+ Về đầu tư phát triển: Được sự hỗ trợ của Chính phủ cộng với tinh thần phát huy nội lực của địa phương trong những năm qua, hướng đầu tư cho nông nghiệp, lâm nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầ
Trang 1Kết quả năm 1995- 1999:
- Diện tích đất rừng được giao tới hộ 126.088 ha, bình quân mỗi hộ 4-5 ha đất rừng
- Trồng rừng 17.773 ha, bình quân mỗi năm trồng 3.554 ha
- Chăm sóc rừng trồng 21.218 ha, bình quân mỗi năm 4.243 ha
- Bảo vệ rừng 145.263 ha, bình quân mỗi năm bảo vệ 29.053 ha
- Khoanh nuôi rừng 25.455 ha, bình quân mỗi năm là 5.091 ha
Về sản phẩm lâm nghiệp chủ yếu khai thác hàng năm:
- Gỗ tròn bình quân mỗi năm khai thác 60.200 m3
- Củi khai thác bình quân mỗi năm 103.800 m3
- Tre, vầu, nứa bình quân mỗi năm 2.500 triệu cây
Tổng giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp trên địa bàn bình quân năm đạt 139.00 triệu đồng/năm
Trong đó: - Trồng và nuôi rừng 23.000 triệu đồng/năm
- Khai thác và thu hoạch 116.000 triệu đồng
+ Về tình hình phát triển kinh tế HTX và kinh tế trang trại:
Theo báo cáo của các huyện, thị đến tháng 9 năm 1998 toàn tỉnh có 693 HTX (Trong đó nông nghiệp 680, tiểu thủ công nghiệp có 6, tín dụng 4, thuỷ sản 2, vận tải 1)
Đến nay việc triển khai thực hiện Luật HTX trong phạm vi toàn tỉnh đã chuyển đổi và thành lập được 135 HTX mới theo luật (Trong đó có 131 nông nghiệp, 4 tiểu thủ công nghiệp, 2 tín dụng, 1 vận tải, 1 dịch vụ vật tư xây dựng, 2 thuỷ sản)
Trang 2Đây là những mô hình tiên tiến có tác dụng tốt trong việc phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá và làm dịch vụ cho kinh tế hộ gia đình, tạo điều kiện cho họ được quyền tự chủ trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
- Về kinh tế trang trại, trong những năm gần đây Hà Giang đã có sự quan tâm phát triển mô hình này
Tổng số trang trại lớn, nhỏ tính đến năm 1998 toàn tỉnh có trên 2000 hộ dân làm kinh tế trang trại, trong đó chính sách 478 hộ kinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp theo mô hình trang trại quy mô từ 2 ha trở lên, chiếm 0,48% tổng số hộ toàn tỉnh Trong số hộ trên riêng huyện Bắc Quang có khoảng 100 hộ, đạt doanh thu hàng năm từ 100-200 triệu đồng
Đây thực sự là một mô hình mới về phát triển nông, lâm nghiệp hàng hoá đúng hướng có hiệu quả cần được tiếp tục nghiên cứu, tổng kết và tạo điều kiện để khuyến khích mở rộng
+ Về đầu tư phát triển:
Được sự hỗ trợ của Chính phủ cộng với tinh thần phát huy nội lực của địa phương trong những năm qua, hướng đầu tư cho nông nghiệp, lâm nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các chính sách trợ cước, trợ giá trong chương trình phát triển nông, lâm nghiệp của tỉnh năm sau để tăng hơn năm trước Đảm bảo cho sản xuất tăng trưởng, phát triển ổn định bền vững
Trong 6 năm từ 1994-1999, tổng số nguồn vốn đầu tư cho phát triển các lĩnh vực trên toàn tỉnh là 1424,3 tỷ đồng thì đầu tư cho nông, lâm nghiệp là 297,4 tỷ đồng
Trang 3bằng 20,88% Đặc biệt năm 1999 đầu tư cho nông nghiệp lên tới 88,2 tỷ đồng/354,6 tỷ đồng chiếm 24,87%
+ Về hoạt động thương mại- du lịch:
