Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, ung thư là một nhóm các bệnh liên quan đến việc phân chia tế bào không theo tổ chức và không kiểm soát được, có khả năng tồn tại và phát triển ở các tổ chức lạ 1. Các tế bào này có khả năng xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển theo mạch máu đến phát triển ở các mô ở xa (gọi là di căn), gây nguy hiểm cho tính mạng con người 1, 2.Ngay từ cuối thập kỷ 50, đầu thập kỷ 60, con người đã đi tìm thuốc điều trị bệnh ung thư. Viện Ung thư Quốc gia Mỹ (National Cancer Institute, viết tắt là NCI) đã có một dự án lớn là sàng lọc và tìm các hoạt chất có tác dụng chống ung thư để dùng làm thuốc điều trị bệnh này 1. Trong đó có cả việc sàng lọc các cây thuốc có tác dụng chống ung thư để tìm ra hoạt chất của nó. Một số hợp chất tự nhiên đã được phát hiện và được sử dụng làm thuốc dùng cho điều trị ung thư. Nổi bật nhất trong số các hợp chất tự nhiên tìm được trong chương trình này là taxol (paclitaxel), được phân lập từ cây thông đỏ Taxus brevifolia. Đến năm 1971, Wani và cộng sự công bố phát hiện về hoạt tính chống ung thư của hợp chất này và xác định được công thức hóa học của nó 2. Taxol và các dẫn xuất của nó được dùng điều trị ung thư phổi, buồng trứng, vú, đầu và cổ 3.
Trang 1TỔNG QUAN VỀ UNG THƯ VÀ DƯỢC LIỆU CHỮA UNG THƯ PHẦN 1: Vài nét cơ bản về bệnh ung thư
Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, ung thư là một nhóm các bệnh liên quan đến việc phân chia tế bào không theo tổ chức và không kiểm soát được,
có khả năng tồn tại và phát triển ở các tổ chức lạ [1] Các tế bào này có khả năng xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển theo mạch máu đến phát triển ở các mô ở xa (gọi là di căn), gây nguy hiểm cho tính mạng con người [1], [2]
Nguyên nhân gây ung thư là do sự đột biến ADN, gây ra đột biến ở các gen thiết yếu ở quá trình phân bào và các quá trình thiết yếu khác [2], [3] Các tế bào này không tuân theo qui trình tự nhiên là sinh ra – phát triển – già – chết mà chúng phát triển không kiểm soát được, vô hạn, tích lũy dần dần tạo ra khối u (tumor), tức là ung thư Khi các tế bào ung thư phát triển mạnh
mẽ gây chèn ép các tế bào bình thường, hoặc gây mất chức năng của các tế bào bình thường sẽ dẫn đến tử vong [1−3] Có nhiều tác nhân gây ra ung thư gồm có các hóa chất độc hại từ tự nhiên (trong khói thuốc lá, các loài sinh vật như nấm, môi trường), các tác nhân vật lý (tia tử ngoại, tia phóng xạ), các tác nhân sinh học (vi khuẩn, virus, ký sinh trùng), do di truyền [4] Tuy cùng gọi chung là ung thư, nhưng thực chất nó gồm có nhiều bệnh
có cùng tính chất như trên [1−3] Thông thường ung thư được phân loại theo
tế bào, mô bị ung thư như ung thư phổi (lung cancer), ung thư vú (breast cancer), ung thư dạ dày (stomuch cancer), ung thư bàng quang (bladder cancer), ung thư buồng trứng (ovarian cancer), ung thư biểu mô (carcinoma)
Sự nguy hiểm của ung thư và cuộc chiến chống ung thư
Ung thư đã gây tử vong lớn trên thế giới, theo WHO thì ung thư là
Trang 2nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới [4] Cũng theo WHO năm
2004, ung thư gây tử vong khoảng 7,4 triệu người (khoảng 13% trường hợp
tử vong) trên thế giới [4], và khoảng 7,6 triệu người năm 2007 [5] Theo dự báo đến năm 2030, số người chết vì ung thư hàng năm khoảng 12 triệu người [4] Số người chết do ung thư ở Việt Nam cũng rất cao [6]
