1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hạn chế khủng hoảng tài chính theo yêu cầu tăng số lượng dự trự kho vận tại các ngân hàng thương mại - 2 pps

32 210 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hạn chế khủng hoảng tài chính theo yêu cầu tăng số lượng dự trữ kho vận tại các ngân hàng thương mại - 2 pps
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Ngân hàng và Tài chính
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 217,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng do nhu cầu đổi mới kinh tế cùng với sự chuyển đổi chung của hệ thống Ngân hàng Việt Nam năm 1988 từ hệ thống Ngân hàng một cấp sang hệ thống Ngân hàng hai cấp, chi nhánh Ngân hàng

Trang 1

một quá trình lâu dài Người gửi tiền khi gửi thường lựa chọn những ngân hàng lâu đời chứ không phải là những ngân hàng mới thành lập Ngân hàng lớn thường được

ưu tiên lựa chọn so với các ngân hàng nhỏ Hình thức bảo hiểm tiền gửi làm tăng

độ an toàn, tăng uy tín của ngân hàng Một điều quan trọng ở nước ta là hình thức

sở hữu cũng có ảnh hưởng quan trọng tới huy động vốn Các ngân hàng quốc doanh bao giờ cũng có độ an toàn cao hơn cho người gửi tiền, uy tín của các ngân hàng thương mại quốc doanh cao hơn so với các ngân hàng khác Những ngân hàng có

uy tín luôn chiếm được lòng tin của khách hàng là tiền đề cho việc họ huy động được những nguồn vốn lớn hơn với chi phí rẻ hơn và tiết kiệm được thời gian 1.4.2.4 Trình độ công nghệ ngân hàng

Có thể nói công nghệ ngân hàng hiện đại khác xa so với trước đây Việc áp dụng máy tính là một cuộc cách mạng trong hoạt động của ngân hàng Nhờ có hệ thống tin học hiện đại, ngân hàng có thể thu thập thông tin về khách hàng, về thị trường tốt Từ đó, có thể hoạch định ra các hình thức huy động, thời gian huy động, hình thức trả lãi Mặt khác, nhờ hệ thống thông tin tốt khiến cho ngân hàng có thể nâng cao hiệu quả huy động vốn

Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng trở nên phổ biến, đó là một xu thế tất yếu Việc thanh toán không dùng tiền mặt sẽ khiến cho các ngân hàng ngày càng gắn liền với các hoạt động xã hội Ngoài ra mạng lưới phục vụ cho việc huy động vốn cũng tác động tới việc huy động vốn của ngân hàng Mạng lưới huy động rộng rẫi, tạo điều kiện cho người gửi tiền Mạng lưới hẹp thì sẽ gây khó khăn cho khách hàng có tiền nhàn rỗi gửi vào ngân hàng, chi phí giao dịch lớn, mất nhiều thời gian

Trang 2

Nhìn chung có rất nhiều những yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn của ngân hàng Các yếu tố này tác động đến mọi hoạt động, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng Mỗi ngân hàng khi hoạt động đều cần phải tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu Những yếu tố tác động này có tính hai mặt: có thể có tác động tích cực đồng thời có thể tác động tiêu cực tới ngân hàng Ngân hàng nào xác định đúng, chính xác các yếu tố tác động sẽ huy động được vốn lớn với chi phí rẻ, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động

chương II: Thực trạng tăng cường vốn dự trữ an toàn tại Hệ thống Ngân Hàng Thương mại

2.1 khái quát sự hình thành và phát triển Hệ thống Ngân Hàng Thương mại Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm là một chi nhánh của Ngân hàng Công thương Việt Nam, có trụ sở tại số 37 Hàng Bồ quận Hoàn Kiếm - Hà Nội Đây là khu vực nằm ở trung tâm thủ đô Hà Nội, là trung tâm kinh tế - Văn hoá - Chính trị của thủ

đô, là mơi giao lưu buôn bán nhộn nhịp nhất thành phố Mặt khác, đây còn là nơi tập trung của rất nhiều vằn phòng đại diện của các Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam Trước đây Ngân hàng là một chi nhánh của Ngân hàng Nhà nước với nhiệm

vụ chính là bảo đảm nhu cầu về vốn cho các đơn vị ngoài quốc doanh và tập thể trên địa bàn quận Nhưng do nhu cầu đổi mới kinh tế cùng với sự chuyển đổi chung của hệ thống Ngân hàng Việt Nam (năm 1988) từ hệ thống Ngân hàng một cấp sang hệ thống Ngân hàng hai cấp, chi nhánh Ngân hàng quận Hoàn Kiếm cũng được thay đổi cả về chức năng và nhiệm vụ và trở thành Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm là một chi nhánh của NHCT Việt Nam với chức năng hoạt động chính

là kinh doanh tiền tệ và thực hiện các dịch vụ Ngân hàng Và từ đó đến nay Ngân hàng đã thực sự đi vào hoạt động kinh doanh trên cơ sở tự hạch toán kinh doanh

