ở một mức độ đáng kể, môi trường đó được tạo nên bởi nhận thức của con người ở mọi tầng lớp xax hội về vai trò của khoa học và công nghệ Thấy được ý nghĩa của môi trường khoa học và côn
Trang 1cả phong trào quần chúng nhân dân đang tham dự vào hoạt đông công nghệ trong sản
xuất xã hội Bất cứ hoạt động gì trong thực tiễn đời sống và sản xuất đều có quan hệ
tới KH- CN
Yếu tố quan trọng hàng đầu cho tiến bộ khoa và công nghệ là phải tạo ra một mội
trường xã hội thuận lợi cho khoa học và công nghệ phát triển ở một mức độ đáng kể,
môi trường đó được tạo nên bởi nhận thức của con người ở mọi tầng lớp xax hội về vai
trò của khoa học và công nghệ
Thấy được ý nghĩa của môi trường khoa học và công nghệ dân chúng là để từ đó
cần chú trọng các biện pháp tác động về mọi mặt : giáo dục, đào tạo, tuyên truyền, phổ
biến, kích thích kinh tế và các biện pháp khác
Đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học
Đào tạo là khâu đầu tiên của một chu trình hình thành và sử dụng nguồn nhân lực
quốc gia về mặt khoa học và công nghệ Nói đến đào tạo đối với nguồn nhân lực này
trước hết phải kể đến toàn bộ hệ thống giáp dục các cấp, từ phổ thông cơ sở, phổ thông
trung học, giáo dục chuyên nghiệp đến đại học và trên đại học
Tuy nhiên, so với yêu cầu chuẩn bị cán bộ khoa học và công nghệ để đẩy mạnh
công nghệ hoá trong giai đoạn sắp tới thì đội ngũ cán bộ ấy vẫn thiếu về số lượng và
yếu về chất lượng Không thể vì một số khó khăn trước mắt mà hạn chế qui mô và tốc
độ đào tạo Con người luôn luôn là vốn quý nhất và đào tạo nhân lực lao động khoa
học là vấn đề chiến lược trọng yếu mà bất cứ nước nào muốn phát triển thành công
cũng đều phải hết sức quan tâm
Hệ thống giáo dục phổ thông, khâu đầu của đào tạo khoa học và công nghệ của
chúng ta hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn Và hệ thống giáo dục đại học và
Trang 2chuyên nghiệp còn nhỏ bé, chưa cân đối với các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc
dân Về cơ bản, cách giáo dục của ta còn nặng về trang bị kiến thức, nặng về lý thuyết,
nhẹ về bồi dưỡng kỹ năng thực hành, ít chú trọng phương pháp tự đào tạo trong hoạt
động thực tiễn Đó cũng là nhược điểm phổ biến của hệ thống giáo dục của nhiển nước
xã hội chủ nghĩa mà một bộ phận quan trọng cán bộ khoa học và công nghệ của chúng
ta đã được đào tạo qua
Chúng ta không thể vừa lòng với tình trạng sử dụng cán bộ khoa học và công nghệ
không bình thường như hiện nay và càng không thể định con đường phát triển của
ngành đào tạo đại học,mà không tính đến bước phát mạnh mẽ của nước ta sau này Dù
có những khó khăn tạm thời ngày hôm nay, chúng ta vẫn phải ra sức mở rộng quy mô
và tốc độ đào tạo nhân lực nhân lực khoa học và công nghệ cho những thập kỷ sắp tới
Đào tạo con người, như kinh nghiệm cho thấy không bao giờ là thừa đối với một nước
đang phát triển như nước ta
Vấn đề sử dụng cán bộ khoa học- công nghệ
Nếu người cán bộ được sử dụng tốt, trong quá trình làm việc sẽ diễn ra sự hiện đại
hóa,đổi mới kiến thức do đào tạo trước đó, sẽ không có sự hao mòn vô hình và cán bộ
khoa học, công nghệ đó sẽ trưởng thành, phát triển với đà tiến bộ chung
Bức tranh sẽ hoàn toàn ngược lại khi nhân viên được đào tạo ra không được sử
dụng kiến thức nghề nghiệp của mình một cách thoả đáng Khối lượng kiến thức ban
đầu sẽ không có cơ hội trau dồi và hiện đại hoá, không được bổ xung những nhân tố
mới, giá trị sử dụng ngày càng kém đi Nó sẽ bị sói mòn với tốc độ cực kỳ nhanh
chóng