Sự nguy hiểm của căn bệnh ung thư đã được biết từ sớm và năm 1971, tổng thống Mỹ Nixon tuyên bố mở một cuộc chiến chống lại ung thư [7] Ngày nay, ung thư đã trở thành đại dịch và con người đã, đang tìm cách phòng và chữa trị nó Tuy nhiên, sau 5 thập kỷ nghiên cứu thuốc và phương pháp chữa trị mà vẫn chưa có nhiều kết quả, con người vẫn tiếp tục đi tìm các phương pháp chữa bệnh có hiệu quả hơn Cho đến nay, người ta vẫn chưa tìm ra được thuốc hay phương pháp chữa ung thư hiệu quả
Khoảng hơn 30% số trường hợp tử vong do ung thư có thể phòng và tránh được ung thư nếu chúng ta không tiếp xúc với các tác nhân gây ra nó (ví dụ không hút thuốc lá, không uống rượu, tránh ô nhiễm môi trường, ăn nhiều rau và hoa quả, tập thể dục thường xuyên…) [1] Có nhiều trường hợp
có thể phòng và chữa được nếu phát hiện sớm [1−4] Vì vậy WHO khuyến cáo con người nên đi khám thường xuyên để phòng bệnh Nhưng điều này chỉ có được ở các nước phát triển, những người giàu có đủ điều kiện về kinh
tế và y tế Còn đối với các nước đang phát triển và các nước nghèo thì không
có được điều kiện như vậy Do đó, số trường hợp tử vong ở các nước phát triển ít hơn ở các nước đang phát triển và các nước nghèo [4] Khi ung thư
đã ở giai đoạn cuối hay di căn thì số trường hợp tử vong rất lớn
Ngày nay có nhiều phương pháp để điều trị bệnh ung thư, gồm có phẫu thuật, vật lý trị liệu (xạ trị liệu), hóa trị liệu (dùng thuốc điều trị ung thư), tăng cường miễn dịch (miễn dịch trị liệu), vaccine … và ngày càng có nhiều
Trang 3phương pháp mới [2] Trong số đó, hóa trị liệu là phương pháp cổ điển và vẫn chưa thể thay thế được Các hóa chất dùng để điều trị bệnh ung thư là các chất có nguồn gốc tự nhiên, hoặc là các dẫn xuất của nó
Những năm 50, 60 và 70 của thế kỷ trước, người Mỹ đã có chiến dịch tìm các chất chống ung thư từ tự nhiên bằng các phương pháp sàng lọc hoạt tính ban đầu, do Viện Ung thư quốc gia (National Cancer Institute – NCI) khởi xướng và cấp kinh phí Chiến dịch này đã rất thành công về kết quả Hàng loạt các chất chống ung thư như camptothecin, vincristin, vinblastin, taxol đã được phát hiện từ tự nhiên là các cây thuốc được sử dụng trong y học dân gian với nhiều mục đích khác nhau Sau đó, các chất này và các dẫn xuất của chúng đã dùng để điều trị các bệnh ung thư cho đến tận ngày nay Mặc dù các nước phát triển đã nghiên cứu sàng lọc các cây thuốc có tác dụng chống ung thư để tìm ra thuốc chữa bệnh từ thập kỷ 50 của thế kỷ trước, thì các nghiên cứu này mới bắt đầu phát triển ở Việt Nam khoảng hơn
10 năm gần đây Chúng tôi xin tóm tắt một số kết quả tiêu biểu của các nhà khoa học trong nước
Nhóm nghiên cứu về hợp chất thiên nhiên của GS Phan Tống Sơn (khoa Hóa học, Đại học Quốc gia Hà Nội) có cho một số kết quả công bố về các
cây thuốc có hoạt tính chống ung thư từ các cây Croton tonkinensis (khổ sâm cho lá) và Scoparia dulcis (cam thảo nam) [8] GS Nguyễn Xuân Dũng
(khoa Hóa học, Đại học Quốc gia Hà Nội) cũng có công trình chứng minh các diterpen phân lập từ cây khổ sâm cho lá có tác dụng chống ung thư [9] Nhóm nghiên cứu của tác giả Phan Văn Kiệm (viện hóa học các hợp chất tự nhiên), cũng có nhiều kết quả về nghiên cứu các cây thuốc có tác dụng chống ung thư ở Việt Nam [10] Trong số đó, cây bùng bục đã được sản xuất thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị ung thư và hiện có bán trên thị trường Cũng nhóm nghiên cứu này đang thực hiện một đề tài cấp nhà nước về sàng