Hà Giang có đường biên giới giáp với Trung Quốc dài trên 270 km có cửa khẩu Quốc gia Thanh Thuỷ và Phó Bảng, ngoài ra còn có các cửa khẩu tiểu ngạch rất thuận tiện cho giao lưu buôn bán với Trung Quốc Có những địa danh độc đáo như Căng Bắc Mê, Núi Cấm, Cổng Trời, Suối Tiên, Chum vàng chum bạc, Núi
Cô Tiên và một số di tích lịch sử được xây dựng từ thế kỷ 19 như Chùa Sùng Khánh, Nhà Vương và các hang động, rừng đặc dụng phòng hộ khu bảo tồn thiên nhiên khác
Các hoạt động thương mại và du lịch tiếp tục được củng cố và phát triển Công tác quảnlý hoạt động thương nghiệp quốc doanh được chấn chỉnh do đã hạn chế được thua lỗ trong kinh doanh Đồng thời khuyến khích mạng lưới thương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc doanh phát triển đúng hướng đã góp phần làm đa dạng các mặt hàng phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân
Tổng giá trị hàng xuất khẩu đạt 4,3 triệu USD Trong đó mặt hàng chủ yếu là chì, quặng ăng ti môn
Về giá trị du lịch đạt 4,5tỷ đồng, tăng 4% so với năm 1998 Tuy nhiên hoạt động thương mại chưa làm tốt chức năng hướng dẫn sản xuất, tổ chức thu mua và tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là đối với hàng nông- lâm sản
Tóm lại, trong những năm qua thực hiện đường lối của Đảng nhất là từ Nghị quyết VII và VIII của Đảng về CNH, HĐH Trên cơ sở các Nghị quyết cụ thể của
Trang 4Trung ương Đảng chỉ đạo trên từng lĩnh vực Được sự quan tâm từ Trung ương Đảng, Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương, Đảng bộ và các dân tộc trong tỉnh đã nhận rõ trách nhiệm của mình, lãnh đạo chỉ đạo sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn và đạt được các mục tiêu cơ bản sau đây:
- Về kinh tế đã phát duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, GDP bình quân tăng 10%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ
9 Cơ sở hạ tầng được tăng cường và phát triển mạnh hơn các năm sau đều cao hơn năm trước Triển khai thực hiện tốt một số chương trình lớn của Chính phủ
và các dự án lớn của tỉnh, từ đó nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo của cán
bộ các cấp tỉnh, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng
- Bộ mặt xã hội có bước đổi mới, đời sống nhân dân được cải thiện thêm, các vấn
đề xã hội được giải quyết, nhất là giáo dục đào tạo
- An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, toàn dân đoàn kết tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng
Riêng về nông nghiệp nông thôn Hà Giang có bước phát triển mới, cơ cấu kinh tế được xác lập và chuyển dịch hợp lý, đem lại hiệu quả nhất định, kinh tế các thành phần trong nông nghiệp đã phát triển, trong đó kinh tế hộ gia đình theo mô hình trang trại được xem là một nhân tố quan trọng có ý nghĩa thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn từ sản xuất tự túc tự cấp lên sản xuất hàng hoá theo hướng công nghiệp hoá
Sức sản xuất trong nông nghiệp được khai thác, tiềm năng được phát huy một cách hợp lý hơn; sản xuất ngày một phát triển, sản phẩm nông nghiệp tăng, thu
Trang 5nhập đời sống nhân dân có bước nâng lên, góp phần xoá đói giảm nghèo, ổn định đời sống nhân dân Cơ sở vật chất- kỹ thuật đầu tư cho nông, lâm nghiệp tăng cường; công tác khuyến nông, khuyến lâm được coi trọng hơn, tiến bộ khoa học
