Tác động của dịch cúm gia cầm đến tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm ở huyện Châu Thành tỉnh An Giang
Trang 1TRƯỜNG ðẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LÊ TRƯƠNG HIẾU
TÁC ðỘNG CỦA DỊCH CÚM GIA CẦM ðẾN TÌNH HÌNH
CHĂN NUÔI GIA SÚC, GIA CẦM Ở HUYỆN
CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG
BÁO CÁO KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
An Giang, Tháng 6 2007
Trang 2TRƯỜNG ðẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LÊ TRƯƠNG HIẾU
TÁC ðỘNG CỦA DỊCH CÚM GIA CẦM ðẾN TÌNH HÌNH
CHĂN NUÔI GIA SÚC, GIA CẦM Ở HUYỆN
CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG
BÁO CÁO KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Ths Nguyễn Bá Trung
An Giang, Tháng 6 2007
Trang 3Cảm tạ
Em xin chân thành cảm ơn Thầy Nguyễn Bá Trung ñã tận tình hướng dẫn và truyền ñạt kinh nghiệm quý báu ñể em hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong Khoa Nông Nghiệp – Tài Nguyên Thiên Nhiên Trường ðại học An Giang, cùng các Thầy, Cô thỉnh giảng ñã giảng dạy và truyền ñạt kiến thức cho em trong suốt khoá học
Em xin cảm ơn cán bộ phòng thí nghiệm, cán bộ thư viện và tất
cả các bạn sinh viên lớp Phát Triển Nông Thôn DH3 ñã giúp
ñỡ, tạo ñiều kiện thuận lợi và ñộng viên em trong suốt khoá học cũng như trong suốt thời gian làm luận văn
Em xin gởi lời cảm ơn ñến quí thầy cô phản biện ñã có những nhận xét, ý kiến ñóng góp ñể luận văn của em ñược hoàn chỉnh
Trang 4
Tóm lược
ðề tài này nhằm xác ñịnh tổng ñàn gia súc, gia cầm trước cúm và sau cúm gia cầm, ñánh giá tác ñộng của dịch cúm ñến hoạt ñộng chăn nuôi ở ñịa bàn huyện Châu Thành, tỉnh An Giang và khảo sát cơ cấu ñàn gia súc, gia cầm sau dịch cúm
Kết quả ñề tài cho thấy:
- Cơ cấu ñàn vật nuôi làm nguồn thu nhập chính trước và sau dịch cúm vẫn không thay ñổi: heo, bò và vịt ðây là cơ cấu ñàn có tiềm năng phát triển của huyện Châu Thành
- Tổng ñàn gia cầm giảm nhiều vào năm 2004 và ñược phục hồi trong năm 2005: năm 2003 (26.715 con), năm 2004 (16.572 con), năm 2005 (27.943 con)
- Tổng ñàn gia súc tăng từ năm 2003 ñến 2005: năm 2003 (1.527 con), năm
2004 (1.754 con), năm 2005 (2.003 con)
- Trở ngại chính trong hoạt ñộng chăn nuôi là giá bán chiếm 56,8 % hộ và bệnh tật chiếm 37,8 % hộ, nguyên nhân là do tác ñộng của dịch cúm gia cầm
- Yếu tố quyết ñịnh thành công trong chăn nuôi chính là nguồn vốn chiếm 85,6 % hộ
Dịch cúm gia cầm tác ñộng chủ yếu ñến: tổng ñàn vật nuôi, kỹ thuật nuôi gia cầm, chi phí thức ăn, ñầu tư lao ñộng, chủ trương phát triển chăn nuôi của chính quyền ñịa phương
Trang 5Mục lục
Cảm tạ .i
Tóm lược .ii
Mục lục .iii
Danh sách bảng v
Danh sách hình v
Chương 1 Giới thiệu 1
1.1 ðặt vấn ñề .1
1.2 Mục ñích 1
Chương 2 Lược khảo tài liệu .2
2.1 Những hiểu biết cơ bản về cúm gia cầm .2
2.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới 4
2.3 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam .5
2.4 Tình hình dịch cúm gia cầm ở An Giang .8
2.5 Các chủ trương – chính sách 10
Chương 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu .12
3.1 Vật liệu 12
3.2 Phương pháp 12
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 12
3.2.2 Phương pháp tiến hành 12
3.2.3 Chỉ tiêu theo dõi 13
3.3 Phân tích thống kê 13
Chương 4 Kết quả và thảo luận .14
4.1 ðặc ñiểm nông hộ 14
