XUẤT - NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM NHÌN LẠI MỘT CHẶNG ĐƯỜNG
Trang 1DANH TỪ VIẾT TẮT
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 2Lời mở đầu
Việt Nam là một trong những nớc đang phát triển trên thế giới nhng với chính sách
và đờng lối đổi mới phù hợp của Đảng, Nhà nớc trong mấy năm gần đây đã đa Việt Namlên ngang tầm với các nớc trong khu vực và có thể trở thành một nớc phát triển Trên chặng
đờng đi lên thành nớc phát triển, Việt Nam đã rất nỗ lực vơn lên từng bớc Một trong nhữngcon đờng mà Việt Nam lựa chọn đó là Đẩy mạnh hoạt động Xuất - Nhập khẩu Bởi kết quảcủa hoạt động này sẽ làm tăng hoặc giảm thu nhập của đất nớc, do đó mà nó ảnh hởng đếntổng cầu của nền kinh tế Khi cán cân thanh toán Xuất Nhập - khẩu có mức xuất siêu sẽlàm cho mức chi tiêu giảm, từ đó tác động đến GDP Mặt khác, Việt Nam lại đợc thiênnhiên u đãi cho nhiều điều kiện thuận lợi để có thể đẩy mạnh đợc hoạt động này nh: vớinguồn thuỷ hải sản dồi dào đã tạo điều kiện cho khai thác, chế biến thuỷ sản, rồi dân số
đông …Đặc biệt, với nền văn minh lúa nớc cùng với khí hậu phù hợp đã làm cho xuất khẩunông – lâm – thuỷ sản lớn mạnh không ngừng Từ những hoạt động xuất khẩu hiệu quả
đã ảnh hởng trở lại với hoạt động nhập khẩu, giúp ta tích luỹ đợc nhiều vốn để nhập máymóc, thiết bị hiện đại, linh kiện điện tử hay những công nghệ tiên tiến của các nớc pháttriển để phục vụ cho công cuộc cải cách, phát triển toàn diện của nớc ta Và do đó lại đakinh tế phát triển lên một bớc cao hơn Chính vì vậy mà Xuất Nhập khẩu đã đóng góp một
tỷ trọng đáng kể vào GDP của Việt Nam và là một trong những nguồn nội lực quan trọngthúc đẩy phát triển kinh tế Có thể nói Xuất Nhập khẩu – một chặng đờng phát triển nằmtrong chặng đờng đa Việt Nam trở thành một nớc phát triển, một con rồng Châu á trong t-
ơng lai
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO
13 Đặc san của Báo Quốc Tế
14 Niên giám thống kê năm 2003
Niên giám thống kê năm 1990, 1995, 2000, 2005
Trang 4XUẤT - NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM NHÌN LẠI MỘT
CHẶNG ĐƯỜNG
I/ Tổng quan về xuất - nhập khẩu của Việt Nam
I.1/ Giới thiệu vài nét về Việt Nam
I.2/ Xuất - nhập khẩu của Việt Nam
II/ Xuất khẩu của Việt Nam
1/ Những thành tựu chung về xuất khẩu của Việt Nam
2/ Thị trường Xuất khẩu
II.1/ Xuất khẩu hàng nông – lâm sản của Việt Nam
1/ Một số thị trường lớn của nông – lâm sản xuất khẩu
2/ Đánh giá về xuất khẩu hàng nông – lâm sản của Việt Nam
/ Những lợi thế trong xuất khẩu nông – lâm sản của Việt Nam
/ Những bất lợi trong xuất khẩu nông – lâm sản của Việt Nam
3/ Mục tiêu phát triển nông – lâm sản xuất khẩu giai đoạn 2006 – 2010
II.2/ Xuất khẩu thủy hải sản
1/ Những thành tựu mà ngành thủy sản đã đạt được
2/ Những khó khăn và hạn chế còn tồn tại của ngành thủy sản Việt Nam trên bước đường phát triển
3/ Biện pháp khắc phục để đưa ngành thủy sản đi lên một cách bền vững
3.1/ Đối với vấn đề vốn, thị trường và nguyên liêu
3.2/ Đối với vấn đề dư lượng hóa chất kháng sinh trong sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam
II.3/ Xuất khẩu dệt may của Việt Nam
III/ Tình hình nhập khẩu của Việt Nam
III.1/Những thành tựu chung về nhập khẩu của Việt Nam
III.2/Về nhập khẩu ô tô
IV/ Thương hiệu trong phát triển thương mại quốc tế
IV.1/ Mở đầu
IV,2/ Những thuận lợi cho việc tạo lập thương hiệu
IV.3/ Những mặt hạn chế của thương hiệu Việt Nam
IV.4/ Để có thương hiệu thành công
Trang 5V/ Chống bán phá giá
V.1/ Bán phá giá là gì?
/ Các yếu tố làm tăng nguy cơ chống bán phá giá
V.2/ Các biện pháp đối phó với chống bán phá giá
/ Bài học từ vụ kiện chống bán phá giá cá basa và tôm
VI/ Định hướng phát triển xuất - nhập khẩu.
Trang 6I/ Tổng quan về xuất, nhập khẩu của Việt Nam
I.1) Giới thiệu vài nét về Việt Nam.