Trang 3Từ đây phải thường xuyên đánh giá lại năng lực đã có, không thể coi năng lượng
khoa học- công nghệ là bất biến.Sử dụng là tiền đề và điều kiện tiên quyết cho phát
triển nhân lực khoa học- công nghệ Tiềm lực cán bộ chỉ có thể phát triển trong điều
kiện được phát huy năng lực của mình một cách thoả đáng
Không ít trường hợp sự đánh gía tiềm lực khoa học- công nghệ của đất nước ta
hiện nay tỏ ra lạc quan, khi chỉ nhìn vào số lượng cơ cấu, trình độ đào tạo ban đầu của
đội ngũ cán bộ Chúng ta hầu như đã có đủ tất cả các ngành nghề với số lượng khá
đông cho một nền kinh tế như nước ta Song nhiều lĩnh vực chúng ta không thể huy
động được lực lượng cần thiết, mặc dù, trên danh nghĩa, chuyên ngành nào đó đã có
một đội ngũ cán bộ được đào tạo không nhỏ Như vậy, năng lực thực tế kém xa năng
lực trên danh nghĩa
Như vậy nếu đào tạo không đi đôi với sử dụng và phát huy trình độ đã có thì không
làm tăng thêm tiềm lực khoa học- công nghệ của đất nước, trái lại còn có thể giảm sút
so với tích tụ ban đầu của nguồn nhân lực
b Bảo đảm nguồn vốn cho sự phát triển KH- CN
Bên cạnh nhân lực thì vốn là điều kiện quan trọng cho phát triển khoa học- công
nghệ Muốn cho sự nhiệp công nghiệp hoá, hiện đai hoá được tiến hành với tốc độ
nhanh cần phải có cơ chế, chính sách và biện pháp huy động được nguồn vốn nhiều
nhất, quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả nhất
Vấn đề huy động vốn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá có ý nghĩa quan
trọng đối với nền kinh tế nước ta Song song với việc huy động các nguồn vốn, vấn đề
sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn cũng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Yêu cầu bảo
toàn vốn được thể hiện trước hết trong công tác tổ chức tài chính, có nghĩa là phải lựa
Trang 4chọn các phương án tối ưu trong tạo nguồn tài chính Sự cần thiết của chế độ bảo toàn
và phát triển vốn trước hết xuất phát từ yêu cầu của cơ chế quản lý kinh tế mới, phải
hoạch toán kinh tế kinh doanh, xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá là phải đảm bảo tính hiệu quả kinh tế cao Vì vậy, để quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và dản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao, để nền kinh
tế phát triển bền vững, tất yếu phải bảo toàn và phát triển vốn, phải nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn
chương III : Thực trạng KH- CN Việt Nam
1 Thành công
KH- CN đã tập trung vào sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi
trường Đã áp dụng các công nghệ và phương pháp nghiên cứu tiên tiến: viễn thám,
địa vật lý… vào công tác điều tra, thăm dò tài nguyên thiên nhiên Nhiều kết quả
nghiên cứu môi trường được đánh giá cao : nghiên cứu chính sánh và biện pháp bảo vệ
sự đa dạng sinh học, cân bằng sinh thái và xử lý ô nhiễm nước, không khí ở các khu
công nghiệp tập trung, các thành phố lớn… các biện pháp trồng rừng, chống suy thái
đất, cải tạo đất…
KH- CN đã chú ý phát triển các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ cao Nhiều
thành tựu toán học, cơ học, vất lý của ta… được đánh giá cả ở nước ngoài Công nghệ
thông tin đã phát triển và mở rộng ứng dụng trong hệ thống ngân hàng, quản lý hành
chính, sản xuất, kinh doanh Đồng thời, công nghệ chế tạo vật hiệu mới, công nghệ
sinh học, tự động hoá… đã từng bước được quan tâm Trong nông nghiệp Nhờ áp
dụng những tiến bộ KH- CN về giống cây trồng, quy trình kỹ thuật thâm canh và
Trang 5chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, chúng ta đã tuyển chọn, lai tạo hàng chục giống lúa mới,
