1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng kinh doanh các ngành điện ảnh nghệ thuật và hiệu quả kinh doanh tại ngành này thông qua các minh chứng tài chính - 3 docx

37 163 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 221,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi, nguồn vốn Chủ sở hữu của Công ty giảm so với đầu năm như đã phân tích ở phần cơ cấu nguồn vốn mà nguồn vốn kinh doanh trong kỳ không tăng chứng tỏ nguồn vốn Ngân sách cấp cho

Trang 1

tình hình tăng giảm nguồn vốn chủ sở hữu trên Thuyết minh báo cáo tài chính ngày

31 tháng 12 năm 2002 của Công ty, ta lập bảng phân tích sau:

Bảng 9: Bảng phân tích nguồn vốn kinh doanh của Công ty Đơn vị: VNĐ

1- Ngân sách cấp 4.817.186.274 56,84 4.817.186.274 56,84 0 2- Tự bổ sung 3.656.992.797 43,16 3.656.992.797 43,16 0 3- Vốn liên doanh 0 0

4- Vốn cổ phần 0 0 Tổng cộng 8.474.179.071 100 8.474.179.071 100 Qua bảng phân tích trên ta thấy tổng nguồn vốn kinh doanh của Công ty cuối năm so với đầu năm không tăng Trong khi, nguồn vốn Chủ sở hữu của Công ty giảm so với đầu năm như đã phân tích ở phần cơ cấu nguồn vốn mà nguồn vốn kinh doanh trong kỳ không tăng chứng tỏ nguồn vốn Ngân sách cấp cho Công ty để

mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh không tăng, Công ty phải hoạt động với số vốn ít ỏi đó để đảm bảo khả năng duy trì hoạt động kinh doanh của mình Bên cạnh việc hoạt động bằng nguồn vốn do Ngân sách cấp, Công ty phải tự bổ sung vốn nhưng cho đến cuối kỳ nguồn vốn tự bổ sung của Công ty cũng không tăng Điều này bắt nguồn từ thực trạng năm 2001 Công ty kinh doanh bị lỗ 117.587.364 VNĐ

do Nhà nước áp dụng luật thuế GTGT cho nên khả năng tự bổ sung nguồn vốn kinh doanh là không có Đến năm 2002, Nhà nước có chính sách ưu đãi giảm mức thuế suất thuế GTGT đối với Công ty từ 10% xuống còn 5% và với những cố gắng to lớn của Công ty cho nên Công ty đã đạt được mức lãi 68.728.424 VNĐ Nhưng Công ty được phép bù lỗ cho năm trước, xử lý lãi theo Công văn 518-TC/TCDN,

Trang 2

để Công ty có thể mở rộng hơn nữa quy mô hoạt động kinh doanh của mình

2.3 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán của Công ty XNK thiết bị điện ảnh - truyền hình:

Trong nền kinh tế thị trường, bất cứ doanh nghiệp nào cũng luôn coi trọng các quan hệ tín dụng, bởi vì nó có thể giúp cho các doanh nghiệp mở rộng được quy

mô, đẩy nhanh được quá trình sản xuất kinh doanh làm cho quá trính kinh doanh diễn ra liên tục, giúp cho doanh nghiệp phát huy được thế mạnh, mở rộng được đầu

tư Muốn vậy, các doanh nghiệp đòi hỏi phải có đủ năng lực đáp ứng các nghĩa vụ đối với từng loại tín dụng mà họ nhận được và đặc biệt là khả năng hoàn trả đúng hạn các khoản vay tín dụng ngắn hạn

Cũng như các công ty khác, các quan hệ tín dụng mà đặc biệt là các khoản nợ vay ngắn hạn đã giúp cho Công ty có thể bổ sung thêm vốn kinh doanh Công ty cũng

đã và đang nỗ lực tận dụng các khoản tín dụng này để làm cho chúng tạo ra lợi nhuận cao, nâng cao hơn nữa tính khả quan của tình hình tài chính của mình Để

Trang 3

đánh giá sâu sắc vấn đề này, căn cứ vào số liệu trên BCĐKT ngày 31 tháng 12 năm

2002 của Công ty ta lập bảng phân tích tình và khả năng thanh toán bảng phân tích này gồm hai phần là phân tích các khoản phải thu và các khoản phải trả