Việt Nam là một nước có diện tích 331211,6 km2, với số dân là 84115,8 nghìnngười ( theo thống kê của năm 2006)
Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một dải đất hình chữ S nằm ở trungtâm khu vực Đông Nam Á, ở phía Đông bán đảo Đông Dương, phía Bắc giáp Trung Quốc,phía Tây giáp Lào và Campuchia, phía Đông Nam trông ra biển Đông và Thái BìnhDương Việt Nam là đầu mối giao thông từ Đông Nam Á sang Thái Bình Dương Do đóViệt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển mối quan hệ hợp tác, giao thông buônbán với các nước trên thế giới và trong khu vực Bờ biển của Việt Nam dài 3260 km, biêngiới đất liền dài 4510 km Việt Nam là đầu mối giao thông từ Đông Nam Á sang Thái BìnhDương Việt Nam có một mạng lưới sông ngòi dày đặc (2360 con sông dài trên 10 km)chảy theo hai hướng chính là Tây Bắc – Đông Nam và hướng vòng cung, rất thuận lợi choviệc phát triển ngành thuỷ - hải sản Hai sông lớn nhất là sông Hồng và sông MêKông tạonên hai vùng đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu Hệ thống các sông suối hàng năm được bổsung tới 310 tỷ m3 nước Đất ở Việt Nam rất đa dạng, có độ phì cao, thuận lợi cho pháttriển nông – lâm nghiệp Ngoài ra Việt Nam còn có hệ thực vật phong phú, đa dạng khỏng
14600 loài thực vật Thảm thực vật chủ yếu là rừng nhiệt đới, gồm các loại cây ưa ánhsáng, nhiệt độ lớn và độ ẩm cao
Tóm lại, Việt Nam có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế
I.2/ Xuất - nhập khẩu của Việt Nam.
Nếu lịch sử hình thành và phát triển của ngành thương mại Việt Nam trong hơn 60năm qua (1946 – 2007) là một con đường hoành tráng thì xuất - nhập khẩu trong 20 nămgần đây là những bước tiến vượt bậc về thành công của đường lối đổi mới do Đảng ta khởixướng và lãnh đạo Bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế Việt Nam có nhiều thành tựu
Trang 7đáng kể: Tăng trưởng GDP hàng năm bình quân ở mức 70% trong vòng 20 năm Trong khităng trưởng xuất khẩu hàng năm đạt trên 20% Xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam đạt 40 tỷUSD trong năm 2006 tương đương 65% GDP, cao hơn gấp đôi so với con số của thập kỷtrước.
Trong 20 năm (1986 -2005) kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới do đại hội toànquốc lần VI khởi xướng , thương mại quốc tế đã đạt được những thành tựu nổi bật Xét vềmặt giá trị : Từ 1986 – 2005, xuất khẩu tăng từ 789 triệu USD lên 39600 triệu USD, tăng50,2 lần , nhập khẩu từ 2155 triệu USD lên 44410 triệu USD tăng 20,6 lần Tổng kimngạch xuất - nhập khẩu tăng từ 2944 triệu USD lên 84010 triệu USD, tăng 28,5 lần ( tínhtheo giá hiện hành) Trong khi đó quy mô nền kinh tế tăng 3,86 lần (giá so sánh năm1994), nếu tính theo USD hiện hành tăng 8,8 lần
Trong giai đoạn 1990 – 2003 tổng trị giá xuất khẩu và nhập khẩu tăng mạnh, từ5156,4 triệu USD năm 1990 lên 13604,3 triệu USD năm 1995,lên đến 45402,9 triệu USDnăm 2003, tăng xấp xỉ 9 lần Trị giá xuất khẩu và nhập khẩu cũng tăng mạnh như : Xuấtkhẩu tăng từ 2404,0 triệu USD năm 1990 lên tới 20176,0 triệu USD năm 2003, tăng gấp8,5 lần ; Nhập khẩu tăng từ 2752,4 triệu USD năm 1990 lên 25226,9 triệu USD trong năm
2003, tăng gấp hơn 9 lần
Tổng trị giá xuất khẩu và nhập khẩu giai đoạn 1990 – 2003 (triệu USD)
năm Tổng số Xuất khẩu Nhập khẩu
Trang 80 5000
nhập khẩu
Biểu đồ xuất nhập khẩu
1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Theo thống kê của bộ thương mại, tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu năm nay(2005) ước đạt 69,2 tỷ USD tăng trên 27 lần so với mức 2,556 tỷ USD của năm 1986.Trong đó đáng chú ý là kim ngạch xuất khẩu đã tăng 46 lần Từ 699 triệu USD năm 1986lên mức dự kiến 32,2 tỷ USD năm 2005 Đồng thời kim ngạch nhập khẩu đang đi theochiều hướng tích cực từ hơn 1,8 tỷ USD năm 1986 lên 37 tỷ USD năm 2005 nghĩa là chỉtăng 17 lần
Như vậy từ chỗ phải bù lỗ lớn cho hoạt động xuất - nhập khẩu những năm 1986,đến nay ngân sách nhà nước đã có nguồn thu đáng kể từ lĩnh vực này
Bên cạnh đó về thủ tục pháp lý, đến nay thương nhân của mọi thành phần kinh tếđược thành lập theo quy định của luật pháp đều được trực tiếp kinh doanh xuất khẩu, nhậpkhẩu trong khi trước đâychỉ được thực hiện theo giấy phép của bộ thương mại Cũng theo
bộ thương mại, đến nay đã có 35714 doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu trựctiếp tăng xấp xỉ 1000 lần so với năm 1986
Có thể nói năm 2006 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình hội nhậpkinh tế quốc tế của Việt Nam với một loạt các sự kiện giúp Việt Nam hội nhập toàn diệnhơn và sâu hơn vào nền kinh tế thế giới thông qua các kênh đa phương và song phươngnhư : Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO từ ngày 7/11/2006 ( chínhthức là ngày 12/1/2007 ) ; Sự kiện Việt Nam tổ chức thành công hội nghị thượng đỉnhAPEC Và nếu như năm 2006 cả nước xuất khẩu 39,6 tỷ USD (trị giá tại cảng đi), nhậpkhẩu 44,4 tỷ USD (trị giá tại cảng đến), cán cân thương mại tuy nghiêng về nhập khẩu, tanhập siêu 4,8 tỷ USD thì chỉ trong 7 tháng đầu năm 2007, kim ngạch xuất khẩu cả nước đạttrên 27 tỷ USD trong khi nhập khẩu lên tới con số 32,2 tỷ USD tăng trên 30% so với cùng