phù hợp các vùng sinh thái khác nhau, tạo mức tăng trưởng quan trọng Nghiên cứu và
tạo nhiều loại giống gia súc, gia cầm, có giá trị kinh tế cao, thúc đẩy chăn nuôi phát
triển Hơn 20 năm qua, năng suất lúa bình quân đã tăng hơn 2 lần Tổng sản lượng
lương thực 2004 đạt hơn 39,12 triệu tấn Nhiều loại phân vi sinh, thuốc trừ sâu vi sinh,
chất kích thích tăng trưởng thực vật … đã được sử dụng vào sản xuất, bảo vệ, phát
triển các loại cây lương thực Cơ cấu cây trồng đã được thay đổi cơ bản Trước năm
1989, từ chỗ còn thiếu lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đéng
thứ 2 thế giới sau Thái Lan
Về thuỷ sản nhờ áp dụng kỹ thuật mới, nhiều năm nay năng suất cao Tháng 5
năm 2006 sản lượng khai thác thuỷ sản ở Việt Nam đạt 166500 tấn đưa tổng sản lượng
khai thác 5 tháng đầu năm 2006 ước đạt 799.500 Trong đó sản lượng nuôi trồng tháng
5 năm 2006 đạt 135.000 tấn Theo ước tính của Bộ Thuỷ sản, giá trị kim ngạch xuất
khẩu tháng 5 năm 2006 đạt 250 triệu USD, nâng giá trị kim ngạch xuất khẩu 5 tháng
Đặc biệt kỹ thuật nuôi tôm đã được ứg dụng khắp nơi, tạo công ăn việc làm cho
350000 ngư dân ven biển góp phần cải thiện và tăng kim ngạch xuất khẩu các ngành
thuỷ sản.Việc nuôi trồng thuỷ sản đã có sự đầu tư khoa học thích đáng trong việc tận
dụng mặt nước ao, hồ, nước biển mà sản lượng khai thác,nuôi trồng ,xuất khẩu tăng
đáng kể
Trong công nghiệp, hàng loạt kỹ thuật tiên tiến được áp dụng, tạo nhiều sản phẩm
chất lượng cao : hàng may mặc, thuốc lá, đồ nhựa, cao su, đồ điện máy, điện tử…
Công nghiệp tăng trưởng bình quân khoảng 23% năm 2004 đạt 2,1 tỷ USD, công
Trang 6nghiệp viễn thông đạt 200 triệu USD, máy tính 1 triệu USD, điện tử 730 triệu USD,
công nghệ phần mềm 170 triệu USD
Trong lĩnh vực năng lượng, nhiều công trình, nghiên cứu KH- CN đã tập trung vào
công tác quy hoạch, sử dụng hợp lý các nguồn năng lượng Đổi mới CN xây dựng các
nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện, nghiên cứu các phương pháp giảm tổn thất năng lượng
trong truyền tải điện và đổi mới CN Hệ thống năng lượng đã phát triển nhanh chóng :
80% địa bàn xã ở khu vực nông thôn, hơn 50% hộ gia đình đã có điện sử dụng
Trong giao thông vận tải, KH- CN đã góp phần quan trọng vào việc nâng cấp và
phát triển mạng lưới, đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường sông… đã xây dựng
một số công trình quan trọng bằng việc áp dụng các CN mới : đóng tàu biển trọng tải
3.000 tấn, công trình hạ tầng cất cánh sân bay Tân Sơn Nhất, thắng thầu nhiều công
trình giao thông ở Lào, Campuchia… với việc áp dụng CN mới trong gia cố nền móng
và thi công mặt đường
Trong viễn thông, đã xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng thông tin hiện đại bằng
việc áp dụng kỹ thuật số, thông tin vệ tinh, cáp sợi quang… đủ mạnh để hoà nhập
mạng thông tin quốc tế và khu vực Viễn thông nước ta hiện được xếp vào một trong
những nước có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới Bên cạnh mạng lưới hữu tuyến
điện phát triển rộng khắp với các loại hình dịch vụ đa dạng, các hệ thống thông tin di
động, máy sóng ngắn, cực ngắn, cũng phát triển mạnh, được các tổ chức kinh tế, cơ
quan trong và ngoài nước sử dụng Thị trường tin học nước ta những năm qua, có tốc
độ tăng trưởng trung bình hằng năm khoảng 40-50% Hiện các cơ quan Đảng, chính
phủ đang sử dụng hàng vạn chiếc máy vi tính, trong đó lưu giữ nhiều thông tin, số liệu
bí mật quan trọng Liên quan đến kinh tế, quốc phòng và an ninh quốc gia Trên đà ấy,