Trang 4lọc nguồn dược liệu có tác dụng diệt tế bào ung thư do GS TS Hoàng Thanh Hương chủ trì Mục tiêu là tìm ra các dược liệu là cây cỏ, sinh vật biển có tác dụng diệt các tế bào ung thư [10] Nhóm nghiên cứu của tác giả Trần Lê Quân và Trần Kim Qui (trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh) cũng sàng lọc tác dụng ức chế tế bào ung thư của các cây thuốc Việt Nam và cũng đã phân lập, xác định được cấu trúc của các hoạt chất chống ung thư từ cây hà thủ ô trắng và cây hồng sâm [11] Tác giả Nguyễn Hải Nam (trường Đại học Dược Hà Nội) cũng đã sàng lọc tác dụng chống ung thư của 58 cây thuốc Việt Nam, chọn lọc được các cây thuốc có tác dụng tốt
và xác định được một số hoạt chất của chúng [12] Gần đây, TS Nguyễn Mạnh Cường (Viện Hóa học, Viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia) cũng
đã thực hiện một nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ “Nghiên cứu phát hiện các phân tử đích để chữa bệnh ung thư, AIDS, viêm nhiễm và tiểu đường từ các cây thuốc, bài thuốc và thực vật Việt Nam” và cũng có một số công bố về tác dụng chống ung thư của một số cây thuốc Việt Nam [13] Trên đây là các nghiên cứu cơ bản nổi bật của các nhóm tác giả trong nước về việc tìm kiếm nguồn dược liệu chống ung thư tại Việt Nam Có thể thấy rằng các nghiên cứu này đều thực hiện phối hợp với các nhóm nghiên cứu ở nước ngoài vì những khó khăn gặp phải ở Việt Nam như kinh phí, thông tin, kỹ thuật
Đề cập đến nghiên cứu ứng dụng, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng là cơ quan quản lý đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu công nghệ chiết xuất các hoạt chất sinh học từ lá cây thông đỏ và cây dừa cạn Việt Nam phục vụ sản xuất thuốc chống ung thư và xuất khẩu” [14] Chương trình hóa dược (thuộc bộ Công thương quản lý) cũng có một số đề tài chiết xuất các hợp chất tự nhiên chống ung thư Kết quả đạt được của những đề tài này vẫn chưa được áp dụng vào thực tiễn Tại bệnh viện K cũng có một số đề tài nghiên cứu khoa
Trang 5học về thuốc chữa bệnh ung thư như: “Nghiên cứu thuốc ức chế u Panacrin
tế nguồn dược liệu Việt Nam dùng trong điều trị ung thư” (do PGS TS Phạm Kim Mãn làm chủ nhiệm, đề tài cấp nhà nước), “Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng đánh giá tác dụng hỗ trợ của thuốc Angala trong điều trị bệnh nhân ung thư vú đang điều trị bằng hóa chất và tia xạ” (TS Nguyễn Bá Đức, cấp nhà nước), “Theo dõi hiệu quả của thuốc điều hòa miễn dịch Aslem trong điều trị ung thư vú phối hợp với phẫu thuật và tia xạ” (TS Nguyễn Bá Đức, cấp bộ)… Kết quả của những đề tài này đã được áp dụng vào thực tiễn, sản xuất các thuốc dùng cho hỗ trợ điều trị ung thư và sử dụng các thuốc này trong điều trị các bệnh ung thư ở Việt Nam
Hiện nay trên thị trường nước ta có bán một số thành phẩm thực phẩm chức năng có tác dụng hỗ trợ điều trị ung thư từ các cây thuốc như náng hoa
trắng (Crinum latifolium), đương qui (Agelica sp., biệt dược Angala), bột nghệ (Curcuma longa, hoạt chất là curcumin)… Tuy nhiên, không có các