Trang 3

Trải qua quá trình 15 năm hoạt động cho đến nay Ngân hàng đã hoàn toàn hoà nhập được với hoạt động chung của cả hệ thống Ngân hàng trong cơ chế thị trường Không những chỉ đứng vững trong cạnh tranh mà còn không ngừng mở rộng và phát triển với hiệu quả ngày càng cao Hiện nay ngân hàng có cơ cấu, tổ chức như sau:

NHCT Hoàn Kiếm có 227 cán bộ trên tổng số hơn 1,2 vạn cán bộ của toàn bộ

hệ thống NHCT Trong đó có 40,8% có trình độ đại học và trên đại học, còn lại đều

đã được đào tạo qua hệ cao đẳng, trung học chuyên ngành ngân hàng NHCT Hoàn Kiếm có 9 phòng, hoạt động theo chức năng riêng đã được phân công theo sự chỉ đạo điều hành của Ban giám đốc gồm:

Giám đốc: Nguyễn Hữu Thuỷ: phụ trách về lao động – tiền lương, phòng kinh doanh đối ngoại, phòng kiểm tra nội bộ

Phó giám đốc: Phạm Thị Mai: phụ trách phòng kinh doanh kiêm chủ tịch công đoàn của chi nhánh

Phó giám đốc: Lê Tuyết Mai: phụ trách phòng kế toán – tài chính, phòng giao dịch Đồng Xuân, phòng vi tính

Phó giám đốc: Nguyễn Thị Huy: phụ trách phòng Nguồn vốn, phòng ngân quỹ, phòng tổ chức – hành chính

Phòng kinh doanh: Đây là phòng kinh doanh tổng hợp, thực hiện các nghiệp

vụ cho vay đối với các khách hàng là các tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, dưới hình thức là các khoản vay ngắn, trung và dài hạn, cho vay uỷ thác, cho vay theo dự án Đồng thời cũng thực hiện chức năng giám sát và quản lý việc

sử dụng vốn

Trang 4

Phòng kinh doanh đối ngoại: thực hiện 2 chức năng chính là thanh toán quốc

tế (thanh toán xuất nhập khẩu bằng các phương thức mở tài khoản, nhờ thu và L/C)

và kinh doanh ngoại tệ (thanh toán, chuyển tiền cho các khách hàng, chủ yếu là mua bán ngoại tệ để phục vụ cho các doanh nghiệp XNK), hạch toán kế toán các nghiệp vụ ngoại tệ, làm đầu mối thanh toán séc du lịch, thẻ tín dụng quốc tế, thu chi tiền mặt ngoại tệ cho các đơn vị, thực hiên việc giải ngân cho một số dự án do NHCTVN chỉ định

Phòng giao dịch Đồng Xuân: do trên địa bàn quận Hoàn Kiếm có khu chợ Đồng Xuân nên NHCTHK đã tổ chức ra một phòng riêng để phục vụ cho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Phòng này hoạt động như một chi nhánh ngân hàng, tự hạch toán thu chi độc lập và có lãi Hiện nay phòng giao dịch Đồng Xuân đang có kế hoạch mở rộng thành một chi nhánh NHCT gần tương tụ như chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm

Phòng nguồn vốn: cân đối tổng hợp: làm nhiệm vụ xây dựng kế hoạch cân đối và tổng hợp về nguồn vốn và sử dụng vốn; huy động mọi nguồn vốn tiết kiệm

từ các tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phân kinh tế; thực hiện chế độ thông tin, lập kế hoạch tài chính, tổng hợp, phân tích, báo cáo về mọi tình hình hoạt động kinh doanh của NHCTHK theo yêu cầu của Giám đốc NHCT Việt Nam Hiện nay chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm có tất cả 11 quỹ tiết kiệm Mỗi quỹ tiết kiệm đều có 1

bộ máy gồm: Trưởng quỹ, thủ quỹ và kế toán

Phòng kế toán-tài chính: thực hiện hạch toán kế toán các nghiệp vụ thanh toán bằng VND, lên cân đối tổng hợp Phòng có 5 tổ công tác chịu trách nhiệm về các chức năng riêng biệt: Tổ kế toán nội bộ, Tổ thanh toán viên, Tổ thanh toán liên ngân hàng, Tổ thanh toán bù trừ và Tổ tiết kiệm

