Các biện pháp kinh tế, kỹ thuật nêu trên cũng có tác dụng tác động vào tâm lý khách hàng và nhân viên ngân hàng, từ đó tạo ra xu hướng tốt hơn trong công tác huy động vốn của ngân hàng..
Trang 1toàn cao Vì vậy, đáp ứng được yêu cầu đó về mặt tâm lý đó của khách hàng, tức
là tạo sự uy tín và lòng tin đối với khách hàng là yếu tố thành công cho hoạt động huy động vốn của ngân hàng Ngày nay các NHTM luôn không ngừng hoàn thiện mình và nâng cao uy tín trên thị trường để thu hút khách hàng Việc ngân hàng tham gia bảo hiểm tiền gửi đã phần nào đêm lại sự yên tâm cho khách hàng gửi tiền vào ngân hàng
Ngoài yếu tố khách hàng thì chính sách khuyến khích nhân viên ngân hàng đóng vai trò quan trọng Bên cạnh việc không ngừng nâng cao tiền lương và thu nhập cho cán bộ thì cần thiết phải chăm lo đời sống tinh thần cho nhân viên, đó là: Niềm vui và sự thoải mái trong công việc, được kính trọng, được giao tiếp rộng rãi, khen thưởng kịp thời, tạo điều kiện thăng tiến đóng góp xứng đáng vào sự phát triển chung của ngân hàng
Ngoài ra, việc quảng bá uy tín, tên tuổi của ngân hàng trên các phương tiẹn quảng cáo, truyền thông cũng sẽ tạo ra hình ảnh đẹp của ngân hàng Từ đó củng
cố niềm tin và tâm lý yên tâm của khách hàng khi họ gửi tiền vào ngân hàng Các biện pháp kinh tế, kỹ thuật nêu trên cũng có tác dụng tác động vào tâm lý khách hàng và nhân viên ngân hàng, từ đó tạo ra xu hướng tốt hơn trong công tác huy động vốn của ngân hàng
Việc thực hiện đồng bộ các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và tâm lý có tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh ngân hàng và tất yếu có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả công tác huy động vốn của các NHTM
Kết luận chương 1: Trong chương 1 chúng ta đã nghiên cứu những nội dung cơ bản liên quan đến NHTM nói chung cũng như đã nghiên cứu các phương thức
Trang 2tạo lập vốn các hình thức, thể thức huy động vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn và cơ cấu nguồn vốn của NHTM Những nội dung này liên quan đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng giúp chúng ta có một cơ sở
lý luận rõ ràng để đi phân tích thực trạng công tác huy động vốn của NHTMCP XNK chi nhánh Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, để từ đó đưa ra được các giải pháp phù hợp nhằm mở rộng huy động vốn một cách có hiệu quả
Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu chi nhánh hà nội
2.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Eximbank Hà Nội 2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế – xã hội trên địa bàn
Hà Nội, trung tâm kinh tế – xã hội của đất nước, đang cùng cả nước thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Dưới sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng, nhà nước, các cấp lãnh đạo, thành phố Hà Nội đã đạt được những bước phát triển vượt bậc về cả kinh tế và xã hội Đặc biệt là nền kinh tế của thủ đô trong những năm gần đây có tốc độ tăng trưởng cao vào hàng đầu của đất nước Trong năm 2004, GDP của thủ đô tăng trưởng bình quân là 11%/năm Tốc độ đô thị hoá cao, hàng loạt các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng được triển khai trên qui mô lớn
Tất cả các thành tựu đó là kết quả của một quá trình kiên trì đổi mới cơ chế chính sách, tạo môi trường thông thoáng cho sản xuất kinh doanh Và cũng chính các thành tựu đó là một yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động của các NHTM