nghiên cứu khoa học đầy đủ về tác dụng dược lý, cơ chế tác dụng của thuốc, dược động học, nghiên cứu về lâm sàng… cho các thuốc này Vì vậy, các thuốc mới chỉ dừng lại ở hỗ trợ điều trị ung thư mà không phải dùng trong điều trị các bệnh ung thư Mới gần đây, TS Nguyễn Thị Trâm đã bảo vệ thành công đề tài cấp nhà nước về tác dụng chống ung thư của cây trinh nữ
hoàng cung Crinum latifolium Kết quả này mở ra khả năng sản xuất thuốc
chống ung thư từ nguồn dược liệu này
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Viện Dược liệu – Bộ Y tế là cơ quan có chức năng và nhiệm vụ nghiên cứu khoa học toàn diện về dược liệu, sản xuất thử nghiệm các chế phẩm thuốc từ dược liệu, hiện đại hóa các dạng bào chế thuốc YHCT, nghiên cứu chứng minh giá trị khoa học của các bài thuốc cổ truyền, kinh nghiệm sử dụng thuốc
Trang 6trong dân gian Hiện nay, Viện đang đẩy mạnh việc nghiên cứu nghiên cứu thành phần hoạt chất trong cây thuốc, sàng lọc các chất có hoạt tính sinh học, phân lập và nhận dạng, bán tổng hợp các dẫn chất và tổng hợp các hợp chất làm thuốc Các nhà khoa học của Viện đã sàng lọc bước đầu được hơn
100 cây thuốc về hoạt tính chống oxy hóa [15], và đã xác định được các hoạt
chất của một số cây có tác dụng mạnh như chè đắng (Ilex kudingcha) [16], cây mật gấu (Picria tel-ferae) [17], và chè dây (Ampelosis cantoniensis)
[18] Định hướng của nghiên cứu này là tìm ra các cây thuốc, các hoạt chất
có khả năng phát triển thành thuốc chữa bệnh cho người
Các nghiên cứu về thuốc chữa bệnh ung thư, Viện Dược liệu đã có hợp tác nghiên cứu về thuốc dùng cho điều trị bệnh ung thư như “Nghiên cứu thuốc ức chế u Panacrin tế nguồn dược liệu Việt Nam dùng trong điều trị ung thư” (do PGS TS Phạm Kim Mãn làm chủ nhiệm), “Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng đánh giá tác dụng hỗ trợ của thuốc Angala trong điều trị bệnh nhân ung thư vú đang điều trị bằng hóa chất và tia xạ” (TS Nguyễn Bá Đức, PGS TS Bùi Thị Bằng), “Các nghiên cứu điều chế thuốc Haina từ cây
cà gai leo Solanum hainanense Hance” (TS Nguyễn Bích Thu, đề tài cấp
bộ), “Các nghiên cứu về chống oxy hóa, chống stress, và kích thích miễn
dịch của cây sâm Việt Nam Panax vietnamensis” (TS Nguyễn Thị Thu
Hương), “Tác dụng chống ung thư của nấm linh chi Việt Nam” (PGS TS Nguyễn Thượng Dong) [19] Trong đó, thuốc panacrin và angala đã có số đăng ký của Bộ Y tế và sắp được đưa vào sản xuất và lưu hành trên thị trường
Tuy nhiên, điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật, và cả kinh phí của Viện nói riêng và Việt Nam nói chung còn có nhiều hạn chế, nên kết quả nghiên cứu chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu phát triển trong nước Để có được
Trang 7những nghiên cứu có kết quả tốt, có khả năng ứng dụng vào thực tiễn, có kết quả đào tạo các cán bộ nghiên cứu khoa học tốt, chúng ta cần thiết phải hợp tác với các nhóm nghiên cứu mạnh ở các nước phát triển Như vậy, các nhà khoa học của Việt Nam sẽ tranh thủ được sự giúp đỡ của các đồng nghiệp nước ngoài về kinh phí, kỹ thuật, công nghệ, và ý tưởng khoa học Các đối tác nước ngoài cũng giúp đào tạo một số cán bộ cho Việt Nam để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học trong nước
Tại Việt Nam, số người chết do ung thư là khoảng 71000 người năm
2005, trong đó có khoảng 38000 người dưới 70 tuổi [20] Đến nay, ước tính
