Năm 2000 và năm 2001 số lượng các doanh nghiệp thành lập nhiều, thuộc đối tượng được ưu đãi miễn giảm thuế, ngoài ra còn một bộ phận những người làm kinh tế tư nhân và vệ tinh tham gia v
Trang 1So với cùng kỳ có 10 địa phương tăng trên 20% so với năm 2000 như Hải Dương tăng 37%, Hưng Yên tăng 22%, Sóc trăng tăng28%, Thừa Thiên Huế tăng 33%, Lai Châu tăng 27%, Lạng Sơn tăng 23% Có 6 địa phương tăng từ 10% đến 20%, nhưng có 8 địa phương số thu tăng dưới 5%, đặc biệt có 3 địa phương thấp hơn thực thu năm 2000 là: Bắc Cạn bằng 97,2%, Phú Yên bằng 98,85, Phú Thọ bằng 98,6%
- Số thu của từng khu vực tăng cũng không đều, trong khi khu vực doanh nghiệp tăng trên 26% nhưng khu vực hộ kinh doanh cá thể chỉ tăng khoảng 3%
- Số thu của từng sắc lệnh thuế tăng cũng không đều: thuế GTGT và thuế TNDN là hai khoản thu chủ yếu chỉ vượt từ 2% đến 3% thì khoản thu nhỏ và không ổn định lại vượt rất cao như thuế TTĐB vượt 39%, thu khác vượt 39% So với năm 2000 chỉ tăng 8%, thuế tài nguyên và thu khác lại thấp hơn (thuế tài nguyên bằng 98%, thu khác bằng 84%)
IV Nguyên nhân của những tồn tại trên
1 Do đặc điểm kinh doanh của khu vực kinh tế NQD Một là: Khu vực NQD là khu vực kinh tế có số lượng đối tượng kinh doanh rất lớn, quy mô kinh doanh đa số nhỏ, trải rộng trên địa bàn khắp cả nước: 65% doanh nghiệp và 70% hộ cá thể thuộc khu vực kinh tế NQD hoạt động trên lĩnh vực thương mại và dịch vụ để kiếm chênh lệch giá, không tạo ra giá trị hàng hoá Do thiếu vốn để sản xuất và mở rộng sản xuất kinh doanh là phổ biến đối với khu vực này
Hai là: Trình độ văn hoá, trình độ quản lý, trình độ công nghệ còn thấp so với khu vực kinh tế Nhà nước và khu vực đầu tư nước ngoài nên chưa chịu đi sâu tìm hiểu luật thuế để thực hiện mà còn chông chờ để được phổ biến nên khi áp dụng không
Trang 2tránh khỏi lúng túng dẫn đến thực hiện sai luật ngoài ra năng suất lao động và GDP bình quân một lao động tạo ra cũng còn thấp so với hai khu vực kinh tế trên
Ba là: Khu vực kinh tế NQD có một bộ phận lớn người kinh doanh có doanh thu, có thu nhập nhưng đối tượng được miễn giảm thuế như: Hộ sản xuất mới thành lập, hộ kinh doanh có thu nhập thấp, đánh bắt hải sản xa bờ, kinh doanh vận tải thô sơ (xe
ôm, xe lôi, xe xúc vật kéo) Năm 2000 và năm 2001 số lượng các doanh nghiệp thành lập nhiều, thuộc đối tượng được ưu đãi miễn giảm thuế, ngoài ra còn một bộ phận những người làm kinh tế tư nhân và vệ tinh tham gia vào các quá trình sản xuất của doanh nghiệp Nhà nước hoặc doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, nghĩa vụ nộp ngân sách được tính chung cho khu vực kinh tế Nhà nước và khu vực đầu tư nước ngoài
Bốn là :Do khu vực này vẫn còn một số trường hợp cố tình làm sai nhằm trốn thuế, giảm thuế phải nộp bằng cáng hạch toán sai với qui định
2 Do quản lý của cơ quan thuế còn yếu kém Một là: Nhiều địa phương chưa tranh thủ được sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ và chính quyền địa phương, sự phối hợp của các ngành chưa hình thành bộ phận cưỡng chế, thiếu những biện pháp kiên quyết trong việc xử lý các sai phạm từ phía cơ quan thuế dẫn đến hiệu quả của công tác quản lý còn hạn chế
Hai là: Nhiều địa phương chưa triển khai nghiêm túc các quy trình và biện pháp nghiệp vụ do ngành thuế đề ra như quy trình quản lý đối tượng kinh doanh, xác định doanh số đối với hộ khoán; quy trình duyệt bộ tổng hợp
Ba là: Đối với một số ngành thất thu lớn như kinh doanh xe máy, vận tải tư nhân, kinh doanh khách sạn nhà hàng nhiều địa phương chưa triển khai theo biện pháp chỉ
Trang 3đạo của Tổng cục việc triển khai các biện pháp quản lý không đồng bộ giữa các địa phương đang bị lợi dụng nên thất thu còn rất lớn