Trang 5

Phòng ngân quỹ: quản lý tồn quỹ, thực hiện thu chi theo lệnh về tiền mặt VND và ngoại tệ, bảo quản và phân phối các chứng từ có giá

Phòng kiểm tra nội bộ: thực hiện kiểm soát nội bộ là nhiệm trọng tâm của phòng, ngoài ra còn thanh tra các vụ việc có liên quan, các thao tác nghiệp vụ nhằm ngăn chặn các rủi ro xảy ra từ chính các cán bộ ngân hàng

Phòng vi tính: quản lý và xử lý các dữ liệu kế toán, kết nối mạng nội bộ, ngoài

ra còn thực hiện việc bảo dưỡng, lắp đặt các máy tính phục vụ cho việc tổng hợp, cân đối, sao kê cho mạng máy tính phòng kế toán

Phòng tổ chức-hành chính: thực hiện các công việc về hành chính quản trị như các doanh nghiệp khác, bảo đảm cơ sở vật chất cho hoạt động kinh doanh của các phòng ban; quản lý, sắp xếp và điều chuyển nhân sự, bảo đảm tiền lương cho cán

bộ nhân viên, tham mưu cho lãnh đạo về xét tuyển và đề bạt cán bộ

Các phòng trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, phối hợp với nhau để thực hiện tốt các hoạt động của ngân hàng Cơ cấu tổ chức của các phòng ban ngày càng được cải tiến để ngày càng phục vụ tốt hơn cho nhiệm vụ của một ngân hàng đa năng, hiện đại và ngày càng có nhiều sản phẩm mới, đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng trong cơ chế thị trường

2.2 Thực trạng tăng cường vốn dự trữ an toàn tại Hệ thống Ngân Hàng Thương mại

Tất cả các Ngân hàng thương mại để đi vào hoạt động phải cần huy động vốn Hoạt động huy động vốn (nghiệp vụ tài sản nợ) trong mỗi Ngân hàng không nằm riêng lẻ

mà cùng với các nghiệp vụ tài sản có và các dịch vụ khác hình thành nên định hướng hoạt động chung của Ngân hàng Huy động vốn là cơ sở, tạo cho Ngân hàng

có nguồn vốn kinh doanh để thu được lợi nhuận

Trang 6

Nhận thức được vấn đề đó, NHCT Hoàn Kiếm đã coi việc huy dộng vốn là nhiệm

vụ quan trọng hàng đầu Toàn thể cán bộ công nhân viên của Ngân hàng đã có những cố gắng vượt bậc để thực hiện mục tiêu trên Trong những năm qua, nguồn vốn mà NHCT Hoàn Kiếm huy động được luôn ổn định năm sau cao hơn năm trước Nguồn vốn huy động được dồi dào không những đáp ứng được nhu cầu ở chi nhánh mà còn đựơc điều chuyển về hội sở chính, góp phần điều hoà vốn chung trong toàn hệ thống Đội ngũ nhân viên ngân hàng với trình độ chuyên môn cao, phương pháp làm việc hiện đại, khoa học đã góp phần làm giảm chi phí huy động

So với các chi nhánh khác, chi phí huy động của Ngân hàng gần như là thấp nhất Đồng thời huy động được vốn nhiều nhưng nguồn vốn huy động của chi nhánh vẫn được đánh giá là có độ an toàn cao Đây là kết quả của việc đa dạng hoá các hình thức huy động, linh hoạt về lãi suất, hình thức trả lãi, nâng cao chất lượng các dịch

vụ Ngân hàng Ngân hàng luôn tích cực tìm kiếm nguồn vốn có chất lượng để phục

vụ cho mục đích kinh doanh của mình

2.2.1.Tình hình huy động vốn tại NHCT Hoàn Kiếm Trong những năm qua hoạt động huy động vốn của NHCT Hoàn kiếm đã đạt được những thành tích xuất sắc Nguồn vốn của ngân hàng luôn dồi dào, năm nào cũng hoàn thành vượt mức kế hoạch đặt ra Ta có thể thấy qua bảng sau:

Bảng2.1.khối lượng vốn huy động theo kế hoạch(đơn vị: triệu đồng) Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002

Nguồn vốn huy động theo kế hoạch 1.753.712 2.803.075 4.500.000 Nguồn vốn thực tế huy động được 2.335.896 4.297.992 5.060.689

Mức chênh lệch tuyệt đối + 582.184 +1.494.917 + 560.689 Mức chênh lệch tương đối 33,19% 51,86% 12,45%