kỳ năm 2006 bằng 72,55 so với năm 2006 và mức nhập siêu đã đạt tới con số 5 tỷ USD
Trang 9Tính chung 8 tháng đầu năm 2007, cả nước nhập siêu 8,4 tỷ USD hàng hóa Theo
dự báo của Bộ Công thương, con số siêu nhập đến cuối năm 2007có thể lên đến trên 8 tỷUSD Về cơ cấu nhập khẩu năm 2006 khoảng 70% là hàng nguyên vật liệu phục vụ sảnxuất để tái xuất khẩu và sản xuất trong nước, bao gồm các mặt hàng : gỗ, nguyên vật liệu ,bột giấy, đồng nguyên liệu, bông và sợi các loại, phân bón, sắt thép, da nguyên liệu, máymóc, thiết bị…các mặt hàng tiêu dùng khác chiếm khoảng 30% thì trong 7 tháng đầu năm
2007 kim ngạch nhập khẩu vẫn chủ yếu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất như máy móc,thiết bị dụng cụ, phụ tùng ước tính đạt 4,4 tỷ USD, tăng tới 46,4% so với cùng kỳ;; xăngdầu 3,3 tỷ USD, tăng 8,2%; sắt thép 2,15 tỷ USD , tăng 60,9%, hóa chất tăng 47,1%
Có luồng ý kiến cho rằng : tỷ lệ nhập siêu như trên là không đáng lo Trong 6 thángđầu năm, chúng ta triển khai nhiều dự án công nghiệp lớn như tổ hợp quặng sắt, quặngboxít, dự án lọc dầu Dung Quất, tổ hợp khí điện đạm Cà Mau…nên nhu cầu nhập máy mócthiết bị phục vụ cho sản xuất rất lớn Nhập siêu là rất cần thiết để phục vụ đổi mới kỹ thuậtcông nghệ và sản xuất, tiêu dùng trong nước Tuy nhiên dù theo luồng ý kiến nào thì việccân đối cán cân xuất - nhập trong ngưỡng cửa hợp lý là việc mà bất cứ chính phủ nào cũngnhắm tới Nếu không sớm có những giải pháp từ cấp quản lý vĩ mô, khi các cam kết gianhập WTO của Việt Nam ngày càng mở rộng sẽ làm cho sản xuất trong nước bị phụ thuộcthậm chí bị bóp chết Khi đó sự mất cân đối giữa xuất nhập sẽ tăng cao, tạo những bất lợicho nền kinh tế của đất nước
II Xuất khẩu của Việt Nam
1, Những thành tựu chung về xuất khẩu của Việt Nam.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu của các nước làthước đo đánh giá kết quả của quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế và phát triển trongmối quan hệ tùy thuộc vào nhau giữa các quốc gia Hoạt đông xuất nhập khẩu còn là yếu tốquan trong nhằm phát huy mọi nguồn nội lực, tạo thêm vốn đầu tư để đổi mới công nghệ,tăng thêm việc làm, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Nhấn mạnh vai trò của thương mại trong quá trình phát triển và hội nhập với kinh tếthế giới trong một bài phát biểu mới đây, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận định: “ Xuấtkhẩu có ý nghĩa quyết định đối với phát triển kinh tế” (Vietnamnet ngày 24/11/2006).Trong 3 năm gần đây, tỷ trọng xuất khẩu đóng góp cho GDP luôn ở mức trên 60% Tốc độxuất khẩu bình quân năm giai đoạn 2001 – 2005 đạt 16,9% so với 21% của giai đoạn 1991– 2000 Nhìn chung tốc độ tăng trưởng của các nhóm hàng giai đoạn 2001 -2005 đều giảmhơn so với giai đoạn 1999 -2000 Xét về cơ cấu, tỷ trọng xuất khẩu của ngành công nghiệpnhẹ tăng nhanh nhất từ năm 1990 lên 30,4% năm 2000 đạt 37,2% năm 2005 Nguyên nhân
do tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 -2005 thấp hơn giai đoạn 1991 – 2000, do
đó tỷ trọng giảm từ 42,5% năm 1990 xuống còn 31,7% năm 2005
Trang 10Giá trị xuất khẩu theo nhóm hàng ( đơn vị triệu USD, hiện hành )
Năm
1990 1995 2000 2005 Tốc độ tăng trưởng bình quân(%)
1991 - 2000 2001 - 2005Tổng
Nguồn : Niên giám thống kê 1900, 1995, 2000, 2005.
Cơ cấu xuất khẩu theo nhóm hàng (đơn vị (%) )
Nguồn : Niên giám thống kê năm 1990, 1995, 2000, 2005.
2, Thị trường xuất khẩu : Xuất khẩu đã tăng ở hầu hết các khu vực và đang
chuyển dịch từ châu Á sang châu Âu và châu Mỹ, trong đó châu Á – Thái Bình Dươngtăng 19%; châu Âu tăng 27%; châu Mỹ tăng 33,4%; châu Phi – Tây Nam Á tăng 77,1% sovới năm 2005 Tuy vậy châu Á, Châu Đại Dương vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất đạt20,84 tỷ USD chiếm 52,4% tổng kim ngạch xuất khẩu; Châu Mỹ đạt 9,2 tỷ USD chiếm23,1%; Châu Âu đạt 7,65 tỷ USD chiếm 14,2%; Châu Phi – Tây Nam Á đạt 2,1 tỷ USDchiếm 5,3% tổng kim ngạch xuất khẩu Nhiều thị trường mới, nhiều mặt hàng mới đượckhai thác rất có triển vọng, rõ nhất ở khu vực Nam Mỹ, châu Phi, Nam Âu, Đông Âu, Nga
Trang 11và SNG Cán cân thương mại đang được cải thiện, tình trạng nhập siêu lớn từ châu Á đangđược khắc phục từng bước, trong đó nhập siêu năm 2006 từ Singapo là 4,6 tỷ USD, TrungQuốc 4 tỷ USD, Đài Loan 3,8 tỷ USD, Hàn Quốc 2,9 tỷ USD, Thái Lan 1,9 tỷ USD, HồngKông 0,9 tỷ USD.