Hà Nội là một địa phương có số lượng NHTM lớn nhất toàn quốc Tính đến cuối năm 2004, trên địa bàn thành phố có khoảng 92 TCTD trong đó có 70 ngân hàng
Trang 3và chi nhánh ngân hàng cấp một Hệ thống NHTM Hà Nội hoạt động trong môi trường thuận lợi về chính trị, kinh tế, xã hội và có nhiều điều kiện tiếp cận với trình độ ngân hàng trên thế giới Hoạt động ngân hàng trên địa bàn không ngừng phát triển trên tất cả các phương diện và có ảnh hưởng ngày càng sâu rộng đến đời sống kinh tế – xã hội của thủ đô Trong những năm qua hoạt động huy động vốn trên địa bàn hết sức sôi động Đồng thời các TCTD cũng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh và dịch vụ ở
Hà Nội không ngừng tăng nhanh, đóng góp quan trọng vào quá trình tăng trưởng của thủ đô
Đặc biệt Hà Nội còn là nơi tập trung hầu hết các tổng công ty nhà nước, các công ty liên doanh, công ty nước ngoài và là nơi tập trung rất đông các doanh nghiệp và cùng với nó là số lượng dân cư đông đúc có đời sống vật chất và thu nhập ngày càng cao là thị trường tiền gửi đầy tiềm năng đối với các ngân hàng Nhận thức được điều đó, các NHTM nói chung và Eximbank Hà Nội nói riêng đã
có những thay đổi trong hoạt động phù hợp với sự vận động phát triển thủ đô Qua đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế thủ đô phát triển nhanh và vững chắc hơn 2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Eximbank Hà Nội
Ngân hàng TMCP XNK Việt Nam được thành lập theo quyết định số 140/CT ngày24/05/1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nay là Thủ tướng Chính phủ với tên gọi đầu tiên là Ngân Hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Bank – Eximbank Vietnam), với thời hạn 50 năm, là một trong những NHTM CP đầu tiên của Việt Nam, với hình thức là ngân hàng cổ phần chuyên
Trang 4doanh về tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng nhằm phục vụ sản xuất, chế biến hàng XNK và kinh doanh XNK
Vốn pháp định là 100 tỷ VNĐ tương đương 25 triệu USD, được chia thành 250.000 cổ phần mệnh giá mỗi cổ phần là 400.000 VND được đảm bảo bằng 100 USD dưới hình thức cổ phiếu có ghi tên được chuyển nhượng và có thể rút ra trong thời hạn 3 năm kể từ ngày góp vốn
Ngày 17/10/1990 Thống đốc NHNN ra quyết định số 04/NHQD phê chuẩn điều
lệ của ngân hàng TMCP XNK Việt Nam đồng thời cũng ra quyết định cho phép Ngân hàng TMCP XNK Việt Nam được thực hiện các nghiệp vụ thanh toán quốc
tế và thành lập quan hệ đại lý, quan hệ tài khoản với các ngân hàng nước ngoài Ngân hàng bắt đầu hoạt động từ ngày 17/10/1990, Hội sở Trung ương tại số 7 Lê Thị Hồng Gấm, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh
Chi nhánh Hà Nội của Ngân hàng TMCP XNK Việt Nam được thành lập theo quyết định số 195/EIB – HN/VP ngày 10/08/1992 của Chủ tịch hội đồng quản trị ngân hàng TMCP XNK Việt Nam và được NHNN Việt Nam chấp thuận bằng văn bản số 002/GCT ngày 22/09/1992 theo giấy phép đặt văn phòng chi nhánh số 0503/GP.UB của UBND TP Hà Nội Chi nhánh chính thức đi vào hoạt động từ ngày 27/11/1992, địa điểm hiện tại ở số 19 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm Hà Nội Ngoài trụ sở chính hiện nay, Eximbank Hà Nội còn có 2 chi nhánh cấp II đó
là chi nhánh Láng Hạ đặt tại 54 K1 Thành Công, Láng Hạ, quận Ba Đình, Hà Nội và chi nhánh Long Biên chính thức đi vào hoạt động từ ngày 10/03/2004 Nhiệm vụ chủ yếu của Eximbank Hà Nội là mở rộng phạm vi hoạt động của Eximbank phục vụ các chương trình kinh tế – xã hội và đẩy mạnh công cuộc đầu