Trang 7

Nguồn số liệu: phòng Kế toán NHCT Hoàn Kiếm Năm 2000 Ngân hàng đặt ra chỉ tiêu huy động vốn tăng 15% so với năm 1999 (1.753.712 triệu đồng) Nhưng trên thực tế chi nhánh đã huy động được 2.335.896 triệu đồng vượt 33,19% kế hoạch đặt ra Trong năm Ngân hàng đã bước đầu áp dụng phương thức giao dịch tức thời trên máy vi tính tại một số quỹ, đội ngũ nhân viên với phong cách phục vụ văn minh, lịch sự, đúng quy trình, tận tình, chu đáo đãchiếm được lòng tin của số lượng khách hàng ngày càng tăng Đây là cơ sở giúp cho Ngân hàng có số dư tiền gửi tăng mặc dù lãi suất huy động của Ngân hàng thường thấp hơn các Ngân hàng khác trên cùng địa bàn Năm 2001 Ngân hàng đặt

ra chỉ tiêu huy động vốn tăng 20% so với năm 2000 tức khoảng 2.803.075 triệu đồng Trong năm Ngân hàng đã huy động được 4.297.992 triệu đồng, vượt 51,86%

kế hoạch đặt ra Năm 2002 Ngân hàng đặt ra chỉ tiêu huy động tổng nguồn vốn là 4.500.000 triệu đồng Trong năm Ngân hàng đã huy động được 5.060.689 triệu đồng, vượt 12,45% kế hoạch đặt ra

Qua bảng trên ta thấy nguồn vốn huy động của Ngân hàng năm nào cũng cao hơn

so với kế hoạch đặt ra Năm 2001 nguồn vốn huy động của Ngân hàng tăng vọt so với năm 2000 và năm 2002 tăng chậm hơn Gọi là tăng chậm, song so với các chi nhánh khác hay các đơn vị khác trên địa bàn, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn của NHCT Hoàn Kiếm là quá lý tưởng Tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng thường cao hơn hẳn các đơn vị khác trên điạ bàn quận Sự tăng trưởng lớn về nguồn vốn đã khẳng định uy tín và vị thế của Ngân hàng trên thương trường Ta có thể thấy rõ sự tăng trưởng qua bảng sau:

Bảng 2.2 Khối lượng vốn huy động(đơn vị: triệu đồng) Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002

Trang 8

Tổng vốn huy động 1.524.967 2.335.896 4.297.992 5.060.689 Lượng vốn huy động gia tăng sau mỗi năm +810.929 +1.962.096 +762.697

Tỷ lệ gia tăng năm sau so với năm trước 53,17% 83,99% 17.74% Nguồn số liệu: Phòng Kế toán NHCT Hoàn Kiếm

Khối lượng vốn huy động của NHCT Hoàn Kiếm có thể nói là ở mức đáng kinh ngạc Chỉ sau 2 năm nguồn vốn huy động đã tăng gấp đôi Năm 2000, khối lượng vốn huy động của Ngân hàng tăng 53,17% so với năm 1999 Đặc biệt năm 2001, tỷ

lệ trên là 83,99% Đến năm 2002, khối lượng vốn huy động chỉ tăng 17,74% Ta có thể thấy rõ một điều là nguồn vốn năm nào cũng tăng, song không ổn định Chỉ tính riêng năm 2001, nguồn vốn huy động đã tăng gần gấp đôi so với năm 2000

Với tổng nguồn vốn lớn và ổn định, chi nhánh có đủ khả năng đáp ứng mọi nhu cầu

về vốn của khách hàng, đồng thời chuyển vốn về NHCT Việt Nam, góp phần điều hoà toàn hệ thống và tham gia thị trường vốn Có thể nói trong lúc việc huy động vốn gặp rất nhiều khó khăn, sự cạnh tranh lãi suất quyết liệt, lãi suất huy động liên tục tăng trong khi lãi suất cho vay không thể tăng cùng tốc độ, thì đây là kết quả rất đáng khích lệ Có được kết quả trên là vì ngay từ khi nguồn vốn còn dồi dào, Ngân hàng đã xác định nhu cầu vốn đầu tư cho nền kinh tế là rất lớn, vốn không bao giờ thừa cho một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, nên đã xác định một chiến lược tăng trưởng vốn lâu dài

2.2.1.1 Về nguồn huy động vốn Một trong những thế mạnh của NHCT Hoàn Kiếm, đó là nguồn huy động vốn rất

đa dạng Hiện nay NHCT Hoàn Kiếm huy động vốn chủ yếu bằng các nguồn như : -Tiền gửi của các tổ chức kinh tế (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn) -Tiền gửi của đân cư ( tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi không kỳ hạn)