2.3.1 Phân tích các khoản phải thu:

Bảng10: Bảng phân tích các khoản phải thu Đơn vị VNĐ

1- Phải thu khách hàng 2- Thuế GTGT được khấu trừ 3- Phải thu nội bộ

4- Các khoản phải thu khác 5- Tạm ứng

6- Tài sản thiếu chờ xử lý 7- Thế chấp, ký quỹ, ký cược 8- Trả trước cho người bán 9- Dự phòng phải thu có đồi Tổng cộng

Từ số liệu trên bảng cho thấy so với đầu năm các khoản phải thu của Công ty cuối kỳ giảm 154.088.160 VNĐ tương đương giảm 5,12% Các khoản phải thu giảm chủ yếu là do :

*Tạm ứng cuối kỳ giảm 144.452.853 VNĐ tương đương giảm 90,25% so với đầu năm

*Trả trước cho người bán cuối kỳ giảm 57.517.469 VNĐ tương đương giảm 9,33%

so với đầu năm

Trang 4

*Các khoản phải thu khác cuối kỳ giảm 3.701.331 VNĐ tương đương giảm 6,68%

so với đầu năm Các khoản phải thu của Công ty giảm chứng tỏ Công ty không bị các đơn vị khác chiếm dụng vốn Tuy nhiên, các khoản phải thu của khách hàng cuối kỳ so với đầu năm của Công ty tăng lên 51.583.493 VNĐ tương đương tăng 2,37% cho thấy doanh số hàng bán của Công ty tăng Hơn nữa khách hàng của Công ty đều là những đơn vị đáng tin cậy, các khoản phải thu đều mang tính chắc chắn cho nên các khoản phải thu của khách hàng tăng lên là một dấu hiệu tốt Mặt khác, để xem xét các khoản phải thu có ảnh hưởng đến tình hình tài chính của Công ty như thế nào cần phải so sánh tổng các khoản phải thu với tổng TSLĐ hoặc với tổng quát khoản phải trả

Tỷ trọng các khoản phải thu so với tổng TSLĐ = Tổng các khoản phải thu/Tổng TSLĐ

Tỷ trọng các khoản phải thu so với các khoản phải trả = Tổng các khoản phải thu/Tổng các khoản phải trả

Từ số liệu tính toán trên ta thấy tỷ trọng các khoản phải thu so với tổng TSLĐ cuối kỳ giảm so với đầu năm 3.82% (=21,10%-24,92%), tỷ trọng các khoản phải thu so với tổng các khoản phải trả cuối kỳ giảm so với đầu năm 6,21% (=30,61%-36,82%) Tỷ trọng các khoản phải thu so với tổng các khoản phải trả cuối năm giảm so với đầu năm nhưng các khoản phải thu chiếm tỷ lệ ít so với các khoản phải trả Điều này đã chứng tỏ Công ty đi chiếm dụng vốn nhiều hơn là bị các đơn vị khác chiếm dụng vốn Việc đi chiếm dụng vốn như vậy có thể tạo điều kiện cho Công ty đầu tư, bổ sung thêm nguồn vốn để tăng quy mô hoạt động của mình, đồng

Trang 5

thời nâng cao tính khả quan về tình hình tài chính trong tương lai cho Công ty Tuy nhiên, Công ty cũng phải cố gắng trong việc thu hồi các khoản phải thu của khách hàng hơn nữa để đẩy nhanh tốc độ phát triển của hoạt động kinh doanh và để nhanh chóng thanh toán được các khoản nợ vay cho các đơn vị khác

Để phân tích được chính xác hơn, ta cần phải so sánh vòng quay của các khoản phải thu giữa kỳ phân tích với kỳ trước và dựa vào số liệu trên BCĐKT và BCKQKD năm 2001 và năm 2002 làm cơ sở phân tích: Vòng quay của các khoản phải thu = Doanh thu thần/ Số dư bình quân các khoản phải thu

Số dư bình quân của các khoản phải thu = Số dư đầu năm + Số dư cuối kỳ/2

Số dư bình quân các khoản phải thu năm 2001

là tốt

2.3.2 Phân tích các khoản phải trả:

Trang 6

Bảng11: Bảng phân tích các khoản phải trả: Đơn vị VNĐ Chỉ tiêu Đầu năm Cuối kỳ Chênh lệch cuối kỳ so với đầu năm 1- phải trả cho người bán