Bốn là: Trong quản lý doanh nghiệp chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát tình hình kinh doanh, chủ yếu để cho doanh nghiệp tự khai báo doanh số kinh doanh, số thuế phải nộp, dẫn đến nhiều cơ sở bán hàng không xuất hoá đơn, lợi dụng lập hoá đơn bán hàng ghi không đúng giá thực tế thanh toán, lập chứng từ khống đầu vào, kê khai xin hoàn thuế không đúng quy định, kê khai kết quả kinh doanh không trung thực để trốn thuế thu nhập
Năn là: Bố chí công tác quản lý cán bộ chưa hợp lý giao một cán bộ thuế quản lý quá nhiều doanh nghiệp, thời gian quản lý lâu sẽ dẫn đến tiêu cực giữa cơ quan thuế
và đối tượng nộp thuế
Chương III Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta hiện nay
I Quan điểm và định hướng công tác quản lý thu thuế trong thời gian tới
1 Quan điểm Kinh tế NQD sẽ cùng tồn tại khách quan với các thành phần kinh tế khác trong thời
kỳ quá độ, và tự nó đã và đang phát huy vai trò nhất định trong việc phát triển kinh
tế tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động; góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vì vậy nhận thức đúng đắn vị trí kinh tế NQD trong thời kỳ quá độ là cực kỳ quan trọng
Xác định đúng vị trí vai trò của nó còn giúp các ngành chức năng hoạch định chính sách, cơ chế thực sự khuyến khích nó phát triển
Trang 4Cần coi các thành phần kinh tế NQD như những tế bào của nền kinh tế thống nhất Cần phải có cái nhìn đúng đắn hơn với những người chủ khu vực kinh tế NQD và những người lao động trong khu vực kinh tế này
Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò kinh tế NQD thể hiện trong xây dựng chính sách thuế và quản lý thu thuế là tìm mọi giải pháp để khuyến khích khu vực kinh tế này phát triển, xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa kinh tế quốc doanh và kinh tế NQD, xoá
bỏ ngay những quy định không phù hợp đang kìm hãm sự phát triển của khu vực kinh tế này
Cơ quan thuế, cán bộ thuế phải xác định khu vực kinh tế NQD là đối tượng mình phục vụ thay cho quan niệm quản lý như hiện nay Các cơ sở kinh tế là nguồn cung cấp tài chính cho ngân sách, cơ sở kinh tế tồn tại và phát triển nguồn thu tài chính cho ngân sách mới ổn định và ngày càng tăng, từ đó hướng dẫn giúp đỡ cơ sở kinh doanh thực hiện đúng chính sách, lắng nghe ý kiến phản ánh của cơ sở về những khó khăn trong sản xuất kinh doanh, vướng mắc trong việc thực hiện chính sách thuế để giải đáp giúp cơ sở vượt qua
Bản thân chủ cơ sở sản xuất kinh doanh cũng cần phải nhận thức cho đúng đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về chủ trương phát triển lâu dài kinh tế NQD, tự xoá bỏ mặc cảm, tranh thủ nắm bắt thời cơ mạnh dạn đầu tư, đổi mới công nghệ để phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời qua sản xuất kinh doanh kiến nghị với Nhà nước những khó khăn vướng mắc gây cản trở đến sự phát triển của khu vực kinh tế NQD để Nhà nước nghiên cứu tháo gỡ Đấu tranh kiên quyết với các cơ sở kinh doanh vi phạm pháp luật, kinh doanh theo lối chụp giật, kinh doanh trốn thuế,
Trang 5lậu thuế để hạn chế dần vi phạm trên, gây dựng lòng tin cho các cơ quan quản lý
và nhân dân
Các cơ quan tuyên truyền cần thay đổi hướng tuyên truyền về khu vực kinh tế NQD Công tác tuyên truyền cũng cần phải định hướng lại cho dư luận và nhân dân coi các cơ sở kinh tế NQD là những đơn vị trong binh chủng hợp thành của nền kinh tế Việt Nam Những ông chủ và người lao động trong doanh nghiệp NQD là những nguời đã và đang góp phần xây dựng đất nước, xoá bỏ mặc cảm lâu đời trọng nông, khinh thương