Trang 9

-Phát hành các công cụ nợ

- Nguồn đi vay

- Các nguồn huy động khác Một trong những điều đặc biệt ở NHCT Hoàn Kiếm, đó là trong cơ cấu tiền gửi thì tiền gửi của tổ chức kinh tế có tỷ trọng khá lớn Nó thể hiện vai trò, vị thế của chi nhánh Hoàn Kiếm so với các đơn vị khác trên địa bàn Khách hàng là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế của chi nhánh Hoàn Kiếm là rất lớn Từ lâu chi nhánh

đã thấy được tầm quan trọng của lượng khách hàng này và đã có những giải pháp hữu hiệu để thu hút Nhưng như thế không có nghĩa là tiền gửi của dân cư không quan trọng Bên cạnh đó là nguồn phát hành các công cụ nợ, tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác Cơ cấu trong huy động vốn của NHCT Hoàn Kiếm khá đa dạng và phong phú, thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.3 Cơ cấu nguồn vốn huy động (đơn vị: triệu đồng) Tiền gửi của các tổ chức kinh tế

Tiền gửi của dân cư Phát hành các công cụ nợ Nguồn đi vay

Nguồn vốn khác Tổng

Nguồn số liệu: Phòng nguồn vốn NHCT Hoàn Kiếm cung cấp

Ta thấy qua các năm tiền gửi của tổ chức kinh tế có xu hướng tăng dần và tăng khá nhanh vào các năm 2001 và năm 2001 Năm 2000, tiền gửi của các tổ chức kinh tế chỉ chiếm 15,94% tổng nguồn vốn nhưng đến năm 2001 chiếm đến 24,78% Đây là

cố gắng rất lớn của chi nhánh Bước vào năm 2001, năm đầu của kế hoạch 5 năm

Trang 10

(2001- 2005), nhận thức được những thời cơ và thách thức khi mở cửa, hội nhập kinh tế với nước ngoài Ngân hàng đã cùng doanh nghiệp suy nghĩ, tháo gỡ những khó khăn, đưa ra các loại hình dịch vụ mới, đáp ứng một cách tốt nhất cho doanh nghiệp về thanh toán, bảo lãnh Chính vì vậy trong con mắt của các tổ chức kinh

tế, Ngân hàng là một người bạn đáng tin cậy, có thể chia sẻ, giúp đỡ doanh nghiệp trong kinh doanh Không thụ động ngồi chờ khách hàng tìm đến với mình, Ngân hàng luôn chủ động tìm kiếm các khách hàng mới Có rất nhiều các khách hàng lớn như: Tổng công ty Than Việt Nam, Tổng công ty Điện Lực Việt Nam, Công ty Đầu

tư Phát triển nhà Hà Nội, Công ty Phát triển hạ tầng với số dư tiền gửi ở Ngân hàng lên tới hàng trăm tỷ đồng Ngoài ra phần lớn khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ cá thể

Tiền gửi của khu vực dân cư bao gồm tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi không kỳ hạn Nguồn tiền gửi của dân cư qua các năm vẫn tăng song có xu hướng giảm dần về tỷ trọng Nếu như năm 2000, số dư tiền gửi là 530 tỷ và chiếm tỷ trong là 22,71% thì các con số tương ứng trong năm 2001 là 602 tỷ và 14,04% Như vậy về số tuyệt đối

là tăng gần 1/5 so với năm trước song về tỷ trọng lại giảm gần một nửa Đây là do năm 2001, chi nhánh ngoài huy động vốn từ dân cư đã đẩy mạnh thu hút từ nhiều nguồn khác và đạt được nhiều thắnh lợi Tiếp đà năm 2001, đến năm 2002 nguồn vốn huy động vẫn tăng song tỷ trọng lại giảm Điều này cho thấy đi đôi với việc tăng tổng nguồn vốn thì cần phải rất chú trọng và cải thiện việc huy động tiền gửi

từ dân cư

Về phát hành các công cụ nợ Thực ra việc phát hành này cũng là huy động từ khu vực dân cư Ngân hàng phát hành các kỳ phiếu, trái phiếu theo định hướng chung của NHCT Việt Nam Đây là khu vực mà có tốc độ tăng ngoạn mục nhất Năm

Trang 11

2000, việc phát hành các công cụ nợ của Ngân hàng chỉ thu được vỏn vẹn 3 triệu đồng Một con số quá khiêm tốn Đến năm 2001 đã nhảy vọt lên 17 tỷ và năm

2002 là hơn một trăm tỷ

Ngoài ra nguồn vốn đi vay của chi nhánh cũng rất lớn, vào các năm 2000 và 2001 chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn Song đến năm 2002 nguồn vay này chỉ chiếm không đáng kể trong tổng nguồn vố Đây là do trong năm, Ngân hàng có nhiều hợp đồng tín dụng và nguồn vốn từ các đơn vị khác trong hệ thống do không có đầu ra nên được điều chuyển về