Trang 5tư phục vụ sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu ở các tỉnh phía Bắc Mục tiêu đó có tính chất kinh tế và tiền tệ
Tuy hoạt động độc lập nhưng Eximbank Hà Nội vẫn thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm đối với Hội sở Trung ương, cụ thể:
- Thực hiện nghiêm túc và đầy đủ điều lệ của Ngân hàng, các quy định và chỉ thị của Hội Đồng quản trị và tổng giám đốc Eximbank Việt Nam
- Chấp hành thống nhất các quy tắc về nghiệp vụ kinh doanh, và chế độ các hạch toán báo cáo
- Về kết quả kinh doanh, sau khi thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế với Nhà nước, chuyển lợi nhuận kinh doanh về Hội sở Trung Ương
Ra đời trong điều kiện nền kinh tế mở cửa với sự điều tiết của cơ chế thị trường tạo ra môi trường kinh tế phù hợp để chi nhánh hoạt động kinh tế và phát triển Trong hơn 10 năm hoạt động và trưởng thành dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Hội đồng quản trị, sự lãnh đạo sát sao và sự hỗ trợ to lớn về mọi mặt của Hội sở Trung ương, cũng như được sự tín nhiệm của các cổ đông và các đơn vị khách hàng, tập thể lãnh đạo và cán bộ công nhân viên của Eximbank Hà Nội đã tích cực trong công tác đưa chi nhánh ngày càng lớn mạnh Không chịu bó tay trước bất kỳ khó khăn nào, bằng ý chí vươn lên của gần 100 cán bộ công nhân viên, chi nhánh đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ Chỉ trong một thời gian ngắn ra đời và đi vào hoạt động Eximbank Hà Nội đã từng bước khẳng định được chỗ đứng của mình, chứng tỏ được sức mạnh tiềm năng bằng những kết quả đạt được hết sức cụ thể trong từng mặt nghiệp vụ
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Eximbank Hà Nội
Trang 6Để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình đã được xác định ngay từ khi mới thành lập
là phục vụ các chương trình kinh tế – xã hội và đẩy mạnh công cuộc đầu tư phục
vụ sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu ở các tỉnh phía Bắc Bộ máy tổ chức của Eximbank Hà Nội phải tổ chức sao cho vừa gọn nhẹ, nhưng lại vừa đảm bảo đạt hiệu quả cao phù hợp với quy mô và đặc điểm địa bàn hoạt động của chi nhánh
Do đó, cơ cấu tổ chức của Eximbank Hà Nội gồm:
- Giám đốc
- Phó giám đốc
- Các phòng nghiệp vụ
- Chi nhánh cấp II Láng Hạ
- Chi nhánh cấp II Long Biên
- Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Eximbank Hà Nội
Ngoài ra, Eximbank Hà Nội còn có thêm tổ vi tính với nhiệm vụ và chức năng chính là nghiên cứu ứng dụng các phần mềm trong lĩnh vực ngân hàng, quản lý
và bảo dưỡng nâng cấp mạng nội bộ cũng như kết nối với Hội sở Trung ương và các chi nhánh khác trong hệ thống Eximbank Việt Nam Bên cạnh đó, Eximbank
Hà Nội còn có tổ công nợ để theo dõi và quản lý các khoản nợ quá hạn, tổ thẻ phụ trách hoạt động thanh toán và phát hành thẻ MasterCard và VisaCard và bộ phận hỗ trợ tư vấn du học trực thuộc phòng tín dụng đầu tư
2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh chủ yếu của Eximbank Hà Nội trong những năm qua
2.1.4.1 Hoạt động huy động vốn
Trang 7Tạo vốn hiện đang là vấn đề được ngành tài chính ngân hàng, các doanh nghiệp hết sức quan tâm Bởi vì chỉ khi nguồn vốn được đảm bảo thì mới tạo đà cho việc