2- Thuế và các khoản nộp Nhà 3- Nợ dài hạn đến hạn trả 4- Người mua ứng trước 5- Phải trả công nhân viên 5- Phải trả nội bộ

7- Các khoản phải trả khác 8- Vay ngắn hạn

9- Vay dài hạn 10- Chi phí phải trả 11- Tài sản thừa chờ xử lý Tổng cộng

Để xác định và đánh giá khái quát tình hình các khoản nợ phải trả ta phải xác định hệ số nợ của Công ty:

Hệ số Nợ = Nợ phải trả/Tổng nguồn vốn

Hệ số nợ năm 2002 của Công ty tăng 3,4% (=52,4%- 49%) so với năm 2001 và

hệ số nợ năm 2002 bằng 0,524 lớn hơn 0,5 chứng tỏ tình hình công nợ của Công ty tăng Hơn nữa, trong điều kiện tỷ trọng của nguồn vốn Chủ sở hữu giảm do đó Công ty phải đi vay mượn để trang trải cho hoạt động kinh doanh của mình với lượng hợp lý Căn cứ vào bảng phân tích các khoản phải trả ta thấy các khoản phải

Trang 7

trả đã tăng lên 1.154.866.769 VNĐ tương đương tăng 14,12% trong năm 2002, trong đó khoản phải trả người bán tăng 187.716.155 VNĐ tức là tăng 73,04%, khoản người mua ứng trước tăng 96.015.127 VNĐ tương đương tăng 262,33%, các khoản phải trả khác cũng tăng 724.356.873 VNĐ tương đương tăng 162,33% Như vậy, khoản người mua ứng trước cho Công ty có tốc độ tăng lớn nhất chứng tỏ rằng

uy tín của Công ty đã được nâng cao, Công ty đã tranh thủ chiếm dụng vốn một cách hợp lý từ các đối tác để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh

Tiếp theo ta cần xem xét chỉ tiêu:

Tỷ trọng các khoản phải trả trên tổng TSLĐ = Tổng các khoản phải trả/Tổng TSLĐ

Kết quả tính toán cho thấy tỷ trọng các khoản phải trả trong cả hai năm đều nhỏ hơn tổng TSLĐ, tỷ trọng này năm 2002 tăng 0,011 hay 1,1% sao với năm 2001 Tuy nhiên, mức tăng này không đáng kể so với mức tăng của tổng TSLĐ do đó khả năng thanh toán của Công ty có giảm đôi chút nhưng tại thời điểm này, Công ty vẫn đang cố gắng cải thiện việc trang trải công nợ của mình với các đơn vị khác một cách tích cực để làm cho bức tranh tài chính của Công ty tốt đẹp hơn nữa trong những năm tới

Tình hình tài chính của Công ty còn được thể hiện qua khả năng thanh toán Nếu công ty có đủ khả năng thanh toán thì tình hình tài chính sẽ khả quan và ngược lại

Tỷ suất thanh toán hiện hành ngắn hạn = Tổng TSLĐ/Nợ ngắn hạn

Số liệu tính toán cho thấy tỷ suất thanh toán hiện hành ngắn hạn của Công ty cuối năm có giảm so với đầu năm là 0,03 hay 3% nhưng trong cả hai năm tỷ suất này đều lớn hơn 1, sự giảm ở trên là không đáng kể Do đó, có thể đánh giá tình

Trang 8

do trên thực tế Vốn bằng tiền và các khoản phải thu của Công ty năm 2002 đều bị giảm so với năm2001, và có thể do Công ty gặp khó khăn trong việc giải phóng TSLĐ để đảm bảo thanh toán các khoản nợ vay, và do trữ lượng hàng tồn kho cuối

kỳ tăng lên

Tuy nhiên, muốn đánh giá chính xác hơn nữa khả năng thanh toán của Công ty ta cần xem xét phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán của Công ty thông qua bảng phân tích sau:

Bảng12: Bảng phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán Đơn vị VNĐ 1- Vay ngắn hạn

2- Vay ngắn hạn nội bộ 2- Tiền gửi

Ngân hàng 3- Phải trả cho người bán 3- Các khoản phải thu

Trang 9

4- Phải trả người mua

4- Hàng tồn kho 5- Phải nộp Ngân sách 6- Phải trả công nhân viên 7- Phải trả phải nộp khác Tổng cộng