Tóm lại qua xác đinh đúng đắn vị trí, vai trò của kinh tế NQD từ đó tạo ra sự thay đổi trong nhận thức và hành động của cơ quan quản lý, của các quan chức chính phủ và của xa hội với khu vực kinh tế NQD
2 Định hướng Năm 2002 Nhà nước đã giao nhiệm vụ thu thuế đối với hoạt động sản xuất công thương nghiệp và dịch vụ NQD cho toàn ngành và từng địa phương So với năm
2001 dự toán thu năm 2002 tăng khoảng 12% đến 13% Để thực hiện được dự toán này Tổng cục Thuế đã ra công văn số 4649 TCT/NV6 ngày 15/11/2001 nêu những biện pháp rất cụ thể Căn cứ vào những biện pháp chung của toàn ngành và những biện pháp cụ thể nêu tại công văn trên đề nghị Cục thuế địa phương triển khai nghiêm túc và cụ thể phù hợp với đặc điểm của địa phương mình Tổng cục Thuế nhấn mạnh thêm một số biện pháp lớn sau:
2.1 Tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ chính quyền, sự phối hợp của các ngành rà soát nắm lại tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn để đưa ngay vào điện quản lý thu thuế môn bài, trên cơ sở số hộ quản lý thu thuế môn bài, phân
Trang 6loại hộ để áp dụng những biện pháp quản lý thu thuế GTGT và thuế TNDN thích hợp theo hướng sau:
- Đối với hộ kinh doanh lớn tiếp tục triển khai thực hiện chế độ kế toán, mở rộng diện áp dụng đối với các hộ kinh doanh lớn có điều kiện mở sổ sách kế toán, lập hoá đơn chứng từ
- Đối với hộ kinh doanh vừa và nhỏ, phối hợp với Hội đồng tư vấn xác định lại doanh số, tổ chức công khai lấy ý kiến và công bố ổn định cho hộ kinh doanh Cục thuế phải giao chỉ tiêu tăng thu và chỉ đạo chặt chẽ các Chi cục Thuế, các đội thuế thực hiện bằng và cao hơn chỉ tiêu đã giao Mức tăng thu tối thiểu phải bằng mức tăng trưởng kinh tế
- Đối với hộ kinh doanh có thu nhập thấp, phải thực hiện các thủ tục miễn giảm thuế đúng chính sách và công bố công khai để các hộ kinh doanh biết
2.2 Đẩy mạnh việc triển khai chế độ kế toán:
- Đối với các doanh nghiệp: Yêu cầu 100% doanh nghiệp phải thực hiện chế độ kế toán và thu thuế theo kê khai, nghiêm cấm thu thuế khoán Kết hợp kiểm tra quyết toán thuế, kiểm tra hoàn thuế với kiểm tra việc thực hiện chế độ kế toán, kê khai nộp thuế, xử ký nghiêm khắc các doanh nghiệp vi phạm
- Đối với các hộ kinh doanh cá thể: Yêu cầu các hộ kinh doanh có môn bài bậc 1, bậc 2 phải mở sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ và nộp thuế theo kê khai Để chống thất thu thuế và chống các hành vi lợi dụng đối với những hộ kinh doanh qua triển khai chế độ kế toán nếu kê khai doanh số và mức thuế lại thấp hơn doanh số ấn định hoặc doanh số của hộ kinh doanh cùng ngành nghề cùng quy mô thì phải xử phạt vi phạm hành chính và ấn định doanh số, mức thuế mới bằng hoặc cao hơn
Trang 7doanh số và mức thuế của hộ kinh doanh cùng ngành nghề cùng quy mô, không được ấn định bằng mức khoán trước đây
- Đối với những hộ kinh doanh được cơ quan thuế chấp nhận cho nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ hoặc được xác định GTGT theo doanh số bán ra trừ doanh số mua vào, yêu cầu các Chi cục Thuế phải thường xuyên kiểm tra để phát hiện kịp thời những trường hợp vi phạm tránh lợi dụng Thời gian qua, đã có một số
hộ kinh doanh lợi dụng chủ trương khuyến khích đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ chuyển từ nộp theo phương pháp trực tiếp sang nộp theo phương pháp khấu trừ, số thuế phải nộp không những giảm mà còn được hoàn Cục Thuế cần chỉ đạo chặt chẽ các Chi cục Thuế trong việc duyệt cho hộ kinh doanh được nộp thuế theo phương pháp khấu trừ
2.3 Đẩy mạnh việc triển khai các biện pháp chống thất thu đối với một số ngành nghề và lĩnh vực còn đang thất thu nhiều theo công văn số 3581/TCT ngày 11/9/2001 của Tổng cục Thuế Những địa phương chưa triển khai cần tranh thủ báo cáo Uỷ ban Nhân dân điạ phương để Uỷ ban nhân dân chỉ đạo các ngành phối hợp thực hiện