kỹ thuật được tăng cường áp dụng tốt hơn, sự phân công lao động sản xuất kinh doanh đa dạng, năng động đã thúc đẩy và góp phần xây dựng cơ cấu nông thôn mới ngày một tiến bộ, hợp lý
Ii thực trạng công tác quản lý và sử dụng NSNN của tỉnh hà giang năm 1997 -
1999
Năm 1999 là năm thứ ba thực hiện luật NSNN Mặc dù tỉnh mới được tái lập, cơ
sở vật chất kỹ thuật, vốn liếng còn có nhiều khó khăn thiếu thốn Bên cạnh đó lại chịu ảnh hưởng của thời tiết thất thường và sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ của các nước trong khu vực Song với tinh thần đoàn kết, chủ động khắc phục khó khăn của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân, vì vậy nền kinh tế của tỉnh vẫn tiếp tục tăng trưởng, phát triển, nguồn thu NSNN tiếp tục tăng qua các năm
Để thấy rõ thực trạng công tác này, ta có thể nghiên cứu kết quả, các chỉ tiêu về hoạt động thu, chi ngân sách của tỉnh từ năm 1997 đến 31/12/1999
1 Về công tác quản lý thu NSNN của tỉnh Năm 1997: Tổng thu NSNN đạt 356.545,4 triệu đồng, trong đó: đầu tư về NS
TW là 9.023 triệu
- NS để lại địa phương là 349.522,4 triệu
Trang 6Cơ cấu nguồn thu: thu trên địa bàn 47.264,5 triệu; thu viện trợ 1.000 triệu; thu từ NSTW 295.861,2 triệu; thu hút dư năm trước 12.419,7 triệu; thu từ đi vay 2.000 triệu
Năm 1998: Tổng thu NSNN là 431.621 triệu, trong đó:
- Điều tiết về NSTW là 12.254 triệu
- NS để lại địa phương là 419.367 triệu
Như vậy nếu so với kế hoạch thì 1998 thu đạt 113% và tăng so với năm 1997 là 120,3%, bao gồm: thu trên địa bàn 55.749 triệu, đạt 1264% kế hoạch hoá giao tăng so với năm 1997 là 138,7%; thu bổ sung từ NSTW 337.569 triệu đạt 112,8%
kế hoạch; thu kết dư năm trước 1.148 trệi, đi vay 27.350 triệu; thu trái phiếu kho bạc 9.760 triệu
Năm 1999: thực hiện là 521.416 triệu đạt 102,1% so với kế hoạch và tăng so với năm 1998 là 120,8%, trong đó:
- Điều tiết về NSTW theo quy định là 18.977 triệu
- NS để lại địa phương là 502.439 triệu
Các nguồn thu bao gồm: thu trên địa bàn là 64.521 triệu, đạt 124,1% kế hoạch, so với năm 1998 tăng 115,6%; thu viện trợ 16.609 triệu; thu bổ sung từ NSTW là 325.617 triệu; thu kết dư năm trước 5.535 triệu; thu từ đi vay là 13.067 triệu Qua khảo sát kết quả thu NSNN qua các năm 1997- 1999 cho thấy tổng số thu NSNN đều tăng qua các năm và đều hoàn thành kế hoạch được giao Tuy nhiên nếu xem xét từng chỉ tiêu cụ thể thì thấy có sự tăng, giảm không đều nhau, chẳng hạn:
Trang 7+ Thu từ DNNN trung ương:
Năm 1997 thực hiện 3.558 triệu, đạt 95,7% so với kế hoạch Năm 1998 dự toán
kế hoạch thu 3.200 triệu, thực hiện cả năm là 3.725 triệu, đạt 116,1% so với kế hoạch và bằng 104,7 so với năm 1997 Năm 1999 thực hiện 4.000 triệu, đạt 123% so với kế hoạch cả nămg và bằng 107,3% so với năm 1998 Số vượt thu chủ yếu tập trung vào các đơn vị kinh doanh có hiệu quả như: bưu điện tỉnh, điện lực tỉnh
+ Thu từ DNNN địa phương:
Năm 1997 kế hoạch giao thu 6.333 triệu, thực hiện là 5.268 triệu, đạt 83,2% so với kế hoạch cả năm Nguyên nhân do tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn, cho nên 16/27 doanh nghiệp không hoàn thành kế hoạch nộp ngân sách Năm 1998: kế hoạch giao 7.754 triệu, thực hiện 7.029 triệu đạt 90,6% so với kế hoạch và bằng 33,4% so với năm 1997 Tuy nhiên còn một số doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh còn nhiều mặt hạn chế, cho nên chưa làm tốt nộp thuế cho NSNN Chẳng hạn như Công ty thương mại tổng hợp Hà Giang, Công ty xuất nhập khẩu, Công ty du lịch, Công
ty chế biến nông sản thực phẩm Năm 1999 thực hiện 7000 triệu đồng đạt 91,9% so với kế hoạch cả năm và bằng 99,5% so với năm 1998
+ Thu ngoài quốc doanh:
Cùng với sự phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, kinh tế ngoài quốc doanh cũng đã có những chuyển biến nhất định Do đó hàng năm đóng góp vào NSNN ngày càng tăng:
Trang 8Năm 1997: Nộp vào NSNN 12.334 triệu, đạt 103% kế hoạch; năm 1998 nộp vào ngân sách 15.400 triệu, đạt 104,45 so với kế hoạch và bằng 120% so với năm
1997 Năm 1999 nộp vào ngân sách 16.290 triệu, đạt 130,3% so với kế hoạch và bằng 105,7% so với năm 1998 Năm 1999 là năm đầu tiên thực hiện 2 luật thuế mới (VAT và thuế thu nhập doanh nghiệp ), cơ sở thu nộp vì có nhiều nguyên nhân cho nên thu từ hai loại thuế đó vào ngân sách thấp hơn so với thuế doan thu
và thuế lợi tức trước đây Song tổng số thu nhập vẫn tăng hơn năm 1998 Sở dĩ như vậy là do năm nay tỉnh được NSTW bổ sung vốn xây dựng cơ bản thanh toán khối lượng vượt năm 1996, 1997 và việc quản lý thu thuế từ lĩnh vực xây dựng cơ bản đã huy động kịp thời vào ngân sách địa phương
+ Lệ phí trước bạ:
Đây là loại lệ phí nhằm vào việc hướng dẫn tiêu dùng của xã hội và điều tiết các đối tượng có thu nhập cao theo chính sách hiện hành Năm 1997 thực hiện 1.085 triệu, đạt 120% kế hoạch, năm 1998 thực hiện 2.153 triệu, đạt 111,4% so với kế hoạch và tăng 119,2% so với năm 1997 Năm 1999 thực hiện 2.350 triệu, đạt 124,5% so với kế hoạch và tăng 132,2% so với năm 1998 Sở dĩ nguồn thu này tăng lên là do nhu cầu mua sắm phương tiện đi lại, và xây dựng nhà ở trong nhân dân tăng lên
+ Thuế sử dụng đất lâm nghiệp:
Trong những năm gần đây sản xuất nông nghiệp đã có bước phát triển rõ rệt, dần dần đã giải quyết được một phần quan trọng nhu cầu lương thực và bắt đầu chú ý đến sản xuất nông sản hàng hoá với tỷ suất ngày càng tăng lên Trong sản xuất
Trang 9nhờ áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, chú trọng đầu tư hệ thống thuỷ lợi, nâng cấp hệ thống kênh mương phục vụ cho tưới tiêu
Năm 1997 thực hiện 4.524 triệu, đạt 110,3% kế hoạch; năm 1998 thực hiện 4.596 triệu, đạt 100,8% kế hoạch và bằng 102% so với năm 1997; năm 1999 thực hiện 4.700 triệu, đạt 102,2% so với kế hoạch và tăng 102,2% so với năm 1998
+ Thu thuế nhà đất:
Đây là khoản thuế thu từ các đối tượng dân cư có sử dụng đất làm nhà ở Năm 1997 thực hiện 1.260 triệu, đạt 109,6% kế hoạch; năm 1998 thực hiện 1.621 triệu đạt 124,7% kế hoạch và bằng 129% so với năm 1997; năm 1999 thực hiện 1.850 triệu đạt 112,1% so với kế hoạch và bằng 114,1% so với năm 1998
+ Thuế thu nhập cá nhân:
Đây là khoản thu đánh vào những người có thu nhập cao Khoản thu này phát sinh chủ yếu từ những người làm việc trong các doanh nghiệp các Công ty liên doanh với nướ ngoài