Qua bảng phân tích cho thấy cả đầu năm và cuối kỳ Công ty đều có khả năng thanh toán các khoản nợ Đầu năm khả năng thanh toán và nhu cầu thanh toán chênh lệch nhau là 3.732.774.19 VNĐ (=11.912.197.557- 8.179.423.367), cuối kỳ chênh lệch nhau là 4.200.886.614 VNĐ (=13.535.176.750- 9.334.290.136) Ngoài

ra ta còn tính chỉ tiêu sau

Hệ số khả năng thanh toán =Khả năng thanh toán/Nhu cầu thanh toán Đầu năm = 11.912.197.557/8.179.423.367 = 1,46

Cuối năm = 13.535.176.750/9.334.290.136 = 1,45 Như vậy, cả cuối kỳ lẫn đầu năm hệ số khả năng thanh toán của Công ty đều lớn hơn 1 chứng tỏ tình hình tài chính của Công ty tương đối tốt, Công ty có khả năng thanh toán các khoản nợ Do đó, có thể khẳng định rằng Công ty đang trên đà phát triển với một khả năng về tài chính tương đối khả quan

2.4 Phân tích hiệu quát kinh doanh của Công ty:

Hiệu quả sử dụng vốn là chỉ tiêu phản ánh chất lượng của hoạt động tài chính của Công ty Phân tích hiệu quả sử dụng vốn sẽ cho ta biết trình độ quản lý và sử dụng vốn của Công ty Để đánh giá hiệu quả sử dụng các loại vốn của Công ty ta xác định các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

Trang 10

Hiệu quả sử dụng vốn KD = Doanh thu thuần/VKD bình quân

Tỷ suất lợi nhuận Vốn kinh doanh (hoặc mức doanh lợi theo vốn) = Lợi nhuận trước thuế/VKD bình quân

Trong đó:

Vốn kinh doanh bình quân = VKD đầu năm + VKD cuối năm/2 Căn cứ vào BCĐKT năm 2001 và năm 2002 của Công ty ta lập bảng tính VKD bình quân, VLĐ bình quân và VCĐ bình quân:

Bảng13: Bảng phân tích VKD bình quân, VLĐ bình quân và VCĐ bình quân: (Đơn vị VNĐ)

1- VLĐ 2- VCĐ 3- VLĐ bình quân 4- VCĐ bình quân 5- VKD bình quân

Từ bảng vừa lập trên cùng với BCKQKD ta lập bảng phân tích hiệu quả sử dụng VKD của Công ty:

Bảng14: Bảng phân tích hiệu quả VKD (Đơn vị VNĐ) 1- Doanh thu thuần

2- VSX bình quân 3- Lợi nhuận trước thuế 4- Hiệu suất sử dụng VKD

5 Tỷ suất lợi nhuận trên VKD

Trang 11

- Vốn sản xuất bình quân cũng tăng lên 2,88%

- Chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế đã tăng lên một cách rõ rệt, từ chỗ bị lỗ 117.587.364 VNĐ năm 2001 đã có lãi 68.728.424 VNĐ năm 2002 Tình hình này cho thấy khả năng kinh doanh đã phát triển tương đối mạnh và thể hiện sự cố gắng vượt bậc của Công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh

- Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh tăng lên 11,34% và tỷ suất lợi nhuận trên vốn sản xuất kinh doanh cũng tăng lên 1,4%

2.4.1 Phân tích hiệu quả sử dụng VCĐ:

Việc sử dụng VCĐ sao cho có hiệu quả là vấn đề quan trọng của Công ty Để phân tích hiệu quả sử dụng VCĐ chúng ta dùng các chỉ tiêu sau:

Sức sản xuất của TSCĐ = Doanh thu thuần/Nguyên giá bình quân TSCĐ Sức sinh lợi của TSCĐ = Lợi nhuận trước thuế/Nguyên giá bình quân TSCĐ Suất hao phí của TSCĐ = Nguyên giá bình quân TSCĐ/Doanh thu thuần hoặc Lợi nhuận trước thuế

Hiệu suất sử dụng VCĐ = Doanh thu thuần/VCĐ bình quân

Tỷ suất sinh lợi của VCĐ = Lợi nhuận trước thuế/VCĐ bình quân Bảng15: Bảng phân tích hiệu quả sử dụng VCĐ Đơn vị VNĐ 1- Doanh thu thuần 11.685.393 13.384.860.437 1.699.466.794 14,55

