1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Eximbank Hà Nội đi đầu trong huy động vốn nhằm điều hòa hệ thống eximbank Việt Nam - 1 pptx

33 314 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 223,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời kỳ đầu vào khoảng thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, các ngân hàng còn hoạt động độc lập với nhau và thực hiện các chức năng như nhau đó là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán

Trang 1

Lời mở đầu 1- Tính cấp thiết của đề tài Trước tình hình kinh tế xã hội đang có nhiều diễn biến phức tạp, đan xen giữa khó khăn và thuận lợi, nguy cơ và thời cơ Để tiến hành CNH, HĐH đất nước cần phải đẩy mạnh cách mạng công nghệ, phát huy tối đa mọi nguồn lực mà quan trọng nhất là vốn

Theo kinh nghiệm của các nước đi trước, có nước đã sử dụng nguồn vốn bên ngoài làm chủ lực, nguồn vốn trong nước làm bổ trợ cho sự phát triển, tận dụng lợi thế chuyển giao công nghệ tiên tiến, rút ngắn thời gian bắt kịp với các nước phát triển Có nước lại lựa chọn nguồn vốn nội địa làm chủ đạo, bằng cách này tốc độ phát triển thường chậm, nhưng hạn chế được sự phụ thuộc vào bên ngoài, tạo thế chủ động trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược, đảm bảo sự phát triển vững chắc của nền kinh tế trong lâu dài

Nằm trên vòng cung kinh tế đang phát triển năng động nhất thế giới, Châu á Thái Bình Dương, trong công cuộc đổi mới, Việt Nam còn vấp phải nhiều khó khăn trở ngại Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu thốn, lạc hậu, trình độ đội ngũ cán bộ lao động còn nhiều hạn chế, nền tảng cho mọi hoạt động kinh doanh còn thiếu rất nhiều Đứng trước xu thế mở cửa hợp tác, để vững bước trên con đường phát triển CNXH theo định hướng của Đảng, chúng ta phải biết nắm bắt thời cơ, đi tắt đón đầu tận dụng khai thác mọi nguồn lực trong và ngoài nước Với chủ trương

đề ra ở Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và được khẳng định lại ở Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX: “Vốn trong nước có ý nghĩa quyết định, vốn nước ngoài có ý nghĩa quan trọng kết hợp tiềm năng sức mạnh bên trong với khả năng

Trang 2

có thể tranh thủ bên ngoài” Nhưng bằng cách nào để khơi thông thu hút được nguồn lực trong điều kiện nền kinh tế cạnh tranh hiện nay Câu hỏi được giải đáp bằng sự ra đời của các trung gian tài chính, đặc biệt là các NHTM

Là một trong những NHTM CP đi đầu trong lĩnh vực huy động vốn, vừa thực hiện chức năng kinh doanh, vừa thực hiện vai trò thành viên đóng góp một phần vốn điều hoà cho cả hệ thống NHTM CP XNK Việt Nam Tuy nhiên công tác này vẫn còn một số hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện Để thực hiện tốt vai trò và chức năng của mình việc tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu để làm tốt hơn công tác huy động vốn tại ngân hàng trong thời gian tới là rất cần thiết

Là một sinh viên chuyên ngành tài chính tín dụng, bằng những vốn kiến thức đã được tiếp thu ở trường cộng với sự hiểu biết có hạn từ thực tế trong quá trình thực tập tại NHTM CP XNK Hà Nội, tôi đã chọn đề tài: “NHTM CP XNK chi nhánh Hà Nội đi đầu trong công tác huy động vốn, góp phần điều hòa cả hệ thống Eximbank VN” làm khoá luận tốt nghiệp của mình

2- Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở xác định nội dung, vai trò của NHTM thông qua hoạt động huy động vốn để đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế, dịch vụ, khoá luận nghiên cứu thực trạng hoạt động của NHTM CP XNK chi nhánh Hà Nội nói chung và lĩnh vực huy động vốn nói riêng Từ đó, đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm

mở rộng huy động vốn tại Eximbank Hà Nội, đáp ứng vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả trên địa bàn

3- Đối tượng và phạm vị nghiên cứu

Trang 3

Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là những lý luận cơ bản về vốn và sử dụng vốn cho hoạt động kinh doanh ngân hàng Trong đó trọng tâm là nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn

Phạm vị nghiên cứu là khảo sát hoạt động của NHTM CP XNK Hà Nội trong 3 năm từ 2002 đến 2004 Các giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Eximbank Hà Nội