Trang 7việc sử dụng máy vi tính ở nước ta bắt đầu chuyển từ giai đoạn sử dụng riêng lẻ, sang
hình thức sử dụng mạng cục bộ và mạng diện rộng
Trong y tế, hàng loạt các thành tựu chăm sóc sức khoẻ ban đầu, miễn dịch học, cắt
giảm, tỷ lệ mắc các chứng bệnh nguy hiểm : lao, phong, sốt rét, ho gà, bại liệt, sởi…
Kết hợp y học truyển thống với y học hiện đại, sản xuất nhiều mặt hàng thuốc mới
Nâng cao trình độ trong phòng và chuẩn đoán bệnh, ngăn ngừa bệnh truyền nhiễm :
viêm gan, viêm não Nhật Bản…
Đến nay nước ta đã có đội ngũ cán bộ KH- CN hơn 800.000 người trình độ đại hoc,
8.775 phó tiến sĩ- tiến sĩ, gần 3.000 giáo sư- phó giáo sư, hơn 45.000 cán bộ nghiên
cứu triển khai thuộc hơn 300 viện nghiên cứu- trung tâm và hơn 20.000 nhà khoa học
vừa nghiên cứu, vừa giảng dạy trong 105 trường đại học, cao đẳng, hơn 80 cơ sở đào
tạo sau đại học Đây thực sự là một vốn quý cho sự nghiệp CNH, HĐH, được đào tạo
từ nhiều nguồn khác nhau
2 Hạn chế
Đầu tư cho khoa học công nghệ còn ở mức thấp
Việt Nam chưa có chính sách khoa học dông nghệ nhất quán thể hiện bằng hệ
thống pháp luật như các quốc gia khác Thời gian qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều
cố gắng tạo nguồn tài chính để đầu tư cho khoa học và công nghệ nhưng chưa thể đáp
ứng được nhu cầu phát triển Theo số liệu thống kê từ năm 1965 đến nay, mức đầu tư
tài chính từ ngân sách nhà nước dành cho hoạt đông nghiên cứu và triển khai chiếm từ
0,2% đến 0,82% thu nhập quốc dân Trong 10 năm đổi mới, nước ta đạt được những
thành tựu kinh tế đáng mừng, tổng kinh phí đầu tư cho khoa học và công nghệ được
nâng lên dần, nhưng do giá cả hàng hóa tăng cho nên giá trị thực tế của vốn đầu tư
Trang 8không tăng Theo số liệu của Bộ KH- CN và môi trường thì đầu tư tài chính cho kha
học công nghệ chưa vượt quá 1% ngân sách tiêu dùng hằng năm Chi phí bình quân
hằng năm cho một cán bộ khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước khoảng 1.000
USD, rất thấp so với mức bình quân của thế giới hiện là 55.324 USD và kếm các nước
trong khu vực châu á Mức đầu tư thấp nhưng lại phân tán và không ít trường hợp sử
dụng lãng phí Tuy Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, nghị quyết sáng suốt,
nhấn mạnh vai trò của khoa học công nghệ và coi trọng nó không kém gì các quốc gia
khác trên thế giới, nhưng mức đầu tư cho khoa học vẫn rất thấp Có 2 khả năng lý giải
tình hình trên Thứ nhất, nếu huy động gấp đôi vốn cho nghiên cứu khoa học và công
nghệ thì việc nghiên cứu khoa học có mang lại hiệu quả thiết thực hay không trong khi
trình độ quản lý khoa học hiện tại còn yếu kém Thứ hai, ngân sách nhà nước trong
nhiều năm thâm hụt, phải bảo đảm chi cho nhiều ngành cũng quan trọng, do đó mức
đầu tư kinh phí cho khoa học nhiều khi lại phụ thuộc vào quan điểm của người lãnh
đạo và các cơ quan quản lý của Nhà nước Rốt cục quy định trong các văn bản và chỉ
thị của Đảng dành 2% ngân sách hằng năm cho hoạt động khoa học và công nghệ vẫn
không thực hiện được
Với mức đầu tư như vậy nên chỗ làm việc chật chội, thiết bị lạc hậu, phòng thí
nghiệm và cụng cụ thí nghiệm thiếu… cơ quan khoa học và công nghệ chỉ có thể hoạt
động cầm chừng, chỉ giải quyết những vấn đề trước mắt mà không thể tạo ra được
thành quả khoa học có tầm chiến lược Nếu không có các chính sách điều chỉnh, các cơ
quan nghiên cứu khoa học chắc chắn sẽ rơi vào tình trạng tồi tệ hơn, đội ngũ cán bộ
nghiên cứu có thể bị chia xẻ và giã từ những công việc chuyên môn mà lâu nay họ tâm
