 712 lớp học phòng chống ma tuý cho 48.766 người, 350 lớp bồi dưỡng cho 13.805 hội viên nâng cao kiến thức về giới
Tuy nhiên qua nghiên cứu mô hình tổ chức tín dụng không chính thức này tôi thấy nổi bật mấy vấn đề cần quan tâm là:
Trang 18Thứ nhất: Cần xác định quỹ hỗ trợ nông dân là một tổ chức dịch vụ tài chính vi mô trong hệ thống tài chính vi mô trên thị trường tài chính nông thôn Việt Nam hiện nay Sự hiện diện của nó vừa đáp ứng thêm vốn cho nông dân vừa thuận tiện, tiết kiệm chi phí tiếp cận cho cả người cho vay và người đi vay Mặt khác với lợi thế của mình, quỹ hỗ trợ nông dân phát huy được khả năng huy động vốn trực tiếp của nông dân để vay trực tiếp đến tay nông dân
Thứ hai: Với vị thế của mình, quỹ hỗ trợ nông dân có khả năng thu hút được nhiều nguồn tài trợ trong và ngoài nước cho nông nghiệp nông thôn và nông dân Thông qua tài trợ trực tiếp cho quỹ hoặc thông qua các dự án tài chính vi mô đối với nông thôn
Thứ ba: Do không đủ yếu tố pháp lý nên thể chế tài này b ị hạn chế trong đ ảm bảo các khoản vốn huy động cho vay, cũng như xử lý rủi ro Mặt khác khả năng hoạt động của quỹ hỗ trợ nông dân cũng bị giới hạn bởi sự yếu kém về mặt tổ chức nghiệp
vụ
Thứ tư: Sự ra đời của quỹ hỗ trợ nông dân tất yếu là tác nhân làm gia tăng sự lộn xộn trên thị trường tín dụng nông thôn nói chung và thị trường vốn cho nông dân nghèo nói riêng Do lãi suất không phù hợp với lãi suất cho vay của các nguồn vốn khác đối với nông dân nghèo đã dẫn đến sự suy bì trong cộng đồng người nghèo Mặt khác đối tượng cho vay không thống nhất
đã phát sinh cho vay chồng chéo, người vay được, nhiều người không được vay
2.2.3.2 Các quỹ tương trợ của hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Các quỹ tương trợ của hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam thực hiện chương trình khai thác và quản lý các nguồn vốn: vốn dự
án quốc tế, vốn vay ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn và ngân hàng phục vụ người nghèo thông qua hình thức tín