4- Phương pháp nghiên cứu Khoá luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch

sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với các học thuyết kinh tế, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp…

5- Kết cấu của khoá luận Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận chia thành 3 chương

Chương 1: Lý luận chung về công tác huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM

Chương 2: Thành công dẫn đầu trong công tác huy động vốn tại NHTM CP XNK chi nhánh Hà Nội

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn tại NHTM

Trang 4

Ngân hàng được hình thành và phát triển trải qua một quá trình lâu dài với nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau Trong thời kỳ đầu vào khoảng thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, các ngân hàng còn hoạt động độc lập với nhau và thực hiện các chức năng như nhau đó là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán trong nền kinh tế và phát hành giấy bạc ngân hàng

Sang thế kỷ XVIII, lưu thông hàng hoá ngày càng mở rộng và phát triển Việc các ngân hàng cùng thực hiện chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng làm cho lưu thông có nhiều loại giấy bạc ngân hàng khác nhau đã gây cản trở cho quá trình lưu thông hàng hoá và phát triển kinh tế Chính điều này đã dẫn đến sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng Lúc này hệ thống ngân hàng được phân thành hai nhóm: thứ nhất là nhóm ngân hàng được được phép phát hành tiền được gọi là ngân hàng phát hành, sau chuyển thành NHTW Thứ hai là các ngân hàng không được phép phát hành tiền, chỉ làm trung gian tín dụng và trung gian thanh toán giữa các chủ thể trong nền kinh tế

Ngày nay, hệ thống ngân hàng của hầu hết các nước trên thế giới là ngân hàng hai cấp trong đó có việt nam: NHTW là chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, là ngân hàng phát hành, ngân hàng của các ngân hàng

và là ngân hàng của chính phủ còn các NHTM thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ

Do vậy ở mỗi quốc gia khác nhau, hình thành một khái niệm khác nhau về NHTM ở Việt Nam, Pháp lệnh Ngân hàng ban hành ngày 23/5/1990 xác định : “ Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu

và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử

Trang 5

dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán’’ Luật các TCTD được bổ sung sửa đổi năm 2004, điều 20 giải thích: “ TCTD là doanh nghiệp được thành lập theo qui định của luật này và các qui định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng.” và “ Hoạt động ngân hàng

là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên

là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”

1.1.2 Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường, nền kinh tế đã đạt đến trình độ cao của kinh tế hàng hoá, ngân hàng đóng vai trò quan trọng, nó là hệ thống thần kinh, hệ thống tuần hoàn của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nền kinh tế chỉ có thể cất cánh, phát triển với tốc độ cao nếu có một hệ thống ngân hàng vững mạnh Ngân hàng và nền kinh tế có mối quan hệ hữu cơ lẫn nhau Do đó, vai trò của ngân hàng thương mại được thể hiện ở một số mặt sau:

1.1.2.1 NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế Khi nhắc tới vai trò của ngân hàng thương mại thì không thể không nhắc tới vai trò cung ứng vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế Để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh điều đầu tiên các chủ doanh nghiệp phải quan tâm đó là vốn Nếu không có vốn thì doanh nghiệp sẽ bị mất cơ hội đầu tư, mất đi lợi nhuận mà lẽ ra có thể thu được

Do nhược điểm của thị trường tài chính dẫn đến ảnh hưởng tới tính liên tục của chu trình tài chính như sự không khớp nhịp giữa cung vốn và cầu vốn qua vấn đề thời gian và lượng vốn, rủi ro đạo đức, rủi ro mất khả năng thanh toán, …NHTM

Trang 6

với tư cách là một chủ thể kinh doanh trên lĩnh vực tài chính tiền tệ có thể khắc phục được những nhược điểm trên NHTM chính là người đứng ra tiến hành khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế … hình thành nên quỹ cho vay và sử dụng chúng để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh

tế Là một kênh phân phối vốn có hiệu quả NHTM đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh cải tiến qui trình công nghệ, từ đó nâng cao năng suất lao động để có thể đứng vững trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường Với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia 1.1.2.2 NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường

Để có thể tiếp cận với thị trường đầu ra và tìm kiếm lợi nhuận các doanh nghiệp cần phải quan tâm tới thị trường đầu vào của mình mà yếu tố đầu vào quan trọng nhất chính là vốn, đây luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh doanh vì

nó đặt nền tảng đầu tiên cho mọi hoạt động của doanh nghiệp Các doanh nghiệp không thể chỉ trông chờ vào vốn tự có mà phải biết khai thác các nguồn vốn khác tài trợ cho hoạt động của mình Nguồn vốn tín dụng của NHTM sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết được khó khăn đó Như vậy, ngân hàng chính là cầu nối đưa doanh nghiệp đến với thị trường giúp doanh nghiệp tìm kiếm được đầu vào, bôi trơn hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho nó phát huy hiệu quả một cách tốt nhất trên thị trường, giúp doanh nghiệp và thị trường gần nhau hơn cả về không gian và thời gian

1.1.2.3 NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Trang 7

Nếu NHTW có nhiệm vụ xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ thông qua các công cụ như: thị trường mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất,… thì các NHTM một mặt chịu sự tác động trực tiếp của các cộng cụ này mặt khác nó còn tham gia điều tiết gián tiếp vĩ mô nền kinh tế thông qua mối quan hệ với các tổ chức kinh tế, cá nhân về các hoạt động tài chính tín dụng Nói cách khác, thông qua hoạt động của NHTM với các chủ thể khác trong nền kinh tế, mọi thông tin có liên quan đến việc hoạch định chính sách tiền tệ sẽ được phản hồi lại NHTW, giúp NHTW

có thể hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp trong từng thời kỳ để đảm bảo thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển ổn định

1.1.2.4 NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế Trên thế giới, trong thời đại ngày nay, mỗi quốc gia độc lập thường xuyên tiến hành những mối quan hệ đa dạng và phức tạp trên nhiều lĩnh vực : kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao, văn hoá, khoa học- kỹ thuật, …trong đó quan hệ kinh tế thường chiếm vị trí quan trọng áp lực cạnh tranh buộc nền kinh tế của mỗi quốc gia khi mở cửa hội nhập phải có tiềm lực lớn mạnh và toàn diện về mọi mặt mà quan trọng nhất là tài chính Nhưng làm thế nào để có thể hoà nhập nền kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới ? Câu hỏi này sẽ được giải đáp thông qua vai trò của hệ thống NHTM với hàng loạt các nghiệp vụ không ngừng được hoàn thiện và phát triển: thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, uỷ thác đầu tư, … Hệ thống NHTM trong nước đã điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế, đưa nền tài chính trong nước bắt kịp với nền tài chính quốc tế

1.1.3 Các chức năng của NHTM

Trang 8

1.1.3.1 Chức năng trung gian thanh toán Ngân hàng làm chức năng trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc nhập tiền vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ Việc nhận tiền gửi và theo dõi các khoản thu chi trên tài khoản tiền gửi của khách hàng là tiền đề để ngân hàng thực hiện vai trò là trung gian thanh toán Mặt khác, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thể trong nền kinh tế có nhiều hạn chế đó là rủi ro phải vận chuyển tiền, chi phí thanh toán lớn, đặc biệt là với khách hàng ở cách xa nhau đã tạo nên nhu cầu thanh toán qua ngân hàng

Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh tế Trước hết thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt và đảm bảo thanh toán an toàn NHTM sẽ cung cấp cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán nhanh chóng và thuận tiện như : séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán, thanh toán điện tử, thanh toán bù trừ,… cho phép khách hàng lựa chọn hình thức thanh toán mà theo họ là hiệu quả và an toàn nhất Điều này góp phần tăng nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội Mặt khác, chức năng này còn góp phần tăng thu nhập cho ngân hàng thông qua việc thu phí thanh toán làm tăng uy tín của ngân hàng và tạo điều kiện cho ngân hàng thu hút nguồn vốn tiền gửi

Trang 9

Chu chuyển tiền tệ hiện nay chủ yếu thông qua hệ thống NHTM nên các NHTM không ngừng đổi mới và cải tiến công nghệ để nâng cao chất lượng thanh toán đáp ứng nhu cầc của khách hàng ngày càng tốt hơn

1.1.3.2 Chức năng làm trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng là khái niệm cơ bản và đặc trưng nhất của NHTM

và có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Ngân hàng làm chức năng trung gian tín dụng khi nó là “cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn” Nói cách khác, ngân hàng sau khi huy động được các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế sẽ hình thành nên quỹ cho vay của ngân hàng và sẽ sử dụng nó để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các chủ thể trong nền kinh tế mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn Với chức năng này ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay Hay nói cách khác, nghiệp vụ tín dụng ngân hàng của NHTM đi vay là để cho vay