sử dụng vốn hợp lý vào mục đích khác nhau Và để có thể tạo được nguồn vốn riêng cho mình với chi phí rẻ nhất thì cách tốt nhất là ngân hàng huy động từ nền kinh tế mà chủ yếu từ tổ chức kinh tế và dân cư
Nhận thức được vấn đề đó với phương châm coi tạo nguồn vốn là khâu mở đường tạo mặt bằng vốn tăng trưởng vững chắc ngân hàng Eximbank Hà Nội đã
cố gắng trong công tác huy động vốn với nhiều hình thức huy động khác nhau để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Chính vì vậy, nguồn vốn của ngân hàng không ngừng tăng trưởng Năm 2004, tổng nguồn vốn huy động đạt 985,83 tỷ đồng tăng 2,32% so với năm 2003 Tuy nhiên tốc độ tăng này thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng năm 2003 đạt 45,18% Nguyên nhân là do năm 2004 có những thời điểm tình hình huy động vốn của Eximbank Hà Nội chựng lại rõ nét do tác động tăng của chỉ số giá tiêu dùng
Để thấy rõ hơn sự tăng trưởng của nguồn vốn huy động ta sẽ xem xét cơ cấu của nó:
Bảng 2.1: Cơ cấu huy động theo loại tiền gửi
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Vốn huy động 595.16 100% 880,5 100% 893,44 100%
Tiền gửi của TCKT 243,72 40,85% 243,67 27,67% 251,45 28,14% Tiền gửi tiết kiệm 351,44 59,15% 636,83 72,33% 641,99 71,86%
Trang 8(Nguồn số liệu: phòng Kế toán của Eximbank-HN) Như vậy, trong cơ cấu vốn huy động của Eximbannk Hà Nội thì nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm luôn chiếm tỷ trọng cao hơn so với tiền gửi của các TCKT Nếu trong năm 2002 vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm chỉ chiếm 59,15% trong tổng số vốn huy động từ tài khoản tiền gửi thì đến năm 2004 tỷ lệ
đó đã lên tới 71,86% một tốc độ tăng cao cho thấy uy tín của Eximbank Hà Nội đối với dân cư ngày càng tăng Ngược lại với tiền gửi của dân cư thì tiền gửi của các TCKT chiếm tỷ trọng tương đối thấp trong tổng số vốn huy động từ tài khoản tiền gửi, nếu năm 2002 huy động được 243,72 tỷ đồng chiếm 40,85% thì đến năm 2004 mặc dù số tiền huy động được là 251,45 tỷ đồng nhưng tỷ trọng của nó lại giảm xuống chỉ chiếm 28,14%
Qua phân tích ta thấy số vốn huy động từ tài khoản tiền gửi năm sau đều cao hơn năm trước, để có được điều này Eximbank Hà Nội đã không ngừng nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ cũng như áp dụng mức lãi suất huy động linh hoạt nhằm đảm bảo tốt nguồn vốn huy động đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của ngân hàng
2.1.4.2 Hoạt động tín dụng:
Eximbank Hà Nội có điểm thuận lợi là hoạt động trên một địa bàn đông dân cư, nhiều TCKT hoạt động Nhưng đồng thời trên địa bàn này cũng tồn tại nhiều hệ thống ngân hàng trên nguyên tắc đi vay để cho vay dẫn đến sự cạnh tranh rất cao
Vì vậy để hoạt động kinh doanh đem lại hiệu quả cao thì ngân hàng không những phải chú trọng đến công tác huy động tiền gửi mà phải đặc biệt quan tâm đến sử dụng vốn và nhất là công tác tín dụng của ngân hàng
Trang 9Năm 2003, cho vay ra nền kinh đạt 1746,48 tỷ đồng tăng 617,68 tỷ đồng so với năm 2002 đạt tốc độ tăng 54,72% thì đến năm 2004 doanh số cho vay đạt 1953,5
tỷ đồng tăng 11,86% so với năm 2003
Bảng 2.2: Đánh giá qui mô, tốc độ tăng trưởng tín dụng
Đơn vị: tỷ đồng
DS cho vay
DS thu nợ
Dư nợ ( Nguồn số liệu: Phòng tín dụng Eximbank Hà Nội)