Tổng thu năm 1997 là 80 triệu, đạt 160% kế hoạch; năm 1998 25% kế hoạch, bằng 31% của năm 1997; năm 1999 đạt 120 triệu đồng, bằng 430% so với năm
1998 Nguyên nhân tăng là do số dự án và số người làm trong các dự án nước ngoài trong tỉnh tăng lên
+ Thu từ xổ số:
Đây cũng là một nguồn thu ngân sách đáng kể của tỉnh Năm 1997 thực hiện 274 triệu đồng, đạt 274% kế hoạch; năm 1998 là 237 triệu, đạt 114,8% kế hoạch bằng
Trang 10105% của năm 1997; năm 1999 thực hiện 350 triệu, đạt 125% kế hoạch và bằng 121,9% của năm 1998
+ Thu từ phí và lệ phí:
Năm 1997 thực hiện 1033 triệu; năm 1998 thực hiện2.055 triệu, đạt 171,3% kế hoạch và bằng 198,9% năm 1997; năm 1999 thực hiện 2.300 triệu, đạt 119% kế hoạch bằng 111,9% năm 1998 Đây là khoản thu tuy không ổn định, nhưng nếu quản lý tốt tận thu triệt để sẽ góp phần đáng kể vào cho NS địa phương
+ Thu từ thuế chuyển quyền sử dụng đất:
Năm 1997 thực hiện 568 triệu, đạt 167% kế hoạch; năm 1998 thực hiện 713 triệu, đạt 157,7% kế hoạch và bằng 125,5 so với năm 1997; năm 1999 thực hiện
800 triệu đồng, đạt 160,6% kế hoạch và bằng 112,2% năm 1998
+ Thu từ cấp giấy quyền sử dụng đất:
Năm 1997 thựchiện 677 triệu, đạt 123,1% kế hoạc; năm 1998 thực hiện 1913 triệu, đạt 202,6% kế hoạch và bằng 282,5% năm 1997; năm 1999 thực hiện 2.700 triệu, đạt 148% kế hoạch và bằng 141,1% năm 1998 Nguyên nhân tăng thực hiện chủ trương mở rộng phố phường thị xã, thị trấn cùng với việc đẩy mạnh công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thị xã, thị trấn
+ Thu từ đánh thuế xuất nhập khẩu:
Khoản thu này phải điều tiết 100% về NSTW Năm 1997 thu 7.038 triệu, đạt 100,5% kế hoạch; năm 1998 thu được 1.057 triệu, đạt 11,1% kế hoạch và tăng 15% năm 1997; năm 1999 thu được 6000 triệu, đạt 200% kế hoạch và bằng 567,6% năm 1998 Sở dĩ năm 1998 Hải quan thu đạt thấp so với kế hoạch là vì:
Trang 11- Các doanh nghiệp địa phương tìm đối tác xuất nhập khẩu còn hạn chế Ví dụ mặt hàng quặng sắt được xuất khẩu từ cuối tháng 4/1998 nhưng số lượng cũng như giá trị tính thuế thấp; các doanh nghiệp tỉnh bạn xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá qua các cửa khẩu Hà Giang giảm đi
- Sản lượng các mặt xuất khẩu chủ lực của tỉnh (như chè, quặng) giảm đi, hơn nữa tổng trị giá tính thuế lại thấp đi Còn mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nông sản, hàng tiêu dùng và tư liệu lao động phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng lại chủ yếu qua con đường tiểu ngạch hoặc qua trao đổi của dân cư ở vùng biên giới, nên khó thu thuế
- Hàng xuất - nhập qua hình thức mậu dịch (chính ngạch) chủ yếu là nguyên liệu phục vụ sản xuất, máy móc thiết bị thì lại có thuế suất thấp
Ngoài các khoản thu đã nêu trên, còn có các khoản thu từ bán nhà sở hữu Nhà nước; thu cho thuê đất; thu từ các khoản đóng góp của dân cư Tuy các nguồn thu này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu của ngân sách tỉnh, nhưng do biết cách tận thu, nên nó cũng góp phần quan trọng vào sự cân đối ngân sách chung của tỉnh
Tóm lại, qua sự phân tích trên đây về nguồn thu ngân sách, nhìn chung thu NSNN trên địa bàn tỉnh Hà Giang có chiều hướng tăng lên, năm sau thường lớn hơn năm trước Điều này được thể hiện trong việc thực hiện kế hoạch thu (không