huyết
Trang 9Lực lượng cán bộ nòng cốt thiếu và già yếu
Kết quả điều tra 233 cơ quan khoa học công nghệ chủ yếu thuộc trung ương cho
thấy : trong số 22.313 cán bộ công nhân viên thì số người có trình độ trên đại học là
2.509 người, cao đẳng và đại học 11.447 người và dưới cao đẳng là 8.357
Trong số các cán bộ có trình độ tiến sĩ và phó tiến sĩ chỉ có 15,1% là nữ, cũng
trong số các cán bộ có trình độ học vấn cao này chỉ có 19,9% giữ các chức vụ l•nh
đạo
So với yêu cầu phát triển thì nhiều ngành còn thiếu lực lượng lao động có trình độ
khoa học- kỹ thuật Trước tình hình mở cửa nhiều công ty có vốn đầu tư nước ngoài,
công ty tư nhân đã thu hút số lượng đáng kể lao động có trình độ chuyên môn cao từ
các cơ quan khoa học công nghệ của nhà nước ở tất cả các đối tượng lao động, số
trường hợp ra đi nhiều hơn số trường hợp đến, đặc biệt với số cán bộ khoa học có học
vị cao, số ra đi vượt hẳn số đến
Tuổi trung bình của cán bộ khoa học có học vị, học hàm khá cao Bình quân chung
là 57,2 tuổi trong đó giáo sư là 59,5 tuổi và phó giáp sư là 56,4 tuổi Số cán bộ cán học
vị, học hàm cao ở tuổi 50 chỉ chiếm 12% trong khi đó tuổi từ 56 trở lên là 65,7%,
riêng giáo sư chiếm tới 77,4% và phó giáo sư chiếm 62% Khi phân chia theo lứa tuổi
các cán bộ khoa học công nghệ có học hàm thì phần đông giáo sư có tuổi trên 60 và
phó giáo sư có tuổi từ 56 đến 60 Khi một bộ phận lớn các cán bộ khoa học chủ chốt
đang về già và sẽ không có khả năng làm việc thì đội ngũ cán bộ trẻ thay thế lại chưa
được chuẩn bị bồi dưỡng đào tạo Hẫng hụt đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ đầu
ngành sẽ diễn ra trong tương lai rất gần
Sự phân bố lực lượng lao động khoa học không hợp lý
Trang 10Có thể nói sự phân bố lực lượng lao động mất cân đối giữa các ngành, các khu vực
giữa các vùng, giữa các thành phần kinh tế đã gây ra hậu quả xấu cho quá trình phát
triển, càng làm sâu sắc thêm sự chênh lệch và phát triển giữa các vùng, các ngành
Một điều mà nhiều người nhìn thấy rất rõ là trong nhiều năm, đặc biệt sau khi
chuyển sang kinh tế thị trường thì các ngành khoa học cơ bản bị xem nhẹ và dường
như đang bị bỏ rơi Đó là một cách nhìn rất thiển cận và hậu quả của nó sau một số
năm thấm dần sẽ gây tác hại nghiêm trọng Khoa học công nghệ là một hệ thống, cũng
như một nền kinh tế nếu không có hạ tầng cơ sở tốt thì không thể phát triển được
Trong khoa học nếu chỉ coi trọng những ngành ứng dụng có lãi nhanh mà coi nhẹ khoa
học cơ bản rút cục sẽ đưa khoa học đến chỗ bế tắc và không có đủ năng lực tiếp thu
làm chủ các lĩnh vực khoa học công nghệ mới
Những bất cập giữa KH- CN và hoạt động kinh tế ở VN
Mối quan hệ thống nhất giữa hoạt động khoa học công nghệ và hoạt động kinh tế
là cơ sở quan trọng bảo đảm cho sự phát triển của một quốc gia Tuy nhiên, ở VN hiện
nay giữa hoạt động khoa học công nghệ và hoạt động kinh tế lại bộc lộ những bất cập
rõ rệt
1 Mặc dù tồn tại số lượng đáng kể các cơ quan nghiên cứu khoa học công nghệ và
dưới nhiều dạng thực phong phú, nhưng các viện nghiên cứu, các trường đại học
thường mạng nặng tính hàn lâm và ít gắn bó hữu ích với các tổ chức kinh tế Ngoài
mối quan hệ lỏng lẻo giữa cơ quan nghiên cứu và các đơn vị kinh tế còn một khía cạnh
nữa là bản thân hệ thống cơ quan nghiên cứu vẫn thiếu phương pháp luận tiếp cận có
hiệu quả tới hệ thống kinh tế ở đây đòi hỏi sự hợp tác, trao đổi qua lại nhiều vòng giữa
các nhà khoa học và đại diện của các khu vực sản xuất Các hãng luôn được coi như