Do mở rộng địa bàn tín dụng, cùng với những nỗ lực của tập thể cán bộ ngân hàng cho nên dư nợ cho vay của Eximbank đã được nâng lên từ 448,18 tỷ đồng năm 2002 lên 587,9 tỷ đồng năm 2003 với tốc độ tăng 31,17%.Và tốc độ tăng 21,38% dư nợ cho vay tính đến 31/12/2004 đã đạt 713,6 tỷ đồng Để ý sự biến động giữa doanh số cho vay và dư nợ cho vay ta thấy doanh số cho vay luôn có mức tăng lớn hơn nhiều so với dư nợ cho vay Năm 2002 mức tăng về doanh số cho vay là 617,68 tỷ đồng gấp 4,4 lần dư nợ cho vay và trong năm 2004 con số này là 1,65 lần Sở dĩ như vậy là do hoạt động cho vay của Eximbank Hà Nội trong năm 2003 và 2004 chủ yếu là cho vay ngắn hạn và cho vay cầm cố, chiết khấu thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn
Với đặc điểm là một ngân hàng TMCP tiến hành các hoạt động kinh doanh tiền
tệ tín dụng ngân hàng nhằm phục vụ sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu và kinh doanh XNK, nên cho vay tài trợ XNK luôn là thế mạnh của HN Chính vì thế trong cơ cấu cho vay thì doanh số cho vay bằng ngoại tệ tại Eximbank Hà Nội
Trang 10luôn chiếm tỷ trọng cao Nếu như năm 2003 doanh số cho vay bằng ngoại tệ qui đổi về VNĐ là 797,12 tỷ đồng, chiếm 45,64% tổng doanh số cho vay của ngân hàng thì đến năm 2004 con số này là 863,37 tỷ đồng, chiếm 47,15% tổng doanh
số cho vay
Cho vay bằng VNĐ tại Eximbank Hà Nội chủ yếu là phục vụ các doanh nghiệp trong việc sản xuất, chế biến, thu mua các mặt hàng xuất khẩu Doanh số cho vay bằng VNĐ năm 2003 là 449,6 tỷ đồng, chiếm 28,6% tổng doanh số cho vay và năm 2004 con số này là 532,8 tỷ đồng, chiếm 27,3% tổng doanh số cho vay Nhìn chung trong năm 2004 do mở rộng địa bàn tín dụng không những trên địa bàn Hà Nội mà tất cả các tỉnh phía bắc nên khối lượng tín dụng tăng lên đáng kể Đây là một trong những nghiệp vụ đem lại nguồn thu đáng kể cho Eximbank Hà Nội trong những năm qua Điều này chứng tỏ khách hàng có sự tin tưởng và tín nhiệm lớn đối với ngân hàng
Song song với tăng trưởng dư nợ lành mạnh, chi nhánh cũng hết sức quan tâm đến công tác xử lý nợ tồn đọng Ban giám đốc chi nhánh luôn đôn đốc cán bộ tín dụng trong việc xem xét và đưa ra các điều kiện cho vay chặt chẽ, đối với những khoản vay lớn thì phải hoàn tất tài sản đảm bảo để tạo điều kiện đối với việc vay vốn của khách hàng và hạn chế rủi ro về phía ngân hàng Tổng dư nợ quá hạn của Eximbank Hà Nội tính đến thời điểm 31/12/2004 là 18,67 tỷ đồng, so với tổng dư
nợ quá hạn năm 2003 thì con số này tăng lên 0,78 tỷ đồng Nhưng nhìn lại năm
2001 với tổng dư nợ quá hạn là 40,42 tỷ đồng thì tình hình nợ quá hạn tại Eximbank Hà Nội đã giảm rõ rệt
Bảng 2.3: Tình hình nợ quá hạn tại Eximbank Hà Nội
Trang 11Đơn vị: Tỷ đồng chỉ tiêu 31/12/2002 31/12/2003 31/12/2004
1 Tổng dư nợ 448,18 587,9 713,6
2 Tổng dư nợ quá hạn Trong đó:
- Đối với cho vay ngắn hạn
- Đối với cho vay trung, dài hạn
- Đối với khoản trả thay trong bảo lãnh
3 Dư nợ quá hạn khó đòi 0 0,53 0,58
4 Tỷ lệ NQH trên tổng dư nợ(%) 0,66 2,69 2,7 (Nguồn số liệu: phòng tín dụng Eximbank Hà Nội) Với sự phấn đấu nỗ lực, công tác kinh doanh tín dụng của Eximbank Hà Nội đã ngày càng mở rộng Là một ngân hàng còn khá non trẻ, lại phải chịu sự cạnh tranh của các ngân hàng lớn có bề dày kinh nghiệm và có nhiều khách hàng quen thuộc trong và ngoài nước thì đối với Eximbank Hà Nội đây có thể được coi là một thành công Năm 2004, thực hiện chủ trương điều chỉnh một bước cơ cấu tín dụng theo hướng cho vay có đảm bảo bằng tài sản và phân tán rủi ro Hạn chế việc cho vay không có đảm bảo bằng tài sản, không cho vay các dự án có hiệu quả thấp Mở rộng tín dụng một cách thận trọng và đúng hướng vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp, tăng cường mạnh cho vay tiêu dùng, cầm cố sổ tiết kiệm Thực hiện qui trình hoá nghiệp vụ tín dụng, ban hành sổ tay tín dụng, công tác tín dụng được kiểm soát chặt chẽ, chất lượng tín dụng được đảm bảo an toàn và hiệu quả