Nguồn vốn khác của Ngân hàng cũng rất lớn , trong năm 2000 và năm 2001 chỉ chiếm vài % nhưng đến năm 2002 chiếm tới hơn 50% tổng nguồn vốn Ngân hàng cho vay được nhiều, đầu tư có hiệu quả nên các ngân hàng khác, chi nhánh khác có nguồn vốn nhiều không cho vay được đã uỷ thác cho Ngân hàng sử sụng Nguồn vốn uỷ thác này rất lớn thể hiện được uy tín và vị thế của chi nhánh trên thương trường

2.2.1.2 Về kỳ hạn huy động vốn Xét về mặt thời gian Ngân hàng huy động vốn theo hai loại : không kỳ hạn và có

kỳ hạn Hình thức có kỳ hạn của Ngân hàng rất đa dạng, đáp ứng được mọi nhu cầu của người gửi Năm 2002, chi nhánh mở thêm thời hạn huy động mới là 2 tháng và hiện nay Ngân hàng đang huy động với các thời hạn sau: 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng,

6 tháng, 9 tháng, 12 tháng và trên 12 tháng Thời hạn đa dạng đã đáp ứng mọi mục đích của người gửi tiền: gửi với mục đích sinh lợi, gửi với mục đích thanh toán, gửi với mục đích an toàn Ngân hàng tạo mọi thuận lợi cho người gửi tiền Ngân hàng cũng nhận được sự tán thưởng, đánh giá cao của khách hàng thể hiện qua kết quả huy động:

Trang 12

Nguồn huy động không kỳ hạn của Ngân hàng qua các năm đều tăng Tỷ trọng trong tổng nguồn vốn ngày càng được tăng cường một cách khá đều đặn Trong cơ cấu của nguồn tiền gửi không kỳ hạn này thì chủ yếu là tiền gửi của các tổ chức kinh tế, chiếm khoảng 95% Nguồn tiền gửi của khu vực dân cư rất ít Nó phản ánh đặc điểm của nguồn tiền gửi không kỳ hạn Nguồn tiền gửi không kỳ hạn chủ yếu được các tổ chức kinh tế sử dụng với mục đích phục vụ cho việc thanh toán Còn đối với dân cư, mục đích chủ yếu là để lấy lãi, nên họ gửi vào các khoản mục có kỳ hạn

Bảng 2.4 Nguồn vốn huy động theo kỳ hạn (đơn vị: triệu đồng) Vốn không kỳhạn 166.108 7,12 353.416 8,22 464.485 9,18 Vốn ngắn hạn 1.785.224 76,42 3.566.086 82,97 3.889.729 76,86 Vốn trung và dài hạn 384.564 16,46 378.490 8,81 706.475 13,96 Tổng 2.335.896 100 4.297.992 100 5.060.689 100

Nguồn số liệu: Phòng nguồng vốn NHCT Hoàn Kiếm cung cấp Trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng tính theo thời gian, thì nguồn vốn ngắn hạn luôn rất lớn, chiếm khoảng 75 - 80% tổng nguốn vốn Nguồn vốn ngắn hạn này huy động từ dân cư, doanh nghiệp và được các ngân hàng khác điều chuyển đến Ngày nay các doanh nghiệp cũng có xu hướng gửi tiền vào các khoản mục ngắn hạn: 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng thay vào chỉ gửi vào tiền gửi không kỳ hạn như trước kia Các doanh nghiệp đã tính toán kỹ lưỡng chu kỳ kinh doanh của mình, từ đó tìm ra giải pháp tối ưu để tối đa hoá lợi nhuận

Khoản tiền huy động từ nguồn trung và dài hạn là quan trọng đối với bất cứ Ngân hàng nào Đây là nguồn chủ yếu để Ngân hàng tiến hành cho vay trung và dài hạn Lãi suất cho vay trung và dài hạn rất cao, từ đó Ngân hàng kiếm dược nhiều lợi

Trang 13

nhuận Lấy nguồn huy động trung và dài hạn để cho vay trung và dài hạn là một cách để giảm bớt rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất Nguồn vốn trung và dài hạn của Ngân hàng không nhiều, chiếm một tỷ trọng nhỏ Năm 2001 nguồn này còn bị giảm sút so với năm 2000 và có tăng trong năm 2002 Tuy nhiên so với các khoản cho vay trung và dài hạn thì không tương xứng Tỷ lệ cho vay trung và dài hạn của chi nhánh ngày càng tăng và đến năm 2002 đạt mức cao hơn so với cho vay ngắn hạn Ngân hàng đã áp dụng việc chuyển hoán kỳ hạn nguồn Đây là một con dao hai lưỡi và Ngân hàng phải hết sức quan tâm tới an toàn tín dụng