Thị trường xuất khấu nông - lâm sản
Trong giai đoạn hiện nay cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu cũng được cải thiện, giảm
tỷ trọng hàng nông, lâm, hải sản, hàng hóa chưa qua chế biến…Các mặt hàng xuât khẩucủa Việt Nam rất phong phú và đa dạng.Dưới đây chúng ta sẽ đi sâu tập trung phân tích vềmột số mặt hàng xuất khấu chủ yếu của Việt Nam
II.1/ Xuất khẩu hàng nông, lâm sản của Việt Nam.
Tính đến thời điểm này, Việt Nam vẫn là một nước nghèo, có xuất phát điểm từ sảnxuất nông nghiệp, do đó sản xuất nông nghiệp vẫn rất được chú trọng Thực tế cho thấytrong giai đoạn vừa qua , hàng nông, lâm sản vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng kimngạch xuất nhập khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam Bình quân thời kỳ 1995-2000kim ngạch xuất khẩu hàng nông, lâm sản chiếm khoảng 70% và hàng thủy sản chiếm 25%trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản.Trong hàng nông sản xuất khẩu lúagạo vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất đạt(23,8%), thứ đến là cà phê (13,5%), hạt điều (4,4%) vàcao su(3,2%), còn rau quả chiếm tỷ trọng quá nhỏ (mới chiếm từ 0,5 đến 1,4%), chưatương xứng với tiềm năng của ngành Nhưng xét về tốc độ gia tăng giá trị kim ngạch thìrau quả tăng rất nhanh, thứ đến là hồ tiêu hạt với chỉ số tăng 51% rồi đến cà phê (28%) vàcao su(22%)
Đặc biệt trong thời gian qua, giá cả thị trường thế giới luôn luôn biến động, gây bất lợicho hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam Khối lượng hàng nông sản xuất khẩu tuy cótăng lên năm sau cao hơn năm trước nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu lại tăng lên khôngtương xứng, vì giá bán của ta giảm xuống Ví dụ năm 1999, gạo của ta xuất khẩu được 4,5triệu tấn tức là tăng 19,3% so với năm 1998, nhưng kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng lên
Châu Á,Châu Đại Dương Châu Mỹ Châu Âu Châu Phi và Tây Nam Á
Trang 129,1% Cao su năm 1999 xuất khẩu được 265000 tấn, tăng hơn năm 1998 là 38,7% nhưngkim ngạch xuất khẩu chỉ tăng thêm được 14,8%.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, ngànhnông nghiệp cũng đạt được nhiều kết quả khả quan, trong đó phải kể tới xuất khẩu nông,lâm sản đã duy trì ở mức tăng trưởng cao, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người
bà con nông dân Điều đáng mừng là sản xuất phát triển mạnh, hàng hóa nông sản đã đápứng một cách cơ bản cho nhu cầu thị trường, với chủng loại sản phẩm đa dang, phong phú
và chất lượng
Hơn thế nữa năng lực chế biến nông, lâm sản ngày càng được tăng cường Kim ngạchxuất khẩu nông, lâm sản từ 1989-1997 đạt trên 10000 triệu USD, bình quân hàng năm tănggần 20% Trong 9 năm từ 1990-1999 kim ngạch xuất khẩu nông, lâm sản đã tăng 3,3 lần từ
909 triệu USD lên trên dưới 3,3 tỷ USD Rau quả có mức xuất khẩu tăng trên 30% mộtnăm trong 3 năm gần đây Một số mặt hàng đã có khả năng cạnh tranh và chiếm vị thếđáng kể trên thị trường thế giới như gạo, cà phê, hạt tiêu, điều…và có tỷ lệ xuất khẩu caonhư là cà phê, hạt tiêu, hạt điều trên dưới 95%, cao su 85%, chè 65%, lúa gạo 20%
Trong giai đoạn 2003-2005 xuất khẩu nông sản Việt Nam đã có sự tăng trưởng đều đặn
từ 11,5% năm 2003 lên 26,6% năm 2004 và 61,5% năm 2005 Trong hai năm gần đây2005-2006 mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, nhất là tại thị trường nướcngoài nhưng xuất khẩu hàng hóa của Việt nam vẫn đạt được những thành tích đáng ghinhận Khối lượng hàng hóa xuất khẩu ngày một tăng, năm sau cao hơn năm trước Theobáo ViêtNam Net số ra ngày 24/11/2006 trong 3 năm gần đây, tỷ trọng xuất khẩu đóng gópcho GDP luôn ở mức trên 60% Các thị trường xuất khẩu của Việt Nam cũng tiếp tục được
mở rộng.Cho đến nay Việt Nam có quan hệ thương mại với trên 220 quốc gia và vùng lãnhthổ Năm 2005, Việt Nam đã xuất khẩu vào 16 thị trường có kim ngạch trên 500 triệuUSD, trong đó có 6 thị trường ước đạt trên 1 tỷ USD Đến năm 2006 trong số các mặt hàngxuất khẩu chủ lực của Việt Nam có thêm cao su và cà phê đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1
tỷ USD, nâng tổng số các mặt hàng có kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên là 9 mặt hàng
Tiếp theo đà phát triển của năm 2006, năm 2007 cũng đạt được những thành tựu đáng
kể Năm 2007 đánh dấu một sự kiện trọng đại là Việt Nam gia nhập tổ chức thương mạithế giới WTO Theo ông Cao Đức Phát, bộ trưởng bộ Nông Nghiệp và Phát triển nôngthôn, “ năm 2007 sẽ là năm hội nhập kinh tế quốc tế của ngành nông nghiệp Việt Nam”.Ông cho rằng “ Gia nhập WTO sẽ đem lại những cơ hội tíêp cận thị trường, mở rộng sảnxuất, mặ khá nganh Nông nghiệp và PTNT sẽ phải đối mặt với những thách thức khi thựchiện các cam kết mở cửa thị trường và điều chỉnh chính sách.Theo thống kê từ bộ NôngNghiệp và PTNT, trong 9 tháng đầu năm 2007, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm , thủysản đạt khoảng 9,5 tỷ USD với nhiều mặt hàng chủ lực đều đạt mức tăng trưởng cao so vớinăm trước Vào thời điểm hiện nay, lần đầu tiên giá gạo Việt Nam xuất khẩu ngang với giágạo cùng loại của Thái Lan, thậm chí có loại Việt Nam trúng thầu với giá cao hơn Mứcgiá gạo xuất khẩu của Việt Nam hiện đạt bình quân 293 USD một tấn., tăng 42 USD/1 tấn
Trang 13so với năm 2006 Trong 9 tháng đầu năm, lượng gạo xuất khẩu đã đạt gần 4,1 triệu tấn vớikim ngạch xấp xỉ 1,3 tỷ USD.