Chức năng trung gian tín dụng xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tái sản xuất xã hội Sở dĩ không phải là một tổ chức nào khác trong nền kinh tế mà lại là ngân hàng đứng ra thực hiện chức năng này vì ngân hành là một tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ, tín dụng, họ có đầy đủ kinh nghiệm và sự hiểu biết về tình hình cung cầu tín dụng trong nền kinh tế do vậy

họ có thể khắc phục được những khiếm khuyết của thị trường tài chính đó là sự không khớp nhịp giữa cung cầu tín dụng về thời hạn và số lượng tức là thông qua việc thu hút tiền gửi với một số lượng lớn ngân hàng có thể giải quyết mối quan

hệ giữa cung cầu tín dụng cả về khối lượng vốn cho vay và thời gian cho vay

Trang 10

Thông qua chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã góp phần tạo ra lợi ích cho tất cả các bên trong quan hệ là người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay

và đảm bảo lợi ích cho nền kinh tế

1.1.3.3 Chức năng tạo tiền

Vào cuối thế kỷ XIX, khi mà hệ thông ngân hàng hai cấp được hình thành trong đó NHTW có nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ còn các NHTM thực hiện vai trò kinh doanh tiền tệ Khi đó, các NHTM thông qua chức năng trung gian thanh toán và trung gian tín dụng đã tạo ra tiền ghi sổ trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM Nói cách khác, nhờ hoạt động trên hệ thống các NHTM đã tạo ra bút tệ thay thế cho tiền mặt

Các ngân hàng có khả năng mở rộng tiền gửi không kỳ hạn từ một khoản tiền gửi ban đầu, hoặc từ khoản tiền nhận được từ NHTW thông qua việc cấp tín dụng cho các khách hàng là tổ chức phi ngân hàng Bất kỳ ngân hàng nào được phép huy động tiền gửi không kỳ hạn và cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng đều có khả năng tạo tiền Sự kết hợp giữa chức năng trung gian thanh toán và trung gian tín dụng làm cho hệ thống NHTM có khả năng tạo tiền gửi thanh toán Từ một khoản tiền gửi ban đầu thông qua làm chức năng trung gian tín dụng ngân hàng sử dụng để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng

sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ… tức là ngân hàng đã tạo tiền Còn ngược lại khi ngân hàng huy động được số vốn mà chưa cho vay ngân hàng chưa hề tạo tiền Sự tạo tiền của NHTM chỉ xảy ra khi mọi hoạt động kinh

Trang 11

doanh của NHTM thực hiện bằng chuyển khoản ghi nợ cho tài khoản nay và ghi

có cho tài khoản khác có liên quan

Thực hiện chức năng tạo tiền, với việc cho vay không có sự xuất hiện của tiền mặt, các NHTM đã giảm được khối lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm được chi phí, giúp điều tiết lượng tiền cung ứng phù hợp chính sách ổn định giá

cả, tăng trưởng kinh tế, giảm thất nghiệp, làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế đáp ứng nhu cầu chi trả của xã hội

Các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau Đồng thời, khi NHTM thực hiện tốt chức năng thủ quỹ và trung gian thanh toán góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng,

mở rộng qui mô hoạt động của ngân hàng

1.1.4 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại 1.1.4.1 Nghiệp vụ tài sản nợ

Tài sản nợ bao gồm những khoản nợ mà ngân hàng nợ thị trường và vốn của ngân hàng Các khoản nợ được thị trường biểu hiện thông qua những khoản vốn

mà dân chúng gửi vào NHTM hoặc NHTM đi vay các chủ thể trong nền kinh tế như các cá nhân, các hộ gia đình, doanh nghiệp, nước ngoài, các trung gian tài chính khác, NHTW…

a-Vốn tiền gửi Đây là nghiệp vụ phản ánh hoạt động huy động vốn của NHTM dưới dạng nhận các khoản tiền gửi của DN vào ngân hàng để thanh toán nhằm mục đích an toàn

Trang 12

hay hưởng lãi Đồng thời ngân hàng còn huy động các khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư gửi vào ngân hàng với mục đích hưởng lãi Bao gồm:

+ Tiền gửi thanh toán: Là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của TCKT và cá nhân trong quá trình kinh doanh của mình gửi vào ngân hàng để chủ động thanh toán hoặc sinh lời Tuỳ theo tính chất nhàn rỗi của các nguồn vốn các tổ chức, cá nhân

có thể gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn vào ngân hàng Ngân hàng có thể sử nguồn vốn này vào cho vay các thành phần kinh tế