4.1.1 Tuổi và trình ñộ học vấn của chủ hộ 14
4.1.2 Kinh nghiệm chăn nuôi 15
4.1.3 Diện tích ñất nông hộ 15
4.1.4 Nguồn thông tin cho hoạt ñộng chăn nuôi 17
4.1.5 Tình hình tài chính nông hộ 17
4.2 Ứng phó của chính quyền ñịa phương và phản ứng của người chăn nuôi khi có thông tin dịch cúm gia cầm 18 4.2.1 Ứng phó của chính quyền ñịa phương khi có thông tin dịch cúm
Trang 6gia cầm 18
4.2.2 Phản ứng của người chăn nuôi khi có thông tin dịch cúm gia cầm 18
4.3 Hoạt ñộng chăn nuôi của hộ từ khi có dịch cúm xảy ra 19
4.3.1 Qui mô nuôi 19
4.3.1.1 Biến ñộng số lượng vật nuôi khi có thông tin dịch cúm 19
4.3.1.2 Loại vật nuôi làm nguồn thu nhập chính 21
4.3.2 Kỹ thuật nuôi 22
4.3.2.1 Phương thức nuôi 22
4.3.2.2 Kỹ thuật nuôi 22
4.3.3 ðầu tư con giống 23
4.3.4 Chi phí thức ăn 24
4.3.5 ðầu tư lao ñộng từ khi có thông tin dịch cúm xảy ra 24
4.3.6 Biến ñộng ñàn gia súc gia cầm sau dịch cúm 25
4.3.7 Trở ngại chính trong hoạt ñộng chăn nuôi từ tháng 12/2003 – 2005 26
4.3.8 Yếu tố quyết ñịnh thành công trong chăn nuôi 26
4.3.9 Kế hoạch trong thời gian tới 27
Chương 5 Kết luận và khuyến nghị .29
5.1 Kết luận 29
5.2 Khuyến nghị 29
Tài liệu tham khảo 30
Trang 7Danh sách bảng
Bảng 1: Tỷ lệ (%) hộ theo ñộ tuổi và trình ñộ học vấn của chủ hộ - 14
Bảng 2: Kinh nghiệm của hộ chăn nuôi tại huyện Châu Thành tỉnh An Giang - 15
Bảng 3: Tỷ lệ (%) hộ có tổng diện tích theo các mô hình - 16
Bảng 4: Tỷ lệ (%) hộ thu nhận các thông tin cho hoạt ñộng chăn nuôi - 17
Bảng 5: Số lượng gia cầm bị tiêu huỷ - 18
Bảng 6: Biến ñộng số lượng vật nuôi từ năm 2003 ñến 2005 - 20
Bảng 7: Số lượng vật nuôi từ 2003 ñến 2005 - 20
Bảng 8: Mức ñộ thay ñổi kỹ thuật nuôi - 22
Bảng 9: ðầu tư con giống - 23
Bảng 10: Mức ñộ ñầu tư chi phí thức ăn cho vật nuôi từ khi có dịch cúm - 24
Bảng 11: Mức ñộ ñầu tư lao ñộng từ khi có thông tin dịch cúm - 25
Bảng 12: Mức ñộ biến ñộng ñàn từ khi có dịch cúm - 25
Bảng 13: Một số trở ngại chính trong chăn nuôi - 26
Bảng 14: Yếu tố quyết ñịnh thành công trong chăn nuôi - 27
Bảng 15: Kế hoạch trong thời gian tới - 28
Danh sách hình Hình 1: Hộ lấy vật nuôi làm nguồn thu nhập chính - 21
Trang 8Chương 1 Giới thiệu 1.1 đặt vấn ựề
Cúm gia cầm (còn gọi là cúm chim, cúm gà, cúm týp A) là bệnh cúm gây bởi một týp virus cúm sống trên loài có lông vũ, nhưng có thể lây nhiễm sang nhiều loài ựộng vật
có vú Bệnh ựược xác ựịnh lần ựầu tiên ở Montenergro vào ựầu những năm 1900 và hiện ựược biết là có mặt trên khắp thế giới Chủng cúm gia cầm H5N1 xuất hiện năm
1997 tại Hồng Công nhiều khả năng là nguồn gây dịch cúm gia cầm trên ựàn gia cầm của nhiều nước châu Á từ cuối năm 2003 ựến nay (Cẩm Tú, 2007)
Ở nước ta dịch cúm gia cầm xuất hiện vào tháng 12 năm 2003 và ựến tháng 5 năm
2005, cả nước ựã xảy ra ba ựợt dịch cúm và tái phát dịch ựều có gia cầm bị chết ựã gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng và cho nền kinh tế cả nước nói chung
Nếu dịch cúm gia cầm ở Việt Nam ựược coi là ựiểm nóng của thế giới thì An Giang ựang là ựiểm nóng của Việt Nam Ba ựợt dịch cúm và tái phát dịch ựều có gà, vịt bệnh chết ở các ựịa phương Tổng ựàn gia cầm ở An Giang hơn hai triệu con nên dịch cúm xảy ra ựã gây thiệt hại không ắt ựến nền kinh tế nói chung và tình hình chăn nuôi nói riêng của tỉnh (Cao Tâm, Báo An Giang, 2005)