2.4 Nghiên cứu cải tiến các biện pháp thu nộp thuế theo hướng gắn công tác quản
lý thuế với chính quyền cơ sở, giảm các thủ tục hành chính, tiết kiệm chi phí và tạo thuận lợi tối đa cho người nộp thuế
Mở rộng mô hình hoạt động của các trung tâm dịch vụ đối tượng nộp thuế để cung cấp thông tin và hướng dẫn các cơ sở kinh doanh hiểu rõ chính sách thuế, chế độ kế toán để họ tự giác chấp hành
Trang 82.5 Nâng cao ý thức trách nhiệm của từng cơ quan thuế và từng cán bộ thuế Mỗi đồng chí phụ trách cơ quan thuế, mỗi cán bộ thuế đều phải chịu trách nhiệm về kết quả thu và kết quả triển khai các biện pháp nghiệp vụ trong phạm vi phụ trách của mình Gắn kết quả hoàn thành nhiệm vụ, kết quả chống thất thu với các hình thức khen thưởng
2.6 Trước hết để bảo đảm nhiệm vụ thu quý I cần thực hiện:
- Giao chỉ tiêu cụ thể cho từng Chi cục, từng đội thuế nhiệm vụ thu thuế môn bài năm 2002
- Đối với hộ thuộc đối tượng khoán ổn định, phối hợp với hội đồng tư vấn tổ chức điều tra doanh số, mức thuế và tổ chức công khai để mọi người kinh doanh biết Yêu cầu mức thuế mới xác định phải bảo đảm hoàn thành dự toán và tăng hơn mức
độ tăng trưởng kinh tế ở địa phương Cục Thuế phải căn cứ vào mức độ tăng trưởng kinh tế và mức độ thất thu giao chỉ tiêu cụ thể cho từng Chi cục, kiểm tra và đôn đốc Chi cục thực hiện đúng chỉ tiêu đã giao Chi cục nào thực hiện không đúng kiên quyết yêu cầu làm lại
- Đôn đốc các doanh nghiệp, hộ kinh doanh nộp thuế theo kê khai nộp báo cáo quyết toán thuế, báo cáo tạm nộp thu nhập đúng kỳ hạn
Kiểm tra báo cáo quyết toán doanh nghiệp kê khai, nếu phát sinh thu thêm thì căn
cứ vào kê khai của doanh nghiệp ra thông báo yêu cầu nộp ngay Kiểm tra tờ khai nộp thuế TNDN nếu doanh nghiệp kê khai thấp hơn thu nhập thực tế của năm 2001
và mức độ tăng trưởng năm 2002 thì yêu cầu kê khai lại, trường hợp doanh nghiệp không kê khai lại hoặc không nộp tờ khai thì căn cứ vào thu nhập năm 2001, mức tăng trưởng kinh doanh năm 2002 để ấn định mức tạm nộp quý I
Trang 9ii Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế khu vực kinh tế nqd trong thời gian tới
1 Một số giải pháp về các chính sách thuế 1.1 Thuế môn bài
Cần xây dựng hai biều thuế để áp dụng riêng cho hai loại đối tượng, một biểu áp dụng cho tổ chức kinh tế có mức thuế môn bài cao, một biểu áp dụng cho hộ kinh doanh cá thể có thể chỉ duy trì hoặc điều tiết chút ít so với mức hiện hành
1.2 Thuế GTGT
- Về đối tượng áp dụng thuế GTGT chỉ nên áp dụng với các cơ sở kinh doanh đạt một quy mô nhất định còn các cơ sở kinh doanh có quy mô nhỏ thì áp dụng thuế doanh thu như trước đây
- Về thuế suất: Nên đơn giản về thuế suất chỉ nên áp dụng ba mức:
+ 0% với hàng xuất khẩu
+ 15% hoặc 20% đối với hàng dịch vụ không khuyến khích sản xuất và tiêu dùng + 5% hoặc 10% đối với hàng sản xuất và tiêu dùng
- Về kê khai nộp thuế: Nên có sự phân biệt: Doanh nghiệp kê khai nộp thuế theo tháng Doanh nghiệp vừa kê khai nộp thuế 3 tháng 1 lần Doanh nghiệp nhỏ kê khai nộp thuế 6 tháng 1 lần
- Về kê khai nộp thuế: Nên bỏ khấu trừ theo tỷ lệ, chỉ áp dụng khấu trừ nếu mua hàng hóa có hoá đơn GTGT
1.3 Thuế TNDN
Trang 10Đề nghị bác bỏ thuế thu nhập bổ sung vì phân biệt lợi thế khách quan là rất phức tạp
và mang tính chủ quan, hoặc nếu áp dụng thì chỉ áp dụng đối với một số mặt hàng Nhà nước độc quyền giá cả do Nhà nước quyết định
Về miễn thuế đối với hộ kinh doanh có thu nhập thấp: đề nghị nâng mức từ 210.000 đồng đến 500.000 hoặc 700.000 đồng/ tháng Hộ kinh doanh có thu nhập vượt quá mức này thì chỉ tính và nộp trên phần thu nhập cao hơn
2 Về nhận thức tưởng vẫn còn sự phân biệt đối xử