có khoảng 200000 người bị mắc ung thư mỗi năm, và số tử vong là 100000 người và là bệnh gây tử vong hàng đầu ở Việt Nam Về điều trị ung thư, Việt Nam cũng theo các phương pháp điều trị của thế giới, đó là phẫu thuật,
xạ trị, hóa trị và miễn dịch trị liệu Thông thường phác đồ điều trị ung thư là kết hợp của 2-3 phương pháp trị liệu sẽ cho kết quả tốt hơn Trong số đó, hóa trị liệu vẫn được sử dụng thường xuyên nhất cho tất cả các loại ung thư Tại nước ta, với số người mắc bệnh ung thư lớn như vậy, kinh phí để điều trị bệnh là rất lớn Về thuốc để điều trị ung thư, nêu không tính các thuốc dùng theo Y học dân gian, thì chủ yếu chúng ta phải nhập khẩu chúng Trong khi
đó, ngành hóa dược phục vụ sản xuất thuốc trong nước vẫn còn rất lạc hậu,
và Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 60% thuốc cho nhu cầu sử dụng
trong nước Chính vì vậy, chính phủ Việt Nam đã có chỉ đạo Phát triển
ngành Dược thành một ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nâng cao năng lực sản xuất thuốc trong nước và kiện toàn hệ thống cung ứng thuốc của Việt Nam để chủ động cung ứng thường xuyên, kịp thời và đủ thuốc có chất lượng, giá cả hợp lí, sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả phục vụ sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân, đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và thế giới Để làm
Trang 8được điều đó, chúng ta phải biết bảo tồn, phát triển, và khai thác nguồn tài nguyên của nước ta
Chúng ta biết rằng nước ta có khoảng 12000 loài, trong đó có khoảng
4000 loài được biết làm thuốc trong y học dân gian Đây là một nguồn dược liệu vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho đất nước Việc nghiên cứu, tìm kiếm, khai thác, sử dụng bảo tồn nguồn tài nguyên đó như thế nào để nó phục vụ cho sự phát triển của đất nước là một nhiệm vụ của mọi người dân Việt Nam Do nhiều điều kiện, cả khách quan và chủ quan, chúng ta mới khai thác được rất ít nguồn tài nguyên này Việc tìm ra nguồn nguyên liệu có chứa các hoạt chống ung thư và chống oxy hóa sẽ định hướng cho việc bảo tồn, phát triển, khai thác nguồn nguyên liệu này với mục đích dùng làm thuốc tại Việt Nam
Cũng có một vấn đề nữa là trong dân gian có có nhiều người sử dụng các cây thuốc để chữa bệnh nhưng chưa có cơ sở khoa học thật sự Một số ví dụ
về sử dụng cây thuốc, con vật để điều trị bệnh ung thư như lược vàng, cây xạ đen, cá nóc… Tất cả các trường hợp này đều chưa có những nghiên cứu khoa học chứng minh, mà chỉ do sự đồn thổi trong nhân dân Để giải quyết những vấn đề này, các nhà khoa học phải tiến hành những nghiên cứu khoa học để chứng minh hay bác bỏ những tác dụng của các cây thuốc theo dân gian Nếu chúng có tác dụng thực sự thì phải đưa ra phương án khai thác bền vững, khoa học, và hiệu quả
Tài liệu tham khảo chính
1. http://www.who.int/mediacentre/factsheets/fs297/en/index.html
2. http://en.wikipedia.org/wiki/Cancer
3. Qiu Y.Y., Mirkin B L., Dwivedi R.S Role of DNA methylation in
cancer and chemotherapy In Phytopharmaceuticals in Cancer
Trang 9Chemoprevention Bagchi D and Preuss H G ed CRS Press 2005,
pp 17−28
4. http://www.who.int/mediacentre/factsheets/fs297/en/
5. http://www.reuters.com/article/healthNews/idUSN163306492007121 7
6. https://apps.who.int/infobase/report.aspx?