Là một phần ở tỉnh An Giang nên huyện Châu Thành cũng chịu ảnh hưởng của dịch cúm Nó ảnh hưởng ựến ựời sống, sản xuất và tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm của người dân trên ựịa bàn Nhằm khảo sát cơ cấu ựàn gia súc, gia cầm sau cúm và tiềm năng giống vật nuôi có triển vọng phát triển trong tương lai ở huyện Châu Thành, chúng tôi tiến hành ựề tài ỘTác ựộng của dịch cúm gia cầm ựến tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm ở huyện Châu Thành tỉnh An GiangỢ
1.2 Mục ựắch
Xác ựịnh tổng ựàn gia súc, gia cầm trước và sau cúm
đánh giá tác ựộng của dịch cúm gia cầm ựến tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm ở huyện Châu Thành
Khảo sát cơ cấu ựàn gia súc, gia cầm sau dịch cúm
Trang 9
Chương 2 Lược khảo tài liệu 2.1 Những hiểu biết cơ bản về cúm gia cầm
Cho ựến nay, các chuyên gia thú y trên thế giới ựều khẳng ựịnh rằng: Bệnh cúm gia cầm (Avian influenza, thường ựược gọi là cúm gà) là một trong những bệnh truyền nhiễm cấp tắnh ở gia cầm, lây lan rất nhanh, tỉ lệ chết cao (100% số gà bị bệnh), lây nhiễm cho nhiều loại gia cầm và chim trời, từng gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung ở nhiều nước trên thế giới trong thế
kỉ XX
Cúm là một bệnh truyền nhiễm cấp tắnh ựường hô hấp do virus cúm gây ra Virus cúm có 3 type A, B, C Virus dễ bị tiêu diệt ở nhiệt ựộ thường nhưng có sức sống khá dai dẳng ở nhiệt ựộ thấp Cũng chắnh vì lý do này nên bệnh cúm thường rộ lên vào mùa đông Ờ Xuân Tên của mỗi loại virus cúm ựược viết tắt bằng các chữ ỘHỢ và
ỘNỢ Với người những virus từng gây bệnh là từ H1 ựến H3 (tất cả có 15 virus H); còn với virus N thì chỉ có N1 và N2 có thể gây bệnh cho người Dịch cúm hiện tại là
do virus H5N1 gây nên, lan truyền rất nhanh trong gia cầm, gây chết hàng ựàn Loại virus này ựược gọi là H5N1 vì nó mang 2 loại protein ở bề mặt là Hémagglutinine H5
và Neuraminidase N1 H và N là 2 protein ựặc trưng trong các virus cúm, nhưng ở H5N1, hai protein này kết hợp với nhau khiến cho virus xâm nhập dễ dàng vào tế bào
và tiếp tục nhân ựôi, lây lan sang các tế bào khác Trong dòng các virus cúm, H5N1
là loại có mức ựộ hoạt ựộng lây nhiễm lớn nhất, do khi ựã xâm nhập vào tế bào, nó sẽ nhận biết ựược axit Sialic alpha 2 và 3, hoạt chất có mặt trên bề mặt tất cả các tế bào trong cơ thể gia cầm đây có thể coi là tắnh chất ựặc trưng của virus cúm H5N1 Nhờ H5 và N1 phối hợp với nhau, virus có thể tự do di chuyển trong tất cả các mô của gia cầm, từ ựó phá huỷ hầu hết các cơ quan nội tạng của gia cầm như: hệ hô hấp, tiêu hoá, Ầ gây tử vong cho con vật (Vũ Quốc Khánh, 2005)
Bệnh cúm gà lây truyền rất nhanh từ gà bệnh sang gà khỏe qua ựường hô hấp và ựường tiêu hóa theo hai cách: Lây nhiễm trực tiếp, do gà khỏe tiếp xúc trực tiếp với
gà bệnh; lây gián tiếp qua không khắ, dụng cụ chăn nuôi, xe cộ vận chuyển, phân rác, thức ăn, nước uống có chứa mầm bệnh
Thời gian ủ bệnh của gà rất ngắn, từ vài giờ ựến 3 ngày, tắnh từ khi nhiễm virút ựến khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng ựầu tiên Trong cơ thể gia cầm, virút nhân lên rất
Trang 10nhanh, gây trạng thái nhiễm trùng huyết, viêm ựường hô hấp và xuất huyết tràn lan ở nội tạng cũng như các tổ chức dưới da và cơ
Gà bị nhiễm virút và phát bệnh ở tất cả các lứa tuổi với các triệu chứng ựiển hình sau: Nhiệt ựộ cơ thể tăng ựột ngột, từ 4400C ựến 4600C (gà bình thường: nhiệt ựộ cơ thể từ