- Nhà nước, cơ quan thuế cần phảI đối xử bình bẳng giữa các thành phận kinh tế, không được ưu tiên một cách bất hợp lý khi ra các chính sách thuế
_ Khu vực này cần được thông thoáng, tạo điều kiện trong vay vốn, tham gia thị trường,tuyển dụng lao động
_Cần nhận thức đúng vai trò, vị trí của khu vực trong hoạch định chính sách
3 Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, chính sách thuế đối với kinh tế NQD
- Trước hết phải rà soát lại các chính sách hiện hành có nội dung liên quan đến khu vực kinh tế NQD để sửa đổi, điều chỉnh, bổ xung một cách cơ bản nhằm tạo ra môi trường pháp lý rõ ràng, nhất quán, ổn định và khả thi cho khu vực kinh tế NQD hoạt động và phát triển
Trang 11- Loại bỏ ngay những quy định trong các chính sách cụ thể có tính chất phân biệt đối xử giữa kinh tế Nhà nước và kinh tế NQD, tạo sự bình đẳng giữa các cơ sở kinh
tế Nhà nước và kinh tế NQD trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực Tài chính, Thuế, Tín dụng, đất đai
Những quy định trong chính sách cụ thể có tính chất phân biệt đối xử nhậy cảm Trước đây trong chính sách thuế lợi tức có nhiều điều mang tính phân biệt đối xử như khu vực kinh tế NQD thì phải nộp thuế lợi tức bổ xung Tính chi phí tiền lương theo quy định của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố mà không theo thoả ước ghi trong hợp đồng lao động giữa cơ sở sản xuất với người lao động luôn là tiêu điểm
để các cơ sở kinh tế NQD phê phán Nay chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đã xoá bỏ các phân biệt trên, nhưng vẫn còn nhiều quy định ngoài luật dưới hình thức quyết định, chỉ thị, thông tư hướng dẫn riêng cho khu vực kinh tế quốc doanh mà các cơ sở kinh tế NQD không được áp dụng như hướng dẫn về xử lý chênh lệch giá,
về trích lập quỹ đề phòng rủi ro
Theo văn bản này thực hiện luật thuế lợi tức các doanh nghiệp Nhà nước được chuyển lỗ 5 năm - trong khi luật thuế lợi tức quy định chỉ được chuyển lỗ 2 năm, với văn bản này lợi thế lại thuộc về doanh nghiệp Nhà nước, điều mà các cơ
sở kinh tế NQD không được hưởng
- Đối với các chính sách mới ban hành hoặc mới được bổ sung, sửa đổi có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ sở kinh tế nói chung và các cơ sở kinh tế NQD nói riêng cần được phổ biến rộng rãi cho cơ sở biết và phải quan tâm đến khả năng thực hiện của cơ sở kinh doanh Một chính sách mới hoặc điều mới được sửa đổi, bổ sung có thể sẽ tạo điều kiện hoặc gây khó khăn cho doanh nghiệp
Trang 12thực hiện, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Do đó doanh nghiệp cần phải biết và có thời gian để điều chỉnh cho phù hợp Đây chưa phải điều
đã được các cơ quan hoặc chính sách quan tâm
- Các văn bản hướng dẫn dưới luật phải tuyệt đối tuân theo mục đích, nội dung đã nêu ra trong luật, không được vì quyền lợi cục bộ mà vi phạm vào những mục đích nội dung luật quy định Làm cho mục tiêu xuyên suốt của luật không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng đắn, sai lệch
Trong hướng dẫn chính sách thuế và tổ chức thực hiện thường mắc tồn tại này Thí dụ: Để khuyến khích các cơ sở kinh doanh đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất, luật thuế thu nhập doanh nghiệp và luật khuyến khích đầu tư đều quy đinh: cơ sở sản xuất mới thành lập được miễn giảm thuế TNDN, thuế nhập khẩu, tiền thuê đất tuỳ theo dự án đầu tư thuộc ngành nghề, địa bàn cần khuyến khích hay không