+ Tiền gửi tiết kiệm: Đây là hình thức huy động vốn truyền thống của NHTM Tiền gửi tiết kiệm là khoản để dành hoặc tạm thời nhàn rỗi của dân cư gửi vào ngân hàng với mục đích hưởng lãi theo định kỳ hoặc tiết kiệm chi tiêu cho tương lai Đây là nguồn vốn quan trọng có tính chất ổn định cao và có qui mô lớn trong tổng nguồn vốn huy động của NHTM Khách hàng có thể gửi tiết kiệm không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn tuỳ theo nhu cầu sử dụng

b- Phát hành giấy tờ có giá Nghiệp vụ này được thực hiện mang tính chất thời vụ, nó phát sinh khi có nhu cầu về vốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nhằm thu hút các khoản vốn trung dài hạn để đầu tư để đầu tư vào nền kinh tế, do huy động có thời hạn nên nguồn vốn này tăng cường tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM Bao gồm: kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi

c-Vốn đi vay Tuy nguồn tiền gửi là nguồn tiền quan trọng nhất của NHTM nhưng sau khi đã

sử dụng hết vốn và tiền gửi mà ngân hàng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vay

Trang 13

vốn của khách hàng hoặc phải đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi trả của khách hàng… NHTM có thể đi vay ở NHTW, ở các NHTM khác trên thị trường tiền tệ, vay ở các tổ chức nước ngoài…Vốn đi vay chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ có thể chấp nhận được trong kết cấu nguồn vốn của ngân hàng nhưng nó rất cần thiết và

có vị trí quan trọng để đảm bảo cho ngân hàng hoạt động bình thường

NHNN có thể cho các NHTM vay dưới các hình thức : cho vay chiết khấu, cho vay cứu cánh và cho vay theo thời vụ

- Cho vay chiết khấu: các thương phiếu đã được các NHTM chiết khấu và trở thành tài sản của họ khi cần thiết NHTM sẽ mang những thương phiếu này đến xin chiết khấu tại NHTW Thông thường NHNN chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chất lượng và phù hợp với mục tiêu của NHNN trong từng thời kỳ và NHNN chủ yếu chỉ cho vay ngắn hạn để giải quyết nhu cầu cấp bách của NHTM

- Cho vay cứu cánh: NHNN sẽ cho vay cứu cánh khi NHTM bị khủng hoảng trầm trọng và có nguy cơ phá sản gây ảnh hưởng tới toàn hệ thống và đang

bị đặt trong tình trạng “kiểm soát đặc biệt” theo quyết định của thống đốc

- Cho vay theo thời vụ : tại NHTM có những thời kỳ nhu cầu vay vốn và thanh toán của khách hàng khi diễn ra nhiều mà nguồn vốn của ngân hàng không đáp ứng đủ thi NHTW có thể cho vay để đảm bảo hoạt động

Ngoài ra khi có nhu cầu NHTM còn có thể đi vay từ các NHTM khác Đây là nguồn các NHTM vay mượn lẫn nhau và vay của các TCTD khác trên thị trường Các NHTM đang thiếu hụt dự trữ có thể vay mượn từ các NHTM và TCTD khác trên thị trường để đảm bảo thanh khoản còn các ngân hàng đang có dự trữ

Trang 14

vuợt yêu cầu do có sự gia tăng bất ngờ về nguồn vốn huy động cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn Quá trình vay mượn diễn ra rất đơn giản ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua NHTW Khoản vay có thể không cần được đảm bảo hoặc được đảm bảo bằng các chứng khoán của kho bạc Kết quả là dự trữ của ngân hàng cho vay giảm đi và dự trữ của ngân hàng đi vay tăng lên Có 2 loại vay từ NHTM khác :

- Vay qua đêm

- Vay có kỳ hạn

Các khoản đi vay thường là với quy mô và thời hạn xác định trước do vậy tạo thành nguồn vốn ổn định cho ngân hàng Khác với nhận tiền gửi ngân hàng không nhất thiết phải đi vay thường xuyên: ngân hàng chỉ vay lúc cần thiết và hoàn toàn chủ động về khồi lượng vay cho phù hợp với nhu cầu sử dụng Tuy nhiên, do rủi ro lớn hơn nên lãi suất trả cho tiền vay thường lớn hơn lãi suất trả cho tiền gửi với cùng kỳ hạn Hơn nữa việc đi vay thường xuyên cũng sẽ làm cho

uy tín của ngân hàng trên thị trường tiền tệ bị giảm sút gây ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh cũng như khả năng cạnh tranh của ngân hàng

d- Vốn khác Quá trình thực hiện các nghiệp vụ trung gian, NHTM cũng tạo được một khoản vốn gọi là vốn trong thanh toán như: vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài khoản séc bảo chi, séc định mức và các khoản tiền phong toả do ngân hàng chấp nhận hối phiếu thanh toán…