4000C-4300C), ựi lại loạng choạng, xiêu vẹo, run rẩy; khó thở, khi thở phải há miệng,
ho khẹc, chảy dịch mắt, dịch mũi và dớt dãi liên tục; mào và tắch (mào dưới, yếm) sưng ựỏ, mọng nước và xuất huyết; kết mạc mắt sưng thũng; ỉa chảy rất nặng, phân xanh vàng ựôi khi có lẫn máu; trên mặt da, ựặc biệt cả da chân có nhiều ựám tụ huyết, xuất huyết màu ựỏ sẫm
Mổ khám gà bệnh, thấy: mũi gà bị viêm xuất huyết và tịt lại; mào và tắch sưng thũng,
ựỏ sẫm, trong ựó có chứa dịch; viêm hoại tử và xuất huyết tràn lan ở gan, lách, thận, phổi và cơ tim; tụy tạng phù nề có những vạch vàng và ựỏ sẫm xen kẽ; viêm xuất huyết toàn bộ niêm mạc ựường tiêu hóa, niêm mạc dạ dày cơ, niêm mạc dạ dày tuyến, ruột non, ruột già, manh tràng; xuất huyết dưới da và tổ chức cơ, ựặc biệt là vùng da chân
Các bác sĩ thú y cũng lưu ý rằng xuất huyết tuyến niêm mạc dạ dày rất dễ nhầm với bệnh Niucatxơn ở gà; gan xung huyết, phù nề có các ựiểm hoại tử rất dễ nhầm với bệnh tụ huyết trùng ở gia cầm
Gà, vịt, gà tây bị bệnh thường ở thể cấp tắnh, tỉ lệ chết 100% Tuy nhiên, trong thực
tế, người ta cũng gặp (nhưng rất hiếm) gia cầm bị nhiễm chủng virút cúm có ựộc lực thấp, gây thể bệnh nhẹ hoặc mang virút ở một số loài chim hoang dã đó chắnh là nguồn tàng trữ và truyền bá mầm bệnh trong tự nhiên Các nhà khoa học Mỹ cũng ựã phân lập ựược virút cúm gà (nhóm A) từ lợn (năm1970), từ nhiều loại chim hoang dã Cúm gia cầm nhiễm virút H5N1 ựược coi là nguy hiểm nhất Nó ựã biến ựổi nhanh chóng, rất khó kiểm soát, không chỉ làm người chết, mà còn có thể giết hại nhiều loài khác, trong ựó có loài gặm nhấm và các loại ựộng vật như lợn, hổ, và mèo Loài vi rút này có khả năng tồn tại trong phân gà và thịt của những con gà ựã chết, không cần ựến môi trường máu và tế bào sống Những loài chim di cư bơi dưới nước, phần lớn
là loài vịt hoang, là nguồn mang vi rút cúm gia cầm, nhưng chúng có thể kháng lại sự lây nhiễm Các loại gia cầm, bao gồm gà, gà tây, vịt, ngỗng, thường dễ bị nhiễm vi rút cúm gia cầm và phát triển thành dịch Sự tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp giữa những loài chim di cư với gia cầm thường gây ra dịch gia cầm Các chợ bán gia cầm sống cũng ựã góp phần ựáng kể làm cho dịch cúm gia cầm lan rộng
Trang 112.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới
Theo Hà Yên (2005), dịch cúm gia cầm trên thế giới bắt ựầu xuất hiện từ thế kỷ XIX, lần ựầu tiên xảy ra ở Italia, và virus bệnh nguyên ựược xác nhận vào năm 1955 Tiếp ựến, vào năm 1918 Ờ 1919, thế giới chứng kiến một ựại dịch cúm gia cầm mà ựến nay, nó làm cho loài người kinh sợ vì mức ựộ trầm trọng và con số tử vong lên ựến
40 triệu ngườiẦ Các số liệu có sức thuyết phục có ựược sau này cho thấy ựại dịch cúm năm 1918 là do virus cúm type A (H1N1) gây ra và ựây là virus rất giống với virus hiện chúng ta vẫn gặp ở lợn và một số nước Từ ựó trở ựi, ựã có thêm 3 ựại dịch nữa ựược ghi nhận, ựó là: ỘCúm Châu ÁỢ (Asian Flu) do virus type A (H2N2) gây nên năm 1957; ỘCúm Hong KongỢ (Hong Kong Flu) do virus cúm type A (H3N2) gây ra năm 1968 và ỘCúm NgaỢ (Russian Flu) do virus cúm type A (H1N1) gây ra năm 1977 Cũng tương tự như vậy, ựại dịch năm 1957 không phải là virus type H1N1 như trước ựây mà là do virus H2N2 và ựại dịch cúm năm 1968 là do virus H3N2 gây nên Từ cuối năm 2003 ựến nay, ựã có 11 nước và vùng lãnh thổ xuất hiện dịch cúm gia cầm H5N1 gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia, Trung Quốc, Malaysia, Hong Kong và Việt Nam