kể phần trợ cấp của Trung ương: năm 1997 là 47.264,5 triệu, năm 1998 là 55.794 triệu, năm 1999 là 64.500 triệu) qua các năm đều vượt kế hoạch
Trang 12Song trên thực tế các chỉ tiêu thu chưa ổn định và chưa lớn Nguyên nhân của những thành công và tồn tại như sau:
- Nhờ có sự quan tâm đúng mức của lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo sát sao của chính quyền địa phương từ tỉnh đến cơ sở về hoạch định chuyển đổi cơ cấu kinh
tế và có các biện pháp khai thác và phát triển nội lực của các thành phần kinh tế,
do đó bước đầu đã có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế tăng lên với tốc độ khá nhanh và ổn định
- Nhà nước phát huy và tăng cường vai trò quản lý ở tầm vĩ mô, từng bước tạo ra
và không ngừng hoàn thiện các môi trường thuận lợi để khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển như luật đầu tư, các luật về thuế, luật NSNN và kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật và văn bản dưới luật, nhờ đó mà động viên có hiệu quả sức người, sức của vào phát triển sản xuất kinh doanh, thực hiện quyền và nghĩa vụ của người công dân, phát huy dân chủ hóa và bình đẳng trước pháp luật của các chủ thể trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường
- Được sự quan tâm trực tiếp của các cấp Đảng và chính quyền từ tỉnh đến cơ sở trong công tác tổ chức thu NSNN Coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức cho các đối tượng nộp thuế tự giác thấy được nghĩa vụ và quyền lợi của công dân, của mọi ngành, mọi cấp Các ngành chức năng có sự phối hợp chặt chẽ, giúp cho chính quyền các cấp quản lý, khai thác, bồi dưỡng các khoản thu cho NSNN
Trang 13Ngoài các nguyên nhân làm tăng thu cho NSNN, còn có những nguyên nhân làm hạn chế đến thu ngân sách là:
- Nhận thức của một bộ phận những người kinh doanh dịch vụ và các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân chưa cao, chưa tự giác, cho nên nộp thuế chưa đầy đủ, tìm mọi cách để chốn thuế, gian lận thuế, chây ỳ nộp thuế v.v
- Phẩm chất, năng lực của một bộ phận cán bộ thuế còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu Một số cán bộ thuế do ảnh hưởng của lối sống thực dụng, đã lợi dụng chức quyền thông đồng với người kinh doanh dẫn đến vi phạm quy định luật thuế như tính sai doanh thu bán hàng, bao cho miễn thuế bừa bãi
- Cơ quan chức năng chưa hướng dẫn các đối tượng đăng ký kê khai nộp thuế và hướng dẫn thực hiện chế độ ghi chép sổ sách kế toán, còn bỏ sót nguồn thu, phản ánh không trung thực, gây thất thoát cho NSNN
- Sự phối kết hợp giữa các cơ quan chuyên môn với chính quyền, đặc biệt là chính quyền xã trong quản lý thu thuế chưa tốt
- Do ảnh hưởng của thiên tai, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực cũng tác động không tốt đến hoạt động thu NSNN
Tóm lại, trên đây là một số nguyên nhân ảnh hưởng tích cực làm tăng thu ngân sách cũng như những nguyên nhân làm hạn chế thu ngân sách của tỉnh Trong đó
có những nguyên nhân chủ quan của cán bộ; có nguyên nhân do cơ chế lạc hậu, thiếu linh hoạt; có nguyên nhân khách quan như thiên tai Vì vậy, cần có những biện pháp tích cực, khắc phục có hiệu quả những mặt tích cực, có như vậy mới thực hiện tốt hơn thu ngân sách cho tỉnh