Trang 122.1.4.3 Các hoạt động khác a- Thanh toán quốc tế Khâu thanh toán quốc tế là một nghiệp vụ tương đối phát triểncủa Eximbank Hà Nội So với các ngân hàng trên địa bàn về thanh toán quốc tế, Eximbank Hà Nội chiếm một tỷ trọng khá lớn và là một trong những ngân hàng rất có uy tín Eximbank Hà Nội luôn chấp hành tốt các qui định, qui trình nghiệp vụ thanh toán quốc tế, không để xảy ra sai sót, rủi ro trong thanh toán Hơn 10 năm hoạt động, khối lượng thanh toán XNK qua Eximbank không ngừng được nâng cao cả về số lượng và chất lượng
Bảng 2.4: Doanh số thanh toán quốc tế tại Eximbank Hà Nội
Đơn vị: Tỷ đồng
1 Thông báo L/C 134 21,05 175 22,3 193 25,7 2.Thương lượng chứng từ 145 17,07 147 18,05 158 19,02
3 Thanh toán 142 17,13 149 19,4 151 20,01 Thanh toán hàng nhập
1 Phát hành L/C
a L/C trả ngay 750 72,05 755 73,04 760 74,06
b L/C trả chậm 5 1,59 0 0 5 2,03 Cộng 755 73,64 755 73,04 765 76,09
2 TTR 465 5,92 509 5,67 515 6,01
1 Thanh toán
a L/C trả ngay 748 59,94 820 72,01 868 75,03
Trang 13Cộng 748 59,94 820 72,01 868 75,03
c Nhờ thu trả ngay 163 2,21 175 2,43 183 2,67
d Nhờ thu trả chậm 4 0,22 6 0,34 8 0,36 Cộng 167 2,22 181 2,77 191 3,03
(Nguồn số liệu: Phòng kinh doanh ngoại tệ Eximbank Hà Nội) b- Hoạt động kiều hối
Với lợi thế hệ thống ngân hàng đại lý rộng khắp tại 58 quốc gia trên thế giới đã tạo tiền đề cho việc phát triển kiều hối, thuận tiện cho việc chuyển tiền từ các nước về Việt Nam Lượng kiều hối chuyển về qua Eximbank Hà Nội ngày càng tăng đã đáp ứng được phần nào lượng ngoại tệ phục vụ nhu cầu thanh toán hàng nhập khẩu; tăng nguồn vốn huy động tiết kiệm ngoại tệ; tăng thu dịch vụ ngân hàng Doanh số chi trả kiều hối năm 2003 tăng gấp đôi so với năm 2002, tuy nhiên năm 2004 con số này chỉ đạt 2,1 triệu USD giảm 76% so với năm 2003 Nguyên nhân là do công tác huy động kiều hối chưa có bộ phận chuyên trách nên thiếu tập trung thường xuyên để đề ra các biện pháp thích hợp thu hút đối tác cũng như đưa ra các biện pháp tiếp thị mới
c- Nghiệp vụ thẻ Tháng 3/2001, Eximbank đã chính thức phát hành thẻ tín dụng quốc tế mang thương hiệu ViêtNam Eximbank – MasterCard ra thị trường và trở thành một trong ba ngân hàng phát hành thẻ MasterCard tại thị trường Việt Nam Đến tháng 7/2003 thẻ VietNam Eximbank VisaCard cũng đã chính thức ra đời
Trong năm 2004 đã phát hành ra thị trường 1768 thẻ mang thương hiệu VietNam Eximbank MasterCard, tăng 26% so với năm 2003,với giá trị bình quân 20 triệu
Trang 14đồng /thẻ và doanh số thanh toán thẻ đạt 0,98 triệu USD tăng 20% phí dịch vụ thu được tăng 15% so với năm 2003.Tuy nhiên hoạt động kinh doanh thẻ còn có một số mặt hạn chế như sau:
Số lượng máy ATM của Eximbank quá ít, gây bất tiện đến giao dịch của khách hàng Tiến độ kết nối hệ thống ATM với Vietcombank còn chậm Hoạt động phát triển các đơn vị chấp nhận thẻ hết sức khó khăn do thị trường thanh toán thẻ cạnh tranh rất gay gắt Các ngân hàng áp dụng nhiều chính sách như giảm, miễn phí dịch vụ đối với đơn vị chấp nhận thẻ Thậm chí nhiều ngân hàng đẩy mạnh quảng