Theo số liệu thống kê của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (2005) cho thấy, kể từ năm 2003 ựến ựầu tháng 10-2005 ựã có 63 ca tử vong do vi rút H5N1 ở khu vực đông Nam Á
và hàng triệu gia cầm ựã bị buộc phải tiêu hủy, gây thiệt hại cho ngành công nghiệp gia cầm khoảng 10-15 tỷ USD Nhưng trong khoảng thời gian gần cuối năm 2005, dịch cúm gia cầm ựã không chỉ còn là mối hiểm họa của riêng Châu Á mà ựã lan sang Châu Âu (Nga, Rumani, Thổ Nhĩ Kỳ), thậm chắ còn có mặt ở mức ựộ nhẹ ở cả Nam
Mỹ (Cômlômbia với loại virút H9 ắt nguy hiểm hơn so với chủng H5N1) Ngày 13 và 15-10-2005, Rumani, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và cả Cômlômbia ựã thông báo phát hiện các trường hợp nhiễm cúm gia cầm ựầu tiên và phải tiến hành thiêu hủy hàng nghìn con gà và áp dụng các biện pháp cách ly Tại Rumani, các nhà chức trách ựã cấm các hoạt ựộng săn bắn ở vùng châu thổ sông đanúyp - nơi xuất hiện dịch bệnh Khoảng 3.400 người dân sinh sống tại khu vực này ựã ựược xét nghiệm và tiêm vắc xin phòng cúm Những lời cảnh báo của các tổ chức và chuyên gia y tế quốc tế về Ộthảm họaỢ
và nguy cơ cúm gia cầm biến ựổi thành một loài vi rút có khả năng lây trực tiếp từ người sang người, và tâm ựiểm vẫn nằm ở Châu Á Nếu ựiều này xảy ra, thì hàng chục triệu người sẽ bị thiệt mạng
Trước nguy cơ bùng phát ựại dịch cúm gia cầm trên toàn cầu, ngày 3-11-2005, tại Hội nghị cao cấp về y tế toàn cầu do Liên hợp quốc tổ chức tại New York ựề ra chiến
Trang 12lược 7 ñiểm nhằm chuẩn bị và chặn ñứng sự lây lan của dịch cúm, cụ thể là: ðầu tư hơn nữa về cơ sở hạ tầng thú y ñể hạn chế sự lây lan của virus; thay ñổi thói quen chăn nuôi gia cầm trong nhà và sự gần gũi giữa người với gia cầm; xác ñịnh trọng tâm hoạt ñộng tại các quốc gia khi dịch bệnh xảy ra; tăng cường sản xuất vaccine và thuốc ñiều trị cúm ñảm bảo ñáp ứng ñủ nhu cầu phòng chống bệnh; thúc ñẩy sự minh bạch và hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học phòng chống dịch cúm; công bố những phát hiện quan trọng về các loại virus cúm ñể phòng tránh; phát huy vai trò lãnh ñạo chính trị ở mức cao nhất khi dịch bệnh bùng phát (Vũ Quốc Khánh, 2005)
Lê Văn Năm (2007), tính từ năm 2003 ñến nay ñã có 55 nước và vùng lãnh thổ ( hay còn gọi là nền kinh tế) bị dịch cúm gia cầm bùng phát làm 250 triệu con gia cầm bị chết hoặc bị thiêu huỷ bắt buộc, có 258 người ñã bị chết
2.3 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam
Hà Yên (2005), dịch cúm gia cầm xảy ra tại Việt Nam từ cuối tháng 12/2003 ñến giữa năm 2005, ñã có 3 ñợt dịch ðợt dịch ñầu tiên (12/2003 - 27/04/2004) dịch xuất hiện lần ñầu tiên tại Việt Nam là ở Tỉnh Hà Tây, Long An và Tiền Giang Tổng số gà
và thủy cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy hơn 43,9 triệu con, chiếm gần 17 % tổng ñàn gia cầm Trong ñó, gà chiếm 30,4 triệu con, thủy cầm 13,5 triệu con Ngoài ra, có ít nhất 14,8 triệu con chim cút và các loại chim khác bị chết hoặc bị tiêu hủy ðợt dịch thứ hai (04/2004 - 11/2004) trong giai ñoạn này, dịch phát ra rải rác với quy mô nhỏ