Trang 142 Về quản lý chi NSNN Quán triệt chủ trương của Nhà nước là giảm bao cấp đối với các DNNN, tăng tính tự chủ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; tăng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; tăng đầu tư cho chiến lược con người như giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, tăng chi cho phúc lợi xã hội, xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, bảo vệ môi trường, công bằng xã hội Như vậy cơ cấu chi
có sự thay đổi theo hướng tích cực
Đối với Hà Giang do tình hình và đặc điểm đã nêu trên, cho nên nhu cầu chi để đảm bảo hoạt động cho bộ máy quản lý Nhà nước và cho mục tiêu phát triển kinh
tế xã hội, giữ vững an ninh và trật tự an toàn xã hội rất lớn Song nguồn thu ngân sách lại rất hạn hẹp Vì vậy trong năm qua tỉnh đã chủ trương tiết kiệm chi thường xuyên hàng năm, dành từ 29% - 33% NS để chi cho đầu tư phát triển, trong đó xây dựng cơ bản từ 27% - 30%, chi hỗ trợ cho các DNNN từ 1% - 2% Nhờ quản lý tốt chi ngân sách hàng năm cho nên đã đáp ứng đầy đủ các nhu cầu chi thiết yếu, theo đúng kế hoạch đã được duyệt và đúng chế độ Nhà nước quy định
+ Về chi cho đầu tư phát triển:
Mấy năm qua chi cho đầu tư phát triển chiếm tỷ lệ lớn Đến nay cơ bản các công trình đã phát huy tác dụng, tạo tiền đề vật chất - kỹ thuật cho sự phát triển kinh
tế - xã hội
Năm 1997 tổng số vốn cấp phát cho đầu tư phát triển 106.123 triệu, đạt 92,2% kế hoạch Năm 1998 là 132.116 triệu, đạt 100,2% kế hoạch Năm 1999 là 153.459
Trang 15triệu; tương ứng trợ cấp cân đối ngân sách là 62.000 triệu; Nguyên nhân chi đầu
tư phát triển tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn là vì xây dựng cơ cấu hạ tầng, đặc biệt là xây dựng cơ sở vật chất cho nông nghiệp và nông thôn, trọng tâm là đường giao thông, thuỷ lợi, điện, nước sinh hoạt, trường học, trạm xá nhu cầu đòi hỏi rất lớn
+ Về chi thường xuyên:
Đây là khoản chi chiếm tỷ trọng quá lớn trong tổng chi ngân sách của tỉnh, hiện chiếm 50 - 53% Khoản chi này có xu hướng ngày càng tăng nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của các cơ quan hành chính sự nghiệp, cho các sự nghiệp kinh tế văn hoá, xã hội Cơ cấu chi thường xuyên:
- Chi cho sự nghiệp phát triển kinh tế: chủ yếu chi cho phát triển nông nghiệp, thuỷ lợi, lâm nghiệp, giao thông, kiến thiết thị chính và 7 chương trình kinh tế của tỉnh
Năm 1997 thực hiện 32.318 triệu, đạt 117,4% kế hoạch; năm 1998 thực hiện 35.491 triệu, đạt 100% kế hoạch; năm 1999 thực hiện 43.883 triệu, đạt 102,8%
kế hoạch Mặc dù ngân sách địa phương còn hạn hẹp, nhưng tỉnh đã ưu tiên đầu
tư cho phát triển kinh tế, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện từng bước xoá đói, giảm nghèo
- Chi cho sự nghiệp giáo dục đào tạo: Do đặc thù của tỉnh miền núi như đã phân tích ở trên, cho nên khoản chi này cũng là cần thiết cấp bách và cũng chiếm khối lượng và tỷ lệ khá lớn trong ngân sách tỉnh Khoản chi này bao gồm: tiền lương,
Trang 16các khoản phụ cấp cho giáo viên, học sinh người dân tộc, sách giáo khoa vùng cao và đồ dùng thiết bị, tài liệu của từng chuyên ngành Năm 1997 thực hiện 76.385 triệu, đạt 107,4% kế hoạch; năm 1998 thực hiện 92.557 triệu, đạt 100%