iso=VNM&rid=119&goButton=Go
7. Sporn M B The war on cancer Lancet 1996, 347, 1377−1381.
8. (a) Phan M G., Phan T S., Hamada Y., Otsuka H Cytotoxic deterpenoids from Vietnamese medicinal plant Croton tonkinensis
Gagnep Chem Pharm Bull 2005, 53, 296–300 (b) Phan M G.,
Phan T S., Hamada Y., Otsuka H Chemical and biological evaluation
on scopadulane-type diterpenoids from Scoparia dulcis of Vietnamese origin Chem Pharm Bull 2006, 54, 546–549.
9. Kuo P C., Shen Y C., Yang M L., Wang S H., Thang T D., Dung
N X., Chiang P C., Lee K H., Lee E J., Wu T S Crotonkinins A
and B and related diterpenoids from Croton tonkinensis as anti-inflammatory and antitumor agents J Nat Prod 2007, 70, 1906–
1909
10.(a) Minh C V., Kiem P V., Huong L M., Kim Y H Cytotoxic
constituents of Diadema setosum Arch Pharm Res 2004, 27, 734–
737 (b) Kiem P V., Dang N H., Bao H V., Huong H T., Minh C V., Huong L M Lee J J., Kim Y H New cytotoxic benzopyrans
from the leaves of Mallotus apelta Arch Pharm Res 2005, 28,
1131–1134 (c) Dang N H., Thanh N V., Kiem P V., Huong L M., Minh C V., Kim Y H Two new triterpene glycosides from the
Vietnamese sea cucumber Holothuria scabra Arch Pharm Res
Trang 102007, 30, 1387–1391 (d) Kiem P V., Thu V K., Yen P H., Nhiem
N X., Tung N H., Cuong N X., Minh C V., Huong H T., Hyun J H., Kang H K., Kim Y H New triterpenoid saponins from
Glochidion eriocarpum and their cytotoxic activity Chem Pharm
Bull 2009, 57, 102–105.
11.(a) Ueda J., Tezuka Y., Banskota A H., Tran Q L., Tran K Q., Harimaya Y., Saiki I., Kadota S Antiproliferative activity of
Vietnamese medicinal plants Biol Pharm Bull 2002, 25, 753–760
(b) Ueda J Y., Tezuka Y., Banskota A H., Tran Q L., Tran Q K., Saiki I., Kadota S Antiproliferative activity of cardenolides isolated
from Streptocaulon juventas Biol Pharm Bull 2003, 26, 1431–1435
(c) Ueda J Y., Tezuka Y., Banskota A H., Tran Q L., Tran Q K., Saiki I., Kadota S Constituents of the Vietnamese medicinal plant
Streptocaulon juventas and their antiproliferative activity against the
human HT-1080 fibrosarcoma cell line J Nat Prod 2003, 66, 1427–
1433 (d) Tran Q L., Tezuka Y., Banskota A H., Tran Q K., Saiki I., Kadota S New spirostanol steroids and steroidal saponins from roots
and rhizomes of Dracaena angustifolia and their antiproliferative activity J Nat Prod 2001, 64, 1127–1132.
12.(a) Nam N H., Kim H M., Bae K H., Ahn B Z Inhibitory effects of Vietnamese medicinal plants on tube-like formation of human
umbilical venous cells Phytother Res 2003, 17, 107–111 (b) Nam
N H., Lee C W., Hong D H., Kim H M., Bae K H., Ahn B Z
Antiinvasive, antiangiogenic and antitumour activity of Ephedra
sinica extract Phytother Res 2003, 17, 70–76 (c) You Y J., Nam N
H., Kim Y., Bae K H., Ahn B Z Antiangiogenic activity of lupeol
from Bombax ceiba Phytother Res 2003, 17, 341–344 (d) Nam N