ở các hộ gia ñình chăn nuôi gia cầm Thời gian cao ñiểm nhất là tháng 7, sau ñó giảm dần ðến tháng 11, cả nước chỉ còn một ñiểm phát dịch Tổng số gia cầm bị tiêu hủy trong giai ñoạn này là 84.078 con, trong ñó có gần 56.000 gà, 8.132 vịt và 19.950 chim cút ðợt dịch thứ ba (12/2004 - 05/2005) Trong khoảng thời gian này, dịch ñã xuất hiện ở 670 xã tại 182 huyện thuộc 36 tỉnh, thành phố (15 tỉnh phía Bắc, 21 tỉnh phía Nam) Số gia cầm tiêu hủy là 470.500 con gà, 825.700 vịt, ngan và 551.030 chim cút Bệnh xuất hiện ở tất cả các tỉnh, thành phố thuộc vùng ðồng Bằng Sông Cửu Long, những tỉnh bị dịch nặng là Long An, Tiền Giang, Bạc Liêu, ðồng Tháp Báo cáo của Chính phủ tại Hội nghị "Tổng kết 2 năm (2004-2005) phòng chống dịch cúm gia cầm" cho thấy, dịch cúm ñầu năm 2004 ñã làm giảm 0,5 % tăng trưởng tổng thu nhập quốc dân của quốc gia, tương ñương trên 3.000 tỷ ñồng Nhiều hộ, trang trại, doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm lâm vào cảnh mất trắng Một số vùng tuy không
có dịch, nhưng việc duy trì ñàn gia cầm rất khó khăn, ñặc biệt ñối với những cơ sở chăn nuôi tập trung, quy mô lớn, do không tiêu thụ ñược gia cầm, sản phẩm gia cầm Mặc dù ñợt dịch cuối năm 2004-2005 thiệt hại trực tiếp không lớn, song, thiệt hại
Trang 13gián tiếp vẫn ñáng kể do ảnh hưởng ñến việc tiêu thụ, sản xuất và chăn nuôi gia cầm Ước tính, ngành chăn nuôi ñã mất thêm 500 tỷ ñồng Qua 3 ñợt dịch, tổng số ñàn gia cầm bị chết, tiêu huỷ là khoảng 46,6 triệu con Theo Cục Thú y, dịch phát nặng thường theo chu kỳ từ tháng 12 năm trước ñến tháng 3 năm sau, cao ñiểm vào cuối tháng 1, ñầu tháng 2 Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở ñàn gà có từ 100-500 con; tỷ lệ này giảm dần ở những trại nuôi gà có số lượng lớn Loại hình chăn nuôi hỗn hợp các loài gia cầm, ñặc biệt là gà với vịt, mắc dịch nhiều (Hà Yên, 2005)
Dịch cúm gia cầm diễn ra ở Việt Nam vào mùa ñông 2004 - 2005 ñã khiến cho giá trị sản lượng của ngành chăn nuôi gia cầm giảm khoảng 15% Tỷ trọng của chăn nuôi gia cầm trong tổng thu nhập quốc dân trong năm 2003 là 0,55% Do ñó việc giảm giá trị như trên tương ñương với việc giảm tổng thu nhập quốc dân của Việt Nam trong năm 2004 khoảng 0,08% (tức 0,15 nhân với 0,55) Con số ước tính cũng sẽ ngang bằng như vậy nếu chúng ta xem xét việc giảm lượng gia cầm, thay vì xem xét việc giảm sản lượng Năm 2003 có khoảng 255 triệu gia cầm, nhưng con số ñó ñã giảm xuống còn 219 triệu con năm 2004, tức khoảng dưới 14% Giá bán trung bình một con gia cầm tại chuồng khoảng 1USD Vậy, thiệt hại do giảm lượng gia cầm từ năm
2003 ñến 2004 là khoảng 36 triệu USD Những thiệt hại này có thể không ñáng kể nếu xét trên bình diện của toàn bộ nền kinh tế vĩ mô, nhưng chúng tàn phá khốc liệt ngành sản xuất gia cầm, các ngành sản xuất ñầu vào có liên quan và các kênh phân phối Tại các quốc gia như Việt Nam nơi mà phần chủ yếu của việc sản xuất gia cầm ñược tiến hành ngay tại các gia ñình, thì ảnh hưởng của dịch bệnh sẽ trực tiếp tác ñộng lên các hộ gia ñình ở nông thôn (Hồng Phúc, Báo kinh tế, 2005)
Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005) cho biết, trong tháng
10-2005 và ñầu tháng 11-10-2005, dịch ñã xảy ra tại 9 xã, 8 huyện thuộc 6 tỉnh thành phố là: Bạc Liêu, ðồng Tháp, Quảng Nam, Bắc Giang, Thanh Hoá và Hà Nội Số gia cầm chết và bị tiêu huỷ là 20.684 con Như vậy, so với năm 2004, năm 2005 dịch cúm gia cầm ñã xảy ra trên diện rộng hơn (trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam) Tại miền Bắc dịch phát ra sớm hơn so với năm 2004
Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005), trong thời gian từ 1/1/2005 ñến 9/01/2005, số các ổ dịch cúm gia cầm có chiều hướng tăng ñột biến, ñã xảy ra ở 47 xã, phường, 26 huyện, quận, thị xã của 9 tỉnh: Lâm ðồng, Bình Phước, Bến Tre, Tiền Giang, Long An, ðồng Tháp, Thành phố Cần Thơ, Bạc Liêu và Cà Mau Số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là: 24.339 gà, 33.134 vịt và 37.800 cút
Trang 14Cùng với sự gia tăng số ổ dịch cúm gia cầm ñã có 3 trường hợp người bị tử vong do nhiễm virút cúm H5N1
Theo tổng kết của Bộ nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2005), chỉ tính riêng mùa
"cúm" năm 2004, tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy khoảng 38,3 triệu con trên 57 tỉnh, thành trong cả nước Ước tính thiệt hại của ngành gia cầm cả nước hàng ngàn tỷ ñồng Riêng Thành phố Hồ Chí Minh tổng ñàn gia cầm các loại ñã tiêu hủy hơn 5 triệu con và tổn thất khoảng 120 tỷ ñồng; chưa kể thiệt hại của các ngành có liên quan như chế biến, phân phối thực phẩm Năm 2004, Thành phố Hồ Chí Minh cũng ñã chi hơn 60,8 tỷ ñồng ñể hỗ trợ thiệt hại cho người chăn nuôi và chống dịch Dịch cúm gia cầm xuất hiện và bùng phát ñã ảnh hưởng lớn ñến nền kinh tế của Việt Nam - một nước nông nghiệp mà chăn nuôi là nguồn thu nhập quan trọng ñối với các
hộ gia ñình nông thôn và là một trong những nghề có tác dụng xoá ñói giảm nghèo nhanh, có hiệu quả Theo báo cáo của Chính phủ (2005), ñợt dịch cúm ñầu năm 2004
ñã làm giảm tăng trưởng Tổng thu nhập quốc dân của quốc gia ñến 0,5 %, tương ñương trên 3.000 tỷ ñồng, trong ñó thiệt hại trược tiếp do gia cầm bị chết và tiêu huỷ
là 1.300 tỷ ñồng; ñợt dịch cuối năm 2004 – 2005 thiệt hại ước tính 500 tỷ ñồng Nhiều hộ gia ñình, trang trại, doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm lâm vào cảnh mất trắng do toàn bộ gia cầm bị tiêu huỷ
Theo Ban chỉ ñạo quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm (2005), khi ñại dịch cúm xảy ra sẽ tác ñộng mạnh ñến nền kinh tế cũng như các hoạt ñộng kinh tế xã hội và sức khoẻ nhân dân Theo dự báo với dân số của nước ta là 82 triệu người, ñại dịch cúm sẽ gây bệnh cho khoảng 16 triệu bệnh nhân (20 %), số người tử vong khoảng 819.000 – 1.638.000 người (1 –2 %)
Tô Long Thành (2006), từ ñầu tháng 10/2005 ñến 25/12/2005, dịch cúm gia cầm ñã tái phát và xuất hiện ở 285 xã, phường, thị trấn của 100 quận, huyện, thị xã của 24 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm ốm chết, buộc tiêu huỷ và tiêu huỷ tự nguyện là 3.735.620 con, trong ñó 1.245.282 gà, 2.005.557 vịt, ngan và 484.781 chim cút, bồ câu, chim cảnh
Lê Văn Năm (2007), sau hơn 1 năm Việt Nam không có dịch thì ngày 19/12/2006 dịch cúm gia cầm lại tái phát ở các ñịa phương thuộc hai tỉnh Bạc liêu và Cà Mau, ñưa Việt Nam lên nguy cơ mới của ñại dịch lần thứ 4