kế hoạch; năm 1999 thực hiện 99.321 triệu, đạt 100,1% kế hoạch Năm 1999 NS địa phương luôn đảm bảo cấp phát và chi trả kịp thời các khoản chi lương cho sự nghiệp giáo dục Đặc biệt Hà Giang đang thực hiện nhiệm vụ xoá mù chữ phổ cập giáo dục tiểu học, cho nên khoản chi này khá lớn Năm 1999 Hà Giang được công nhận là tỉnh đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học
- Chi cho sự nghiệp y tế: Với phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh, công tác phòng bệnh, phòng dịch được coi trọng thường xuyên, thực hiện đầy đủ các chương trình y tế quốc gia, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho các bệnh viện, trung tâm mạng lưới y tế xã được xây dựng và củng cố đi vào hoạt động có hiệu quả Năm 1997 chi 13.278 triệu, đạt 125% kế hoạch; năm 1998 thực hiện 16.980 triệu, đạt 100% kế hoạch; năm 1999 thực hiện 16.477 triệu, đạt 100,8% kế hoạch Các khoản chi cho y tế bao gồm chi lương, phụ cấp cơ bản, phụ cấp ngành và chi cho công tác chuyên môn nghiệp vụ, sự nghiệp y tế Năm 1999 thực hiện cơ chế cấp phát kinh phí theo ngành dọc đã giảm được đầu mối quản lý cho ngành tài chính địa phương
- Chi cho sự nghiệp văn hoá, thông tin, phát thanh - truyền hình, thể dục thể thao: Đây là khoản chi có ý nghĩa rất quan trọng góp phần đưa đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đi vào đời sống của nhân dân các dân tộc
Trang 17Trong những năm qua phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng của tỉnh được củng cố và phát triển, các cuộc hội diễn, hội thảo được tổ chức dưới nhiều hình thức, nhiều thể loại, được đông đảo các ngành, các cấp, các tầng lớp nhân dân tham gia Hoạt động văn hoá, thông tin hướng về cơ sở để hoạt động Năm 1997
đã chi 4.697 triệu, đạt 98,5% kế hoạch; năm 1998 thực hiện 4.062 triệu, đạt 100% kế hoạch; năm 1999 thực hiện là 3.680 triệu, đạt 106,2% kế hoạch
- Chi cho công tác phát thanh truyền hình: Năm 1997 chi 3.632 triệu, đạt 142,9%
kế hoạch; năm 1998 là 2.991 triệu, đạt 100% kế hoạch; năm 1999 là 3085 triệu, đạt 102,6% kế hoạch
- Các khoản chi đảm bảo xã hội: Ngoài các khoản chi về trợ cấp xã hội; trợ cấp cho các gia đình thương binh, liệt sĩ, trả lương cho cán bộ hưu trí, NS tỉnh còn giành thêm một khoản kinh phí thăm hỏi, quà tặng nhân ngày thương binh liệt sỹ, xây dựng nhà tình nghĩa, trợ cấp xã hội cho người già cô đơn, trẻ em mồ côi, tàn tật Năm 1997 NS tỉnh chi 2.973 triệu, đạt 100% kế hoạch; năm 1998 chi 4.730 triệu, đạt 100% kế hoạch; năm 1999 chi 6.066 triệu, đạt 128,2% kế hoạch Điều này thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước với đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta
- Chi cho công tác quản lý hành chính: Đây là khoản chi đảm bảo hoạt động cho các cơ quan quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể Do ngân sách hạn hẹp, nên việc chi mua sắm trang thiết bị để nâng cao hiệu quả công tác còn rất hạn chế Điều kiện làm việc của cán bộ còn nhiều thiếu thốn Nhà nước thực hiện chi theo dự toán được duyệt, thắt chặt chi thường xuyên, thực hiện hết sức tiết kiệm khoản