Thực hiện chủ trương này thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính có quy định một điểm không rõ ràng dẫn đến khó khăn cho thực hiện và rất dễ dẫn đến tuỳ tiện Cụ thể quy định là: Các cơ sở sản xuất được thành lập trên cơ sở sát nhập, chia tách, mua lại cơ sở sản xuất cũ không thuộc đối tượng miễn giảm thuế Thế là trong tổ chức thực hiện luôn xảy ra: Một cơ sở sản xuất cũ làm ăn thua lỗ bán cho một người khác, đối với người mua đây là cơ sở sản xuất mới nhưng theo quyết định trên không được miễn giảm, nhưng nếu anh ta mua đất xây nhà xưởng, mua máy móc thiết bị về lắp đặt thì được miễn giảm Hoặc một cơ sở mới thành lập có đầu tư xây dựng nhà xưởng, nhưng mua lại máy móc thiết bị của cơ sở sản xuất cùng ngành nghề trước đó cũng được coi là chia, tách nên không được miễn giảm thuế
Trang 13Trong phát triển hàng hoá theo cơ chế thị trường sự mua đi bán lại một doanh nghiệp, một cơ sở kinh doanh là thường xuyên xảy ra Đối với người mua lại cơ sở sản xuất khai cũng cần xác định đó là mới vì xét mới hay cũ phải xét trên pháp nhân hay thể nhân, chứ không phải xét trên nhà xưởng, máy móc
Hay theo luật thuế GTGT, cơ sở mua hàng hoá được khấu trừ thuế đầu vào theo tỷ
lệ 2% tính trên giá mua Tuy nhiên do không hướng dẫn rõ hàng hoá nông sản được hiểu như thế nào nên thực hiện không thống nhất, như cây cà phê phá chặt bán có phải là nông sản hay không? Có nơi cho là hàng hoá nông sản, có nơi không xác định là hàng hoá nông sản, lập luận hàng hoá nông sản là hạt cà phê Trong hàng hóa nông sản thế nào là sơ chế, thế nào là chế biến cũng đang có sự hiểu không thống nhất, mà chưa có sự giải thích cụ thể dẫn đến tình trạng cùng là mặt hàng chè búp khô, long nhãn, mực khô có địa phương cho là đã qua chế biến nên không khấu trừ theo tỷ lệ 2%, có nơi lại cho là nông sản chưa qua chế biến nên đượckhấu trừ theo tỷ lệ 2%
Trong điều kiện kinh tế thị trường có cạnh tranh việc thực hiện không thống nhất nhiều khi vô tình tạo ra điều kiện cho cơ sở này phát triển nhưng lại đưa cơ sở khác đến phá sản
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích luật và các chính sách để các cơ sở kinh tế NQD nắm được các quy định của pháp luật và các văn bản hướng dẫn dưới luật phải đồng bộ và phải có thời gian cho cơ sở kinh doanh tiếp nhận và chuẩn bị để thi hành
Kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá X ban hành Nghị quyết sửa đổi, bổ xung một số điều của luật thuế GTGT quy định Nghị quyết được thực hiện từ 1/1/2001 và giao Chính
Trang 14phủ hướng dẫn thi hành Chưa nói thời gian từ khi Quốc hội có nghị quyết đến thời điểm thi hành là ngắn, nhưng đến 29/12/2000 Chính phủ mới có thông tư hướng dẫn thực hiện (thực tế Nghị định của Chính phủ và thông tư của Bộ Tài chính ký sau ngày trên) Khi các văn bản này được các cơ sở kinh tế NQD tiếp nhận sớm nhất vào giữa tháng 2/2001 Và thực tiễn xảy ra do tháng 1/2001 các cơ sở kinh doanh chưa tiếp nhận được văn bản hướng dẫn nên vẫn tính toán chi phí, kết quả kinh doanh, mức thuế theo hướng dẫn trước đó, nay hướng dẫn có một số điều chỉnh làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, rất nhiều doanh nghiệp đã đề nghị Bộ Tài chính, Chính phủ phải xem xét chấp nhận thực tiễn đó, nếu không sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tương tự như vậy, mỗi khi điều chỉnh tăng thuế XNK, điều chỉnh lại khung giá tính thuế hàng nhập khẩu thời gian thực hiện chỉ sau ngày ký khoảng 1 tháng, nhiều trường hợp doanh nghiệp đã ký hợp đồng với khách hàng trước đó trên cơ sở tính toán hiệu quả theo chính sách tại thời điểm, nay tiếp tục thực hiện hợp đồng sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, bỏ hợp đồng sẽ bị phạt, thật là tiến thoái lưỡng nan