Trang 15Ngày 07-11-2005, Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang ñã có Công văn số 3179/UBND-KT về việc tăng cường các biện pháp ngăn chặn dịch cúm gia cầm và ñại dịch cúm ở người Nội dung công văn chỉ ñạo rất kiên quyết và cứng rắn như: Cấm nuôi gia cầm trong nội ô tại Thành phố Long Xuyên, thị xã Châu ðốc, các thị trấn và các khu ñông dân cư; cấm tập trung chim cảnh tại các quán giải khát; tạm ngừng việc tổ chức hội chim cảnh; cấm chăn thả vịt trên ñồng ruộng; cấm buôn bán gia cầm sống hoặc giết mổ gia cầm tại các chợ, các ñiểm không ñúng qui ñịnh của pháp luật về thú y; cấm việc chế biến và bán các loại tiết canh gia súc, gia cầm; tạm dừng ngay việc ñưa trứng vào ấp ñể sản xuất con giống, ñể ấp trứng lộn và nuôi mới ñối với tất cả các loại gia cầm trên phạm vi toàn tỉnh ñến 28-2-2006 (Chu Mã Giang, 2005)
Ngày 26/8/2005, Ban Chỉ ñạo Tiêm phòng cúm gia cầm An Giang ñã khẩn trương tiến hành công tác tiếp nhận vaccin tiêm phòng cúm gia cầm của Trung ương ñể chuẩn bị cho tiêm thí ñiểm và tập huấn cho các kỹ thuật viên chăn nuôi thú y (gồm 3 huyện Châu Phú, Long Xuyên, Phú Tân) Cùng thời ñiểm này, Sở Y Tế và Trung Tâm Y tế Dự phòng tỉnh cũng chuẩn bị kế hoạch phối hợp với ngành Nông nghiệp
An Giang tổ chức công tác tiêm phòng cúm gia cầm cho toàn tỉnh ðến tháng 8/2005 Chi cục Thú y ñã phát hành trên 20.000 tài liệu bướm, 6.000 áp phích, 72.000 tờ ñăng
ký tiêm phòng, 600 bộ tài liệu tập huấn cho các kỹ thuật viên chăn nuôi thú y 05 huyện thị thành ñã triển khai kế hoạch tiêm phòng: Phú Tân, Châu Phú, Long Xuyên, Châu Thành và Thoại Sơn Bên cạnh việc chuẩn bị cho công tác tiêm phòng cúm gia cầm, các huyện thị thành phố tiếp tục kiểm tra chặt chẽ các lò ấp trứng trên ñịa bàn không cho ấp nở gia cầm con, không nuôi mới vịt, không cho vịt xuống kênh mương, không cho vịt chạy ñồng, hướng dẫn vệ sinh môi trường, vệ sinh chuồng trại Các Trạm thú y ñã triển khai thực hiện công văn số: 1848 /UBND-KT ngày 13/07/2005 của Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh về công tác phòng chống dịch cúm gia cầm; chuẩn bị tốt lực lượng, phương tiện, dụng cụ trang bị bảo hộ cho ñợt tiêm phòng cúm gia cầm ñại trà toàn tỉnh vào ngày 15/9/2005
Trang 16Tuy tình hình dịch cúm gia cầm ựã lắng dịu nhưng thời gian từ ngày 26/01/2006 ựến 01/02/2006 Ngành Nông nghiệp & Phát Triển Nông Thôn, Ngành Y tế tỉnh An Giang vẫn tiếp tục thực hiện công tác vệ sinh tiêu ựộc, kiểm dịch thú y trong giết mổ, tiêu thụ gia súc gia cầm và sản phẩm gia cầm; tiếp tục thực hiện chỉ thị 23/2005/CT của
Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh An Giang về phòng chống dịch cúm gia cầm
Nguyễn Ngọc Thọ (2005) ngày 26/8/2005, ban chỉ ựạo tiêm phòng cúm gia cầm An Giang ựã khẩn trương tiến hành công tác tiếp nhận vaccin tiêm phòng cúm gia cầm của trung ương ựể chuẩn bị cho tiêm thắ ựiểm và tập huấn cho các kỹ thuật viên chăn nuôi thú y (gồm 3 huyện Châu Phú, Long Xuyên, Phú Tân) Cùng thời ựiểm này, Sở
Y Tế và Trung Tâm Y Tế Dự Phòng tỉnh cũng chuẩn bị kế hoạch phối hợp với ngành Nông Nghiệp An Giang tổ chức công tác tiêm phòng cúm gia cầm cho toàn tỉnh Nguyễn Ngọc Thọ (2006) tình hình dịch bệnh tại ựịa bàn tỉnh An Giang (09/11/06 - 15/11/06)ổn ựịnh, không phát hiện gia cầm bệnh, chết Công tác vệ sinh tiêu ựộc ựược thực hiện trong tuần cho các khu vực chăn nuôi, giết mổ, nơi mua bán gia cầm, các phương tiện vận chuyển gồm 86.190 m2 đã thực hiện xông trùng cho 1.689.250 trứng vịt; tái kiểm cho 2.205 con gia cầm ở thành phố Long Xuyên Thực hiện kiểm soát giết mổ toàn tỉnh cho 14.658 trâu bò, heo Lực lượng thú y ựã tiến hành tiêu hủy 400 vịt con (huyện Châu Thành, thị xã Châu đốc) 30 vịt con của lò ấp trứng (xã