Hiện cà phê cũng là một nông sản đang thuận lợi về thị trường và giá Xuất khẩu càphê 9 tháng đầu năm đạt sản lượng là 975000 tấn, kim ngạch 1,47 tỷ USD Đây được coi làmức tăng xuất khẩu cà phê kỷ lục của những năm gần đây Được biết Hoa Kỳ và CộngHòa Liên Bang Đứcvẫn là hai nước dẫn đầu nhập cà phê của Việt Nam Hiện mặt hàng càphê xuất khẩu của Việt Nam đã mở rộng thị trường đến tận các nước Mỹ La Tinh nhưMexico, Ecuador…
Lượng cao su xuất khẩu tháng 9 năm 2007 vẫn xấp xỉ cùng kỳ năm trước với khoảng
502000 tấn , kim ngạch đạt 942 triệu USD
Xuất khẩu hạt điều cũng đạt mức tăng trưởng khá với sản lượng 9 tháng đầu năm 2007
là 111000 tấn, kim ngạch đạt 466 triệu USD, tăng 22% về lượng và tăng 27% về giá trị sovới cùng kỳ năm trước
Đối với hạt tiêu, Việt Nam là nước xuất khẩu đứng hàng đầu thế giới Trong 9 tháng,lượng xuất khẩu đạt khoảng 68000 tấn, trị giá 218 triệu USD, tăng tới 34% so với cùng kỳnăm trước
Cũng theo thống kê của bộ Nông Nghiệp và PTNT, các mặt hàng rau quả, lạc nhântrong 4 tháng đầu năm đã đạt mức tăng trưởng khả quan, xuất khẩu rau quả đã đạt mức trên
103 triệu USD, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2006; lạc nhân xuất khẩu đạt kim ngạch hơn
11 triệu USD, tăng 183% so với năm trước
Các mặt hàng lâm sản xuất khẩu trong cùng kỳ đã đạt mức 858,5 triệu USD tăng 22%
so với cùng kỳ năm 2006 Trong số này, sản phẩm gỗ xuất khẩu đạt 769,8 triệu USD tăng23%, mặt hàng mây, tre, cói thảm đạt kim ngạch 73 triệu USD, tăng 19,5% Sản phẩm quếđạt 3,6 Triệu USD tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước…Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, HànQuốc vẫn là những quốc gia dẫn đầu các mặt hàng lâm sản, gỗ…từ Việt Nam
Ngoài ra, xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ cũng tăng mạnh Tổng kim ngạch xuất khẩu lâmsản ngoài gỗ hiện nay đạt gần 200 triệu USD một năm, dự kiến sẽ tăng bình quân 10-15%/năm, đạt 700-800 triệu USD/năm vào năm 2020 Theo số liệu chưa đầy đủ Việt Nam cókhoảng 88 doanh nghiệp chế biến tre trúc với năng lực khoảng 250000 tấn.Có 40 công tychế biên song mây với năng lực khoảng 100000 tấn/năm và có khoảng 700 làng nghề mâytre đan với số lao động là 342000 người Có 5 nhà máy chế biến nhựa thông với năng lực
15000 tấn/năm Ngoài ra có rất nhiều cơ sở chế biến lâm sản ngoài gỗ như dầu nhựa, tinhdầu, dược liệu…Nông sản ngoài gỗ của Việt Nam hiện xuất khẩu sang gần 90 nước vàvùng lãnh thổ Tổng kim ngạch xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ hàng năm đạt gần 200triệuUSD trong đó hàng mây tre đan chiếm tỷ trọng chủ yếu( hơn 70%)
1, Một số thị trường lớn của nông, lâm sản xuất khẩu Việt Nam.
Trung Quốc (cả Hồng Kông) có thị trường lớn, gần, tiêu thụ rất nhiều loại nông sản, thịhiếu gần với sản phẩm của nước ta Kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc thường đạt
Trang 14khoảng 400 - 500 triệu USD/năm, chủ yếu là cao su trên 100000 tấn; gạo từ vài chục ngàntấn đến vài trăm ngàn tấn; hạt điều khoảng 10000 tấn, rau quả các loại trên 100 triệu USD.Các nước Asean: gần nước ta về địa lý nên nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng hàng nông sảngần gũi với Việt Nam Gạo là mặt hàng chính xuất khẩu sang 3 nước : Malaysia, Indonesia,Philippines, từ một triệu tới 3 triệu tấn Các mặt hàng khác: Hồ tiêu, hạt điều, cà phê…xuấtsang các nước này chủ yếu qua trung gian Singapo, Thái lan …Tổng kim ngạch xuất khẩunăm 2000 sang Asean đạt gần 500 triệu USD.