Trang 12

2- Lợi nhuận trước thuế -117.587.364 68.728.424 186.315.788 -158,50 3- VCĐ bình quân 4.742.191.668 4.421.386.071 -320.805.597 11,14 4- Nguyên giá TSCĐ bình quân 14.336.906.873 14.382.663.762

45.756.889 0,32 5- Sức sản xuất của TSCĐ(1/4) 0,815 0,930 0,115 14,11 6- Sức sinh lợi của TSCĐ(2/4) -0,0082 0,0048 0,013 7- Suất hao phí TSCĐ(4/1) hoặc (4/2) 1,230 1,074 -0,156 8- Hiệu suất sử dụng VCĐ(1/3) 2,46 3,03 0,57

9- Tỷ suất lợi nhuận trên VCĐ(2/3) -0,025 0,016 0,041 Dựa vào bảng phân tích trên ta có thể nhận xét như sau:

- Nhìn vào chỉ tiêu (5) trong bảng ta thấy sức sản xuất của TSCĐ tăng lên từ 0,815 đến 0,930, có nghĩa là cứ 1 đồng nguyên giá bình quân TSCĐ sử dụng trong kỳ đem lại 0,93 đồng doanh thu thuần Như vậy 1 đồng nguyên giá bình quân TSCĐ năm 2002 tạo ra nhiều hơn 1 đồng nguyên giá bình quân TSCĐ năm 2001 là 0,115 đồng doanh thu thuần chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSCĐ của Công ty là tương đối tốt

- Chỉ tiêu (6) trong bảng phân tích cho thấy sức sinh lợi của TSCĐ năm 2002 tăng lên so với năm 2001 là 0,013 Năm 2001, cứ 1 đồng nguyên giá bình quân TSCĐ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ tạo ra 0,0082 đồng lợi nhuận trước thuế nhưng năm 2001 lợi nhuận trước thuế âm cho nên chỉ tiêu này không được đánh giá Sang năm 2002, cứ 1 đồng nguyên giá bình quân TSCĐ đ• tạo ra 0,0048 đồng lợi nhuận trước thuế Điều này cho thấy sức sinh lợi của TSCĐ là có chiều hướng tốt

Trang 13

- Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng VCĐ năm 2002 tăng lên rõ rệt và cao hơn năm

2001 là 0,57 đồng Chỉ tiêu này tăng được đánh giá là tốt vì Công ty đã tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng lợi nhuận dẫn đến hiệu suất sử dụng TSCĐ được nâng cao

Như vậy, Công ty đã không những tiết kiệm được VCĐ mà còn nâng cao được hiệu quả sử dụng VCĐ Tổng hợp các chỉ tiêu trên có thể khẳng định hiệu quả sử dụng TSCĐ của Công ty là rất tốt và được thể hiện ở chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên VCĐ đã tăng lên vào cuối kỳ

2.4.2 Phân tích hiệu quả sử dụng VLĐ:

Nguồn VLĐ của Công ty được dùng để đảm bảo cho TSLĐ, là yếu tố quyết định đến việc thực hiện các nhiệm vụ hoạt động kinh doanh của Công ty Do vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Công ty Để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ ta cần xem xét các chỉ tiêu sau: Sức sản xuất của VLĐ = Doanh thu thuần VLĐ bình quân

Sức sinh lợi của VLĐ = Lợi nhuận trước thuế/VLĐ bình quân

Số vòng quay của VLĐ = Doanh thu thuần/VLĐ bình quân Thời gian của 1 vòng quay của VLĐ = Thời gian kỳ phân tích (360 ngày)Số vòng quay của VLĐ

Trang 14

Hệ số đảm nhiệm VLĐ = VLĐ bình quân/Tổng doanh thu thuần

Dựa vào BCĐKT và BCKQKD năm 2001 và năm 2002 của Công ty ta lập bảng phân tích sau:

Bảng 16: Bảng phân tích hiệu quả sử dụng VLĐ: Đơn vị VNĐ 1- Doanh thu thuần 11.685.393 13.384.860.437 1.699.466.794 14,55 2- Lợi nhuận trước thuế -117.587.364 68.728.424 186.315.788 -158,50 3- VLĐ bình quân 12.015.912.875 12.818.533.768 802.620.893 6,68 4- Sức sản xuất

của TSLĐ (1/3) 0,973 1,044 0,071 7,29 5- Sức sinh lợi của TSLĐ (2/3) -0,0098 0,0054 0,0152 -155,10 6- Số vòng quay VLĐ 0,973 1,044 0,071 7,29