Thông qua các nghiệp vụ đại lý, dịch vụ NHTM cũng thu hút được một lượng vốn như trong quá trình thu hoặc chi hộ khách hàng, làm đại lý cho các tổ chức

Trang 15

tín dụng khác, nhận chuyển vốn cho khách hàng…Do phát tiền theo tiến độ nên thường xuyên có một bộ phận vốn kết dư trên tài khoản ngân hàng có thể sử dụng tạm thời nguồn vốn đó vào kinh doanh

Phần lớn các nguồn vốn khác không phải trả lãi hoặc trả lãi rất thấp Tuy nhiên, chi phí để có và duy trì chúng là rất đáng kể Để có được nguồn vốn này, các ngân hàng cần không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ, đa dạng hoá các dịch vụ tài chính, nâng cao uy tín của nhân hàng nhằm thu hút khách hàng e-Vốn tự có và coi như tự có của của ngân hàng

Vốn tự có là nhưng giá trị tiền tệ mà ngân hàng tạo lập được thuộc về sở hữu của ngân hàng Vốn tự có mang tính chất ổn định, nó thường chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng (dưới 10%), nhưng nó có một vị trí quan trọng quyết định qui mô hoạt động của ngân hàng, là cơ sở để ngân hàng tiến hành kinh doanh, huy động vốn và cho vay Nó đóng vai trò là “ tấm đệm giúp chống đỡ rủi ro phá sản” Vốn tự có của ngân hàng góp phần thoả mãn các cơ quan quản lý ngân hàng khi họ xem xét các điều kiện của ngân hàng trong việc thiết lập các chi nhánh, giới hạn tín dụng, đầu tư và mua sắm tài sản cố địng của ngân hàng Vốn cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển của các hình thức dịch vụ mới, cho những chương trình và trang thiết bị mới Nguồn hình thành vốn tự có gồm hai nguồn chính sau:

-Vốn tự có ban đầu là vốn mà NHTM phải có để đi vào hoạt động được quy định trong những văn bản pháp quy Đây là phần vốn mà ngân hàng thực có trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng và thuộc quyền sở hữu của ngân hàng Tuỳ

Trang 16

theo tính chất mỗi ngân hàng mà nguồn vốn hình thành ban đầu khác nhau Chẳng hạn :

+ NHTM quốc doanh: vốn điều lệ do NSNN cấp

+ NHTM cổ phần: vốn điều lệ do các cổ đông đóng góp

+ NH liên doanh: vốn điều lệ do các bên tham gia liên doanh đóng góp

+NH tư nhân: vốn điều lệ thuộc sở hữu tư nhân

- Vốn tự có bổ sung trong quá trình hoạt động:

+ Vốn tự có bổ sung từ nguồn nội bộ: tỷ lệ bổ sung vào vốn tự có từ lợi nhuận tuỳ thuộc vào quyết định của chủ ngân hàng về tích luỹ và tiêu dùng

+ Vốn tự có bổ sung từ bên ngoài bằng cách phát hành cổ phiếu thường, cổ phiếu

ưu đ•i, trái phiếu chuyển đổi

+ Vốn tự có bổ sung từ các quỹ trích từ lợi nhuận của ngân hàng

1.1.4.2.Nghiệp vụ tài sản có Tài sản có phản ánh việc sử dụng vốn của NHTM hay những khoản mà thị trường nợ NHTM Đó là những khoản mà ngân hàng cho thị trường vay hay đầu

tư vào thị trường

a-Nghiệp vụ ngân quỹ Nghiệp vụ này phản ánh các khoản về dự trữ của ngân hàng bao gồm:

- Tiền mặt tại quỹ

- Tiền gửi ở ngân hàng khác

- Tiền gửi ở NHTW Mặc dù dự trữ của ngân hàng không tạo nên lợi nhuận cho ngân hàng nhưng nó đảm bảo an toàn trong thanh toán và các nghiệp vụ tài chính khác cho ngân hàng

Ngày đăng: 05/08/2014, 22:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w