bá thương hiệu, chưa quan tâm đến việc thu phí dịch vụ thẻ Công tác quảng cáo, quảng bá sản phẩm thẻ của Eximbank còn hạn chế, nên sản phẩm thẻ của Eximbank chưa có sức thu hút tốt trên thị trường
d- Kinh doanh ngoại tệ Hoạt động kinh doanh ngoại tệ được xác định là một mảng nghiệp vụ lớn và quan trọng tại Eximbank, là trợ lực thúc đẩy các nghiệp vụ khác như xuất khẩu, nhập khẩu kiều hối, tín dụng… đã tăng trưởng khá liên tục và bền vững Trong những năm trở lại đây chi nhánh đã luôn chủ động khai thác và tìm kiếm nguồn ngoại tệ nên đã đáp ứng kịp thời nhu cầu về ngoại tệ phục vụ cho khách hàng nhập khẩu Tuy nhiên nguồn mua USD/VND từ nguồn thanh toán xuất khẩu chỉ chiếm 20-25% nhu cầu thanh toán của khách hàng, còn lại phải mua từ nhiều nguồn khác nhau chủ yếu từ thị trường liên ngân hàng và thị trường vãng lai, nên lượng ngoại
tệ năm qua có nhiều thời điểm khan hiếm, chưa đáp ứng đủ cho các doanh nghiệp, các cá nhân có nhu cầu cần thiết và hợp lý nhưng Eximbank cũng đáp ứng được nhu cầu cơ bản trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ của mình
Trang 15Bảng 2.5: Báo cáo về kinh doanh ngoại tệ của Eximbank Hà Nội
Đơn vị: Triệu USD Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
1 Doanh số mua-bán ngoại tệ 171,83 269,8 471
2 Thu về kinh doanh ngoại tệ 0,12 0,19 0.21 ( Nguồn số liệu: Phòng kinh doanh ngoại tệ Eximbank Hà Nội) Qua bảng số liệu trên ta thấy, tổng doanh số mua bán ngoại tệ của Eximbank Hà Nội năm 2004 đạt mức 471 triệu USD tăng 1,7 lần so với năm 2003
e- Nghiệp vụ kế toán thanh toán và ngân quỹ Đến đầu năm 2004, tổng số tài khoản của khách hàng mở tại ngân hàng là7569 tài khoản Việc quản lý các tài khoản tiền gửi là rất khó khăn và phức tạp
nên phòng kế toán của ngân hàng có trên 15 thanh toán viên làm công việc này Việc tổ chức thanh toán nhanh chóng an toàn và thuận lợi của ngân hàng đã góp phần tạo được niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng Đồng thời công tác thanh toán qua ngân hàng cũng được chi nhánh chú trọng Chi nhánh thực hiện thanh toán bù trừ trục tiếp với khách hàng trên địa bàn Hà Nội nên đẩy mạnh tốc
độ thanh toán ngoài hệ thống Đối với công tác thanh toán liên hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán 100% qua máy vi tính vì vậy đảm bảo được thanh toán nhanh chóng, chính xác, an toàn
Khối lượng tiền mặt lưu thông qua quỹ của Eximbank Hà Nội tương đối lớn, lượng tiền mặt thu vào trong hơn 10 năm qua trên10.000 tỷ VNĐ và chi ra cững xấp xỉ 10.000 tỷ VNĐ Về hoạt động thu chi ngoại tệ trong 10 năm qua, các loại ngoại tệ đã thu qua quỹ ngoại tệ đạt trên 180 triệu USD, chi ra đạt 185 triệu
Trang 16USD Công tác thu chi tiền mặt trong năm qua mặc dù khối lượng tăng lên gấp nhiều lần so với năm 2003 nhưng vẫn đảm bảo an toàn không xảy ra mất mát 2.1.4.4 Kết quả kinh doanh
Được sự chỉ đạo và hỗ trợ nhiều mặt của Hội sở Trung ương cũng như các chi nhánh trong cùng hệ thống, trong năm qua tập thể lãnh đạo, nhân viên của chi nhánh đã tích cực trong công tác, vượt qua những khó khăn đảm bảo kinh doanh
có lãi
Bảng 2.6: Tình hình thu nhập, chi phí của Eximbank Hà Nội
Đơn vị: Tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Tổng thu 34,82 56,8 73,17
Tổng chi 25,87 48,52 60,83 Lợi nhuận thu được 8,95 8,28 9,01 I/ Các nguồn chủ yếu
- Thu lãi cho vay 20,79 34,19 41,52
- Thu lãi tiền gửi 5,17 12,25 19,21
- Thu từ nghiệp vụ bảo lãnh 0,32 0,24 0,83
- Thu từ kinh doanh ngoại tệ 2,7 3,52 4,37