7- Thời gian của 1 vòng luân chuyển 369,98 344,82 -25,16 -6,8 8- Hệ số đảm nhiệm VLĐ 1,03 0,96 -0,07 -6,79

Từ bảng phân tích trên cho thấy:

Sức sản xuất của VLĐ năm 2002 tăng 0,071 so với năm 2001, điều đó cho thấy 1 đồng VLĐ năm 2002 đem lại 1,044 đồng doanh thu thuần tăng 0,071 đồng so với năm 2001 đem lại 0,973 đồng doanh thu thuần

Sức sinh lợi của VLĐ năm 2002 cũng tăng lên 0,0054 so với năm 2001 tương đương tăng 1,52%

Chỉ tiêu số vòng quay của VLĐ (hệ số luân chuyển của VLĐ) đã tăng lên 0,071 vòng (= 1,044- 0,973) Nguyên nhân tăng lên là do năm 2002 Công ty đã có những biện pháp tích cực trong việc thu hồi các khoản nợ do đó giảm được thời gian của

Trang 15

bỏ ra 1,03 đồng VLĐ Như vậy năm 2002 chỉ tiêu này đã giảm 0,07 so với năm

2001

Qua việc phân tích tình hình sử dụng VLĐ trên ta có thể kết luận rằng tình hình

sử dụng VLĐ của Công ty là tương đối tốt, Công ty một mặt sử dụng có hiệu quả nguồn VLĐ, mặt khác hiệu quả kinh doanh vẫn cao thể hiện tình hình tài chính của Công ty tương đối tốt và sáng sủa, hầu hết các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đều tăng lên Để sự đánh giá trên chính xác hơn ta cần đi sâu vào phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng như tình hình mua hàng hoá, dự trữ và tốc độ tiêu thụ sản phẩm Việc tăng tốc độ luân chuyển VLĐ sẽ làm giảm nhu cầu về vốn, cụ thể là với một tốc độ vốn không tăng nếu Công ty tăng tốc độ luân chuyển có thể làm tăng doanh số hoạt động dẫn đến lợi nhuận tăng Thật vậy, từ công thức hệ số luân chuyển của VLĐ ta suy ra:

Khi tốc độ luân chuyển không đổi Như vậy , tốc độ luân chuyển của VLĐ năm 2002 tăng là do doanh thu thuần tăng 853.129.814 VNĐ Đây là sự cố gắng của Công ty trong việc giảm tối thiểu chi phí và do mở rộng quy mô hoat động kinh doanh nhằm mục đích tăng lợi nhuận Việc giảm xuống của 1 vòng quay của VLĐ hay việc tăng tốc độ luân chuyển của VLĐ năm 2002 đã làm tiết kiệm một số VLĐ là:

Trang 16

N = DTT/(To –T1) * T Trong đó:

N: là số VLĐ tiết kiệm do tăng tốc độ luân chuyển

DTT: là Tổng doanh thu thuần kỳ phân tích T: là thời gian kỳ phân tích

To: là thời gian một vòng luân chuyển kỳ gốc T1: là thời gian luân chuyển kỳ phân tích

Do đó, so với năm 2001, số VLĐ đã tiết kiệm được 9.354.431.244 VNĐ Như vậy, xét về hiệu qua sử dụng vốn trên phương diện sinh lợi của vốn thì tăng rất lớn

so với năm 2001 chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của Công ty là tương đối tốt, do đó mức tăng của VLĐ bình quân là hợp lý Mặc dù doanh thu thuần tăng nhưng vẫn tiết kiệm được VLĐ chứng tỏ tình hình kinh doanh của Công ty là khá tốt

2.5 Phân tích khả năng sinh lợi của vốn:

Phân tích khả năng sinh lợi của vốn thực chất là xem xét hiệu quả sử dụng vốn dưới góc độ sinh lời của vốn được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:

Tỷ suất lơi nhuận theo vốn kinh doanh = Tổng lợi nhuận trước thuế/VKD bình quân

Tỷ suất này đã được phân tích ở phần đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty Nếu VKD bình quân trong công thức trên được thay bằng Vốn chủ sở hữu, ta có:

Tỷ suất lợi nhuận theo vốn Chủ sở hữu = Tổng lợi nhuận trước thuế/Vốn chủ sở hữu

Trang 17

Từ kết quả tính toán trên cho thấy khả năng sinh lợi của vốn Chủ sở hữu năm

2002 tăng lên so với năm 2001 Nếu như 1 đồng vốn Chủ sở hữu của Công ty năm

2001 không đem lại lãi mà lỗ 0,014 đồng thì sang năm 2002 đẫ tạo ra được 0,008 đồng tương đương tăng 0,022 đồng Sự tăng lên về giá trị của chỉ tiêu này tuy còn nhỏ nhưng đã chứng tỏ sự nỗ lực cố gắng rất lớn của Công ty trong quá trình kinh doanh., làm tăng khả năng sinh lời của vốn Chủ sở hữu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Từ công thức tính mức doanh lợi theo vốn Chủ sở hữu và mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng, ta có:

Tỷ suất lợi nhuận theo vốn Chủ sở hữu của vốn Chủ sở hữu

* Hệ số doanh lợi doanh thu thuần Như vậy, hệ số quay vòng của vốn chủ sở hữu trong kỳ kinh doanh quay được 1,578 vòng tăng so với năm 2001 là 0,201 vòng (= 1,578 – 1,377) chứng tỏ Công ty

sử dụng vốn có hiệu quả

Còn hệ số doanh lợi của doanh thu thuần năm 2002 cho biết với 1 đồng doanh thu thuần đem lại 0,008 đồng lợi nhuận trước thuế So với năm 2001, chỉ tiêu này tăng 0,018 chứng tỏ khả năng sinh lợi của vốn trong quá trình kinh doanh tăng lên Điều này do ảnh hưởng của hai nhân tố:

* Do hệ số quay vồng của vốn Chủ sở hữu thay đổi:

( 1,578 –1,377) * 0,01 = 0,00201

* Do hệ số doanh lợi doanh thu thuần thay đổi:

(0,008 – (- 0,01)) * 1,578 = 0,0284

Trang 18

Tình hình trên cho thấy do hệ số vòng quay của vốn chủ sở hữu tăng lên làm tăng khả năng sinh lợi là 0,00201 đồng và lợi nhuận tính trên 1 đồng doanh thu thuần tăng làm tăng khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu là 0,0284 đồng Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố có thể kết luận rằng khả năng sinh lợi của vốn chủ

sở hữu ngày càng tăng , tuy nhiên chưa phải là cao

Qua việc phân tích một loạt các chỉ tiêu trên có thể nói rằng mặc dù trước nhiều khó khăn về vốn Công ty XNK thiết bị điện ảnh - truyền hình đã vượt qua được các khó khăn đó để thực hiện tốt nhiệm vụ kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh

Phần III: Một số kiến nghị và giải pháp đề xuất nhằm cải thiện tình hình tài chính

và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty xnk thiết bị điện ảnh - truyền hình

I Đánh giá chung về tình hình tài chính của Công ty:

Hơn 25 năm kể từ khi thành lập, Công ty XNK thiết bị điện ảnh - truyền hình

đã trải qua không ít những khó khăn thử thách to lớn trong quá trình tồn tại và phát triển Trước những khó khăn về vốn, công nghệ, thị trường tiêu thụ sản phẩm nhưng nhờ những chính sách đổi mới của Ban lãnh đạo Công ty, nhờ quyết tâm đưa Công ty phát triển cao hơn nữa bằng nhiều khả năng và biện pháp, Công ty vẫn đứng vững và phát triển ổn định cùng với các Công ty khác trên cả nước cung cấp những sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng được ngày càng cao nhu cầu của thị trường

Phân tích tình hình tài chính của Công ty là yêu cầu mang tính thường xuyên và

là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như Ban l•nh đạo Công ty, các tổ

Ngày đăng: 05/08/2014, 22:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 9: Bảng phân tích nguồn vốn kinh doanh của Công ty  Đơn vị: VNĐ - Thực trạng kinh doanh các ngành điện ảnh nghệ thuật và hiệu quả kinh doanh tại ngành này thông qua các minh chứng tài chính - 3 docx
Bảng 9 Bảng phân tích nguồn vốn kinh doanh của Công ty Đơn vị: VNĐ (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w