Các nước Trung Đông: (Iraq, Iran…) đang tiêu thụ nhiều loại nông sản của ta như gạo,chè, hồi, quế…với kim ngạch đạt gần 200 triêu USD/ năm
Các nước EU: Với thị trường này, kim ngạch xuất khẩu khoảng 300 - 350 triệu USD/năm, chủ yếu là cà phê, gạo, cao su, hạt tiêu, đồ gỗ thành phẩm nhất là đồ gỗ ngoài trời, hạtđiều, chè và một số quả nhiệt đới đã chế biến
Nga và các nước Đông Âu: Hiện nay xuất khẩu sang các nước này giảm đi so với trước
do rủi ro cao, phải cạnh tranh với nhều nước như EU, Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ…Kim ngạch xuấtkhẩu đạt khoảng 50-60 triệu USD/ năm, chủ yếu là gạo, cao su, cà phê, chè, hồ tiêu, rauquả…Đây là các thị trường truyền thống đã từng tiêu thụ một lượng lớn hàng nông sảnViệt Nam, đang phục hồi nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng, vì thế chính sách hỗ trợ xuấtkhẩu vào thị trường nàyđối với một số mặt hàng nhu thịt, rau quả, gia vị, chè là cần thiết
Mỹ : Kim ngạch xuất khẩu mới chỉ đạt trên 100 triệu USD /năm, trong đó hạt điều, hồtiêu, cà phê chiếm khoảng gần 90% Hiệp định thương mại Việt-Mỹ là một điều kiện thuậnlợi cho hàng nông sản Việt Nam xâm nhập thị trường nước này
Nhật: Kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt Nam vào thị trường này mới ở mức 40 - 50triệu USD/ năm với các mặt hàng chủ yếu là cà phê, cao su, chè, tơ tằm và một số rau quảchế biến, nấm, điều, lâm sản…Nhật là thị trường đòi hỏi chất lượng cao, nghiêm ngặt vềtiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, hàng rào bảo hộ chuẩn cho sản xuấtnông nghiệp rất cao
2, Đánh giá về xuất khẩu hàng nông - lâm sản Việt Nam
Ông Đoàn Xuân Hòa, phó cục trưởng cục chế biến nông, lâm sản và nghề muối nhậnxét về sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thế giới “ Nhiều mặt hàng nông sản cókim ngạch xuất khẩu lớn, chiếm vị thế cao trên thị trường thế giới, điển hình là gạo xếp thứhai thế giới, cà phê thứ hai, cao su trên 1 tỷ USD, hạt điều thứ nhất, …Tuy nhiên nếu xét
về năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới tghì nông sản Việt Nam còn rất nhiều hạnchế Các sản phẩm nông – lâm nghiệp, thủy sản có kim ngạch xuất khẩu lớn chủ yếu là nhờvào sự gia tăng số lượng và được lợi về giá cả do biến động của thị trường Hầu hết nôngsản xuất khẩu ở dạng sơ chế, giá trị gia tăng thấp Các yếu tố phát triển theo chiều sâu nhưcông nghệ, thể chế, trình độ nhân lực cao …chưa đủ để đáp ứng cũng như chưa tận dụng
và phát huy tốt
Trang 15Nhìn nhận lại ngành nông nghiệp nước ta, mặc dù đã chuyển sang sản xuất hàng hóasong điểm xuất phát vẫn thấp Trước hết đó là tình trạng manh mún về ruộng đất cản trởđến khả năng sản xuất quy mô lớn, chuyên canh để có năng suất, sản lượng sản phẩm đủlớn và đồng đều, đáp ứng nhu cầu thị trường Kỹ thuật hạ tầng thấp kém nhất là hệ thốngdịch vụ tiêu thụ nông sản; nghiên cứu chuyển giao và áp dụng khoa học kỹ thuật để nângcao giá trị gia tăng sản phẩm tiến hành một cách chậm chạp, vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn
là một thách thức nghiêm trọng…
Những lợi thế trong xuất khẩu nông – lâm sản của Việt Nam
Điều kiện sinh thái tự nhiên của nhiều vùng nước ta rất thuận lới cho việc phát triển sảnxuất một số rau quả vụ đông có hiệu quả như cà chua, bắp cải, tỏi, khoai tây…Các đối thủcạnh tranh như Thái Lan, Philipin lại kém lợi thế hơn so với Việt Nam cả về điều kiện tựnhiên sinh thái, cả về kỹ năng, kinh nghiệm sản xuất và tính cần cù lao động
Ngành nông, lâm sản sử dụng nhiều lao động vào quá trình sản xuất kinh doanh Đây
là một ưu thế quan trọng của ngành vì hiện nay giá nhân công ở nước ta rẻ
Một số ít các mặt hàng được các nước phát triển ở châu Âu ; Bắc Mỹ ưa chuộng nhưnhân hạt điều, dứa, lạc…có thể trồng ở Việt Nam trên đất bạc màu, đất phèn mặn, tăng khảnăng mở rộng sản xuất
Thể chế chính trị ổn định, môi trường đầu tư và hệ thống pháp luật của Việt Nam ngàycàng được cải thiện và điều chỉnh thích ứng với quá trình tự do hóa trong khu vực và toàncầu
Những bất lợi trong xuất khẩu nông – lâm sản của Việt Nam.