Mới đây nhất ngày 18/4/2001 Bộ Tài chính vừa có quyết định thu chênh lệch giá đối với một số mặt hàng nhập khẩu Theo quyết định này một số mặt hàng hoá nhập khẩu từ 1/1/2001 sẽ phải nộp chênh lệch giá, một số trường hợp từ 1/5/2001 Đối với các trường hợp đã nhập từ 1/1 đến ngày quyết định ban hành chắc chắn doanh nghiệp đã bán hoặc tính toán giá bán không tính đến khả năng này, còn các trường hợp nhập từ 1/5 cũng sẽ không thể thay đổi được vì hợp đồng đã ký rồi, hàng hóa đã xuống tàu rồi
Trang 15Kiến nghị rằng: Mỗi khi ban hành chính sách mới hoặc sửa đổi, bổ xung chính sách
cũ, nếu có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh thì cho phép cơ sở kinh doanh được tiếp tục hưởng quy định trước trong một thời gian nhất định đủ để cơ sở kinh doanh tính toán thay đổi hoặc điều chỉnh phương án sản xuất kinh doanh
4 Mở rộng hoạt động hỗ trợ, dịch vụ cung cấp thông tin, tư vấn thuế
Trong điều kiện kinh tế thị trường, việc nắm thông tin nhanh hay chậm, chính xác hay không chính xác đều có ảnh hưởng trực tế tiếp đến kết quả sản xuất kinh doanh của cơ sở Đối với khu vực kinh NQD thường tiếp nhận thông tin và không chính xác vì khác với doanh nghiệp Nhà nước, HTX có cơ quan quản lý chuyên ngành cấp trên thường tổ chức phổ biến và hướng dẫn các chủ trương, chính sách mới đến doanh nghiệp, khu vực kinh tế NQD thường phải tự tìm hiều lấy Do đó việc mở rộng các hoạt động cung cấp thông tin là rất quan trọng
Khu vực kinh tế NQD cũng cần Nhà nước hỗ trợ về các mặt vì vượt quá khả năng từng cơ sở Các hỗ trợ đó nên tập trung vào những lĩnh vực sau:
- Hỗ trợ về mặt luật pháp, đặc biệt là luật pháp về đăng ký kinh doanh, về thuế, về hợp đồng kinh tế
Về thuế cần mở rộng các hoạt động dịch vụ hỗ trợ để cơ sở kinh tế NQD có thể nắm được đầy đủ và chính xác những quy chế về thuế do vậy dịch vụ tư vấn thuế phát triển trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay đang trở thành một yêu cầu bức thiết đòi hỏi phải có một giải pháp đồng bộ trên các mặt: thể chế hoá bằng văn bản các dịch vụ tư vấn nói chung, tư vấn thuế nói riêng Khuyến khích và có cơ chế ưu đãi phát triển các tổ chức tư vấn thuế Hỗ trợ đào tạo, nâng cao năng lực của các chuyên gia, cán bộ làm công tác tư vấn thuế Cải thiện các điều kiện tiếp cận thông
Trang 16tin cho các tổ chức, các nhà tư vấn Đẩy mạnh hội nhập trong lĩnh vực tư vấn bằng việc tạo điều kiện cho các tổ chức tư vấn trong nước thuê chuyên gia nước ngoài vào làm việc Tăng cường cho các doanh nghiệp sử dụng tư vấn thuế trong hoạt động của mình như là một biện pháp minh bạch hoá tình hình tài chính doanh nghiệp và chấp hành tốt nghĩa vụ thuế với nhà nước Dịch vụ tư vấn để họ chủ động tính toán nghĩa vụ nộp thuế, tránh những vi phạm dẫn đến bị xử phạt, đồng thời nắm được sự kiểm tra, xem xét của cơ quan quản lý Việc nắm đầy đủ và chính xác những quy định về thuế còn giúp cho cơ sở kinh tế NQD biết được những ưu đãi về thuế mà mình được hưởng, kiểm tra lại việc tính thuế của cơ quan thuế
- Hỗ trợ, tư vấn về thị trường và giá cả, đặc biệt là thị trường và giá cả liên quan đến hoạt động XNK Để các cơ sở kinh tế NQD có thể tham gia hoạt động mạnh hơn nữa vào hoạt động XNK và tránh thua thiệt thì thông tin về giá cả thị trường quốc tế
là rất quan trọng, không ít những trường hợp do không nắm được thị trường và giá
cả đã bị khách hàng nước ngoài lừa bịp, nâng giá
- Hỗ trợ, tư vấn về mặt công nghệ, kỹ thuật giúp các cơ sở kinh tế NQD có thể bắt kịp đựơc những tiến bộ về khoa học và công nghệ trên thế giới để ứng dụng vào sản xuất kinh doanh và không bị đối tác lừa gạt
- Hỗ trợ về mặt đào tạo nâng cao trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của người lao động