2.2.1.3 Về chi phí huy động vốn Trên con đường hội nhập và phát triển, nguồn vốn cần cho đầu tư, phát triển kinh tế

là luôn cần thiết Trong khi các đơn vị khác, việc huy động vốn gặp khó khăn và để tăng sức cạnh tranh, họ luôn tăng lãi suất huy động NHCT Hoàn Kiếm với lãi suất huy động không cao hơn, song lại huy động được một nguồn vốn lớn, đã chứng tỏ được uy tín của mình đối với khách hàng, tạo vị thế phát triển vững chắc

Chi phí huy động bao gồm ngoài phần lãi phải trả còn có những khoản khác như: lương nhân viên, trang bị máy đếm tiền, máy soi tiền, tiền thuê trụ sở, các chi phí hành chính khác Trong đó phần lãi phải trả là bộ phận chủ yếu của chi phí huy động NHCT Hoàn Kiếm huy động vốn theo khung lãi suất do Tổng giám đốc NHCT Việt Nam quy định trong từng thời kỳ Khác với các Ngân hàng cổ phần, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, lãi suất luôn được điều chỉnh theo kiểu phá giá Lãi suất huy động của chi nhánh không cao hơn song vẫn thu hút được đông đảo khách hàng Chi nhánh luôn nghiên cứu tìm ra các biện pháp để giảm các chi phí khác trong chi phí huy động Mục tiêu đặt ra là phải làm sao để tốc độ tăng của lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng cuả chi phí Và Ngân hàng đã thực hiện một cách

Trang 14

xuất sắc mục tiêu trên Kết quả là, năm 2000 lợi nhuận hạch toán là 23 tỷ đồng và đến năm 2002 là 42,2 tỷ đồng Ngân hàng xác định thế mạnh trong cạnh tranh sẽ là

ở khâu dịch vụ Từ đó Ngân hàng nâng cao chất lượng các dịch vụ, hấp dẫn, lôi cuốn đuợc nhiều khách hàng mới đồng thời luôn quan tâm, giữ chân các khách hàng truyền thống

2.2.2 Các hình thức huy động vốn tại NHCT Hoàn Kiếm 2.2.2.1 Huy động vốn từ các quỹ

NHCT Hoàn Kiếm là một trong số 115 chi nhánh trên toàn quốc của NHCT Việt Nam Là một Ngân hàng thuộc sở hữu Nhà Nước, NHCT Việt Nam có vốn pháp định do Nhà Nước cấp ở cấp chi nhánh song hàng năm NHCT Hoàn Kiếm vẫn có những khoản vốn huy động được từ chính các quỹ tại đơn vị Ngân hàng trích lập các quỹ từ lợi nhuận sau thuế như: quỹ dự trữ bổ xung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ phúc lợi, quỹ đào tạo, quỹ khen thưởng Nguồn huy động từ các quỹ này có ý nghĩa rất lớn Đây là nguồn của chính đơn vị, đơn vị sử dụng nên không phải trả lãi như các nguồn huy động khác Hơn nữa nguồn này còn thể hiện tình hình hoạt động kinh doanh hiệu quả của đơn vị Tại chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm, nguồn vốn huy động từ các quỹ trong các năm qua như sau:

Bảng 2.5 Nguồn vốn huy động từ các quỹ (đơn vị: triệu đồng) Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002

Nguồn vốn huy động từ các quỹ 129 275 417 Lượng vốn gia tăng giữa các năm +146 +142

Tỷ lệ gia tăng giữa các năm (%) 113,17 49,81 Nguồn số liệu: Phòng nguồn vốn NHCT Hoàn Kiếm cung cấp

Trang 15

So sánh với tổng nguồn vốn huy động, vốn huy động từ các quỹ tại chi nhánh chỉ chiếm một phần rất nhỏ Tuy nhiên nguồn vốn này đang ngày càng gia tăng với tốc

độ khá nhanh Năm 2002, nguồn vốn huy động từ cac quỹ tăng hơn gấp đôi năm

2000 (khoảng 113,17%) Năm 2002, vốn huy động từ các quỹ lại tăng gấp rưỡi so với năm 2001 ở đây ta chưa xét đến khía cạnh tuyệt đối mà chỉ nói đến khía cạnh tương đối Nó chứng tỏ một điều rằng NHCT Hoàn Kiếm đang kinh doanh rất có lãi Bởi nguồn của các quỹ này là từ lợi nhuận sau thuế, Ngân hàng dùng khoản này