Nhìn chung tuy Việt Nam đã bước đầu hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tậptrung nhưng khối lượng hàng hóa còn nhỏ bé, thị phần trên thế giới thấp, chất lượng chưađồng đều và ổn định
So với các đối thủ cạnh tranh, Việt Nam có công nghệ chế biến lạc hậu, chưa đảm bảochất lượng sản phẩm theo yêu cầu tiêu dùng của các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU,Bắc Mỹ Thêm vào đó , kết cấu hạ tầng phục vụ cho việc vận chuyển, bảo quản, dự trữ,bốc xếp hàng hóa rất yếu kém nên giá thành và các chi phí gián tiếp khác tăng nhanh.Năng lực quản lý, sản xuất kinh doanh, chế biến và xuất khẩu hàng nông – lâm sảnchưa đáp ứng được yêu cầu trong điều kiện tự do hóa thương mại
Tuy chủng loại hàng hóa xuất khẩu của ta đa dạng hơn nhưng nhìn chung diện mặthàng vẫn còn khá đơn điệu, chưa có sự thay đổi đột biến về chủng loại
Bộ máy quản lý hành chính nhà nước vẫn còn quan liêu trì trệ, chưa thông thoáng vàbảo thủ đã làm nản lòng các nhà đầu tư kinh doanh trong và ngoài nướclàm tăng giá thànhsản xuât
Tóm lại, xét về tổng thể, hoạt động xuất khẩu nông – lâm sản của Việt Nam tuy đã đạtđược nhiều thành tích đáng khích lệ và có nhiều lợi thế cần được khai thác, nhưng vẫn cònnhiều tồn tại và bất lợi, đòi hỏi được xử lý một cách dứt điểm đồng bộ
3, Mục tiêu phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006 - 2010.
Trang 16Từ việc nắm bắt được những bất lợi , thuận lợi trong hoạt động xuất nhập khẩu, ViệtNam đó đề ra chiến lược phỏt triển nụng nghiệp và nụng thụn đến năm 2010, đề ra mụctiờu và biện phỏp đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu trờn cơ sở chuyển đổi cơ cấu sản xuất vàchuyển giao khoa học cụng nghệ vào sản xuất nụng, lõm nghiệp, đẩy mạnh xuất khẩu phấnđấu đến năm 2010 cú kim ngạch xuất khẩu từ 8 - 9 tỷ USD nõng cao vị thế của Việt Namtrong việc xuất khẩu hàng nụng, lõm sản trờn thị trường thế giới.
Phỏt biểu tại hội nghị Thương mại toàn quốc diễn ra tại Hà Nội ngày 1-2/3/2006, Thủtướng Phan Văn Khải cũng nhấn mạnh rằng, mục tiờu trong giai đoạn tới phải đẩy mạnhxuất khẩu cao hơn dự kiến đề ra Vỡ việc tăng trưởng xuất khẩu cú tỏc động lớn tới toàn bộnền kinh tế; xuất khẩu tăng sẽ thỳc đẩy chuyển dịch, tạo việc làm cho xó hội, việc tăngtrưởng xuất khẩu sẽ tỏc động trở lại để mỗi doanh nghiệp nhanh chúng ỏp dụng khoa học,năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả của cả nền kinh tế Đặc biệt Thủ tướngPhan Văn Khải nhấn mạnh, mục tiờu của chỳng ta là hướng đến xuất siờu, muốn thế phảiđẩy mạnh xuất khẩu, giảm dần nhập siờu và hướng tới xuất siờu để tớch lũy ngoại tệ Kinhnghiệm Trung Quốc cho thấy, sau 20 năm xuất siờu liờn tục, nước này đó cú dự trữ ngoại
tệ lớn nhất thế giới Vỡ vậy Việt Nam cũng cần hướng tới xuất siờu để cú nguồn lực để tăngnhanh dự trữ ngoại tệquốc gia và đõy chớnh là cụng cụ hiệu quả để đối phú với những biếnđộng trờn thị trường thế giới
II.2 Xuất khẩu thuỷ sản
Bên cạnh các mặt hàng xuất khẩu trên, thuỷ sản cũng là một ngành chiếm tỷ trọnglớn trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Với điều kiện tự nhiên, vùng biển có 4000hòn đảo lớn nhỏ trong đó có những đảo lớn có dân c nh: Vân Đồn, Cát Bà, Phú Quý, Côn
Đảo, Phú Quốc… có nhiều vịnh, vũng, eo, ngạch…đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngànhthủy sản Việt Nam phát triển Ngoài ra còn có nguồn lợi thủy sản nớc ngọt ở trong 2800con sông lớn nhỏ, nhiều triệu hecta đất ngập nớc, ao hồ, ruộng trũng…đặc biệt là lu vựcsông Hồng và sông Cửu Long Vì vậy mà ngành thuỷ sản Việt Nam đã đứng trên những uthế thuận lợi của mình để đi lên phát triển thành một trong những mũi nhọn về xuất khẩucủa nớc ta
Chặng đờng dài mà ngành thuỷ sản đã đi đợc thể hiện rõ nét trên những con sốtrong kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản mà nó đã đạt đợc
1) Những thành tựu mà ngành thủy sản đã đạt đợc
Ngành thuỷ sản Việt Nam đã đợc hình thành một cách tự nhiên dựa trên những điềukiện tự nhiên thuận lợi, để rồi đã phát triển và tiến tới một ng nh thành th ủy sản cú kim ngạchxuất khẩu lớn như hiện nay Năm 1993, Hội nghị Ban chấp hành Trung ơng Đảng lần thứ
5 khoá VII đã xác định xây dựng thuỷ sản thành ngành kinh tế mũi nhọn
Trớc những năm đổi mới nh năm 1981: Tổng sản lợng Thuỷ sản đạt 596,356 tấn,giá trị kim ngạch xuất khẩu 11,2 triệu USD Đến năm 1986: Tổng sản lợng đạt 840,906 tấn,kim ngạch xuất khẩu là 100 triệu USD Sau những năm đổi mới cùng với các ngành khác,Thuỷ sản đã liên tục lớn mạnh cả về số lợng lẫn chất lợng Trong những năm cuối thế kỷ
XX, ngành thuỷ sản đã thu đợc những kết quả quan trọng Năm 2000 tổng sản lợng thuỷsản đã vợt qua mức 2 triệu tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu 1,475 tỷ USD, đến năm 2002
Trang 17xuất khẩu thuỷ sản vợt qua mốc 2 tỷ USD ( đạt 2,014 tỷ USD ) Năm 2005, ngành thủy sảnbằng sự nố lực phấn đấu liên tục không mệt mỏi vợt qua những khó khăn khách quan vàchủ quan để hoàn thành một cách vẻ vang các chỉ tiêu, kế hoạch cơ bản mà ngành đã xâydựng và đợc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ghi nhận trong kế hoạch kinh tế – xã hộigiai đoạn 2001-2005: Tổng sản lợng đạt 3,43 triệu tấn, tăng 9,24% so với năm 2004 Kimngạch xuất khẩu đạt 2,74 tỷ USD, đ qua mốc 2,5 tỷ USD, tăng 13% so với năm 2004 vàbằng 185% so với năm 2000 Tính chung 5 năm ( 2002 – 2005 ) tổng giá trị kim ngạchxuất khẩu thuỷ sản đạt trên 11 tỷ USD, chiếm khoẩng 9% tổng giá trị xuất khẩu của cả nớc.