Như trình bày ở phần những tồn tại của bản thân khu vực kinh tế NQD có một tồn tại về mặt trình độ quản lý, trình độ chuyên môn, đa số những người quản lý và người lao động ở khu vực kinh tế này đều không qua các trường lớp đào tạo, họ thực hiện chức năng quản lý hoặc chức năng kỹ thuật chủ yếu dựa vào kinh nghiệm
Trang 17Việc nâng cao trình độ cho họ cần có sự hỗ trợ của Nhà nước vì bản thân mỗi cơ sở không đủ khả năng làm được Nhà nước cần mở rộng các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cho những cán bộ quản lý và người lao động ở khu vực kinh tế này
5 Nâng cao năng lực và hiệu lực của bộ máy quản lý nhà nước, thuế
Bộ máy Nhà nước là cơ quan thể chế đường lối của Đảng thành pháp luật, chính sách, đồng thời cũng là cơ quan quản lý và giám sát các cơ sở kinh tế NQD hoạt động Vì vậy chất lượng lập pháp và hành pháp phụ thuộc rất nhiều vào bộ máy Nhà nước Nâng cao năng lực và hiệu lực của bộ máy Nhà nước cần tập trung vào những việc sau đây
- Đẩy mạnh cải cách hành chính, làm rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các
cơ quan quản lý Nhà nước, giảm tối đa sự chồng chéo, trùng lặp, tiến tới quy định một vấn đề cụ thể, chỉ một cơ quan ở một cấp được phân quyền hạn giải quyết và phải giải quyết trong thời hạn nhất định
Năm 2000 thực hiện Luật Doanh nghiệp mới, và các nghị định về đăng ký kinh doanh mới các thủ tục hành chính đã được cải tiến đáng kể, thời gian chờ đợi đã được giảm nhiều, chi phí cho thành lập cơ sở kinh doanh cũng giảm đáng kể
Tuy nhiên vẫn còn tồn tại thực tế là nhiều quy định chưa được hoàn thiện, bổ xung cho phù hợp với Luật Doanh nghiệp mới và nghị định mới về đăng ký kinh doanh Thí dụ: Luật doanh nghiệp cho phép trong khi chờ đợi cấp giấy phép doanh nghiệp
có thể uỷ nhiệm cho tổ chức, cá nhân thực hiện các giao dịch kể cả xây dựng cơ bản Trong quá trình thực hiện các giao dịch đương nhiên phát sinh chi phí và thuế GTGT đầu vào, nhưng trong thông tư hướng dẫn thi hành luật thuế GTGT lại quy định nguyên tắc: Thuế GTGT phát sinh tháng nào được kê khai khấu trừ trong tháng
Trang 18đó Các doanh nghiệp đang trong thời gian chuẩn bị và xin thành lập đã đăng ký thuế đâu mà kê khai, thế là nhiều doanh nghiệp không được khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT đầu vào trong trường hợp này
Các cơ quan quản lý thực hiện chức năng theo quy định của Chính phủ Mỗi vấn đề phát sinh chỉ một cơ quan giải quyết và cơ quan đã giải quyết phải chịu trách nhiệm
về quyết định của mình Thực hiện luật thuế, đã quy định công tác quản lý thu thuế
do hệ thống thuế đảm nhiệm, tuy nhiên trong thời gian qua không chỉ cơ quan thuế kiểm tra, xử lý những vấn đề liên quan đến chính sách thuế mà nhiều ngành khác như công an, quản lý thị trường, kế toán, thanh tra, viện kiểm sát cũng kiểm tra và yêu cầu cơ sở kinh doanh phải xuất trình tài liệu liên quan đến thực hiện chính sách thuế và xử lý vi phạm Ngay trong hệ thống Tài chính cũng còn sự chồng chéo giữa
cơ quan thuế với cơ quan thanh tra tài chính
Trong công tác kiểm tra thuế cũng đang có hiện tượng chồng chéo, gây phiền hà, lãng phí cho cơ sở kinh doanh Nhiều trường hợp cơ sở kinh doanh phải tiếp nhiều đoàn thanh tra thuế từ cấp quận, huyện đến cấp trung ương và mỗi cơ quan kiểm tra lại có kết luận khác nhau, cơ sở kinh doanh không biết đâu là kết luận đúng
Yêu cầu cải cách hành chính thuế đang là vấn đề nổi cộm Không phủ nhận thời gian qua các thủ tục hành chính thuế có nhiều cải tiến nhưng vãn còn gây phiền hà cho doanh nghiệp Hướng cải cách hành chính thuế đề nghị tập trung vào vấn các vấn đề trọng tâm sau đây:
- Tiếp tục cải cách thủ tục về đăng ký và cấp mã số thuế theo hướng gắn việc cấp đăng ký kinh doanh với việc cấp mã số thuế để doanh nghiệp bớt các thủ tục khai báo và thời gian chờ đợi