để kinh doanh vừa kinh tế lại vừa an toàn cho chính Ngân hàng Hơn nữa ta thấy tốc độ gia tăng của các quỹ khác này rất đáng kể Điều này chứng tỏ ngoài việc cố gắng hết sức việc huy động vốn từ bên ngoài, Ngân hàng cũng hết sức chú ý việc phát huy nội lực của chính mình Đây là một điều đúng với tất cả các doanh nghiệp Đặc biệt với Ngân hàng, việc kinh doanh gặp nhiều rủi ro không lường trước được thì lại càng quan trọng

2.2.2.2 Huy động vốn từ các khoản tiền gửi

a Tiền gửi thanh toán Đứng ở cấp độ một chi nhánh, có thể nói NHCT Hoàn Kiếm là một chi nhánh đứng hàng đầu trong việc quan hệ với các khách hàng lớn Đây không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả của một chiến lược huy động vốn lâu dài, trong đó rất coi trọng đến các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế Các khách hàng lớn là những tổng công ty, các tổ chức kinh tế có tình hình tài chính lành mạnh, quy mô làm ăn lớn Có thể kể

ra như: Tổng công ty Than Việt Nam, Tổng công ty Điện lực Việt Nam, các tổng công ty 90, 91, công ty đầu tư và phát triển Nhà Hà Nội, Điện lực Hà Nội Ngoài

ra số lượng khách hàng là các công ty vừa và nhỏ rất nhiều: Công ty thương mại và dịch vụ Thái Dương, HTX bốc xếp Đồng Xuân, Công ty Quyết Thắng CCB, Công

Trang 16

ty TNHH Liên Thao Đây là những tổ chức kinh tế đóng góp phần lớn nguồn tiền gửi không kỳ hạn cho Ngân hàng Ta xem bảng sau:

Bảng 2.6 Nguồn tiền gửi thanh toán theo đối tượng (đơn vị: triệu đồng)

Tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh Tiền gửi thanh toán của dân cư Cộng

Nguồn số liệu: Phòng kinh doanh NHCT Hoàn Kiếm cung cấp Qua bảng ta có thể thấy được nguồn tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng hầu như là của các tổ chức kinh tế Điều này là phù hợp với đặc điểm của nguônd Các tổ chức kinh tế trong quá trình kinh doanh của mình, nguồn tiền đến và đi rất bất chợt, khó đoán trước Các tổ chức kinh tế thay vì giữu tiền tại cơ quan, họ mang đến gửi Ngân hàng Tại đây họ thực hiện các dịch vụ thanh toán của Ngân hàng, tiết kiệm thời gian cho mình Đồng thời họ vẫn được hưởng một khoản lãi nhỏ (hiện nay Ngân Hàng quy định lãi suất không kỳ hạn đối vơí VND là 0,2%/tháng) Điều này giải thích vì sao nguồn tiền gửi thanh toán chủ yếu là của các tổ chức kinh tế Tiền gửi thanh toán của dân cư chủ yếu là của một số ít hộ dân buôn bán cá thể (các hộ buôn bán ở chợ Đồng Xuân, một số cửa hàng vàng, bạc trên địa bàn quận) Các hộ này cũng có nhu cầu như các tổ chức kinh tế song qua ccác năm, số này nhỏ dần trong tỷ trọng Năm 2000 chiếm 4,64% nhưng đến năm 2002 chỉ còn 2% Trong khi đó tiền gửi của các tổ chức kinh tế ngày càng tăng, đến năm 2002, chiếm 98% tổng tiền gửi thanh toán Đây có lẽ là xu hướng chung cho một nền kinh tế mở cửa, khi mà quá trình lưu thông hàng hoá giữa các vùng, giữa các nước ngày càng được

mở rộng, thúc đẩy mạnh mẽ

Ngày đăng: 05/08/2014, 22:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.7. Nguồn tiền gửi thanh toán theo loạI tiền   đơn vị: triệu đồng) - Hạn chế khủng hoảng tài chính theo yêu cầu tăng số lượng dự trự kho vận tại các ngân hàng thương mại - 2 pps
Bảng 2.7. Nguồn tiền gửi thanh toán theo loạI tiền đơn vị: triệu đồng) (Trang 17)
Bảng 2.9. Nguồn tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp và tổ chức xã hội theo  loại tiền (đơn vị: triệu đồng) - Hạn chế khủng hoảng tài chính theo yêu cầu tăng số lượng dự trự kho vận tại các ngân hàng thương mại - 2 pps
Bảng 2.9. Nguồn tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp và tổ chức xã hội theo loại tiền (đơn vị: triệu đồng) (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w