Trong 2 năm gần đây: Năm 2006 xuất khẩu thuỷ sản giá trị kim ngạch là 3,08 tỷUSD, bằng 110% kế hoạch, tăng gần 25% só với cùng kỳ ( tính hết tháng 11/2006 ) Còntrong năm 2007: Theo Bộ NN và Phát triển nông thôn, tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sảntháng 8 ớc đạt 300 triệu USD, nâng mức 8 tháng năm 2007 lên 2341 triệu USD, đạt 65% kếhoạch năm, bằng 116,6% cùng kỳ năm 2006
Với những con số khổng lồ ngày càng lớn mạnh ấy, Việt Nam đã trở thành nớccung cấp thủy sản lớn thứ 5 thế giới và đợc Nhà nớc trao tặng Huân chơng Sao vàng
Các thị trờng xuất khẩu chủ yếu của thuỷ sản Việt Nam là: khu vực châu á: Lào,Campuchia, Trung Quốc, Thái Lan, Nhật…Các nớc trong khối EU: Nga, và Mỹ cũng trởthành một thị trờng lý tởng của hàng thuỷ sản Việt Nam Tính đến nay, thuỷ sản Việt Nam
đã xuất khẩu tới hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau Trong đó, Nhật Bản chiếm
tỷ trọng 25,09%; EU chiếm 21,55% Bên cạnh đó là các thị trờng nh Hàn Quốc, Australia,Nga…Riêng mặt hàng cá tra, cá basa, hiện nay Nga là nRiêng mặt hàng cá tra, cá basa, hiện nay Nga là nớc nhập khẩu lớn thứ 2 của ViệtNam sau EU với tổng kim ngạch khoảng 100 triệu USD vào năm nay Hiện nay xuất khẩuvào Mỹ chiếm 19,78% tổng sản lợng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam Bên cạnh đó, NhậtBản vẫn là một thị trờng quan trọng của thuỷ sản Việt Nam với mức tăng trởng bình quânkhoảng 15%/ năm, bao gồm 40% giá tri xuất khẩu tô đông lạnh; 42% mực, bạch tuộc; 11%giá trị xuất khẩu cá ngừ
Trang 18
Giỏ trị xuất khẩu thuỷ sản giai đoạn 1981-2006
về truy xuất nguồn gốc sản phẩm thuỷ sản và kiểm dịch cũng là thách thức lớn đổi với cácdoanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, d lợng hoá chất kháng sinh trong sản phẩm thuỷ sảnxuất khẩu của ta đang là một vấn đề hết sức nghiêm trọng Nó làm ảnh hởng rất lớn đến uytín, chất lợng mặt hàng xuất khẩu, làm mất thị trờng và giảm kim ngạch xuất khẩu
Ví dụ: Theo thống kê của VASEP trong tháng 4/2007 gần 30 lô hàng thủy sản của
sản Việt Nam đã bị cơ quan kiểm soát thực phẩm Mỹ (FDA) trả về vì nhiễm kháng sinh vàtạp chất Tháng 5/2007 Nhật cũng cảnh báo 16 nhà xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vì pháthiện d lợng CAP, AOZ…trong hải sản nhập khẩu vào nớc này Theo thông báo mới nhấtngày 8/6/2007, có đến 14 doanh nghiệp tiếp tục bị Nhật Bản gửi văn bản cảnh cáo Bêncạnh đó ở thị trờng Nga, xuất khẩu thuỷ sản của nớc ta cũng gặp nhiều bấp bênh Nếu cách
đây 1 – 2 năm, thuỷ sản Việt Nam đã có bớc đột phá mãnh liệt vào thị trờng Nga với mứctăng trởng gấp 10 lần các năm trớc đó thì hiện nay, tình hình lại hết sức ảm đạm Từ tháng4/2007, Nga đã đa Việt Nam vào danh sách các nớc cấm nhập khẩu thuỷ sản vào thị trờngnày với lý do vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm Với rào cản đó, kim ngạch xuất khẩuthuỷ sản của Việt Nam vào Nga lập tức bị đình trệ Vì những lý do trên mới đây Việt Nam
đã mất thị trờng Canada, bất lợi tại thị trờng Nhật, Nga, Austraulia…
Bên cạnh đó, mặt tồn tại và hạn chế của ngành thuỷ sản trớc hết là hiện tợng cạnhtranh không lành mạnh ở các doanh nghiệp Cạnh tranh mua nguyên liệu, giảm giá bán,tranh giành khách hàng, lạm dụng hoá chất tăng trọng, vi phạm các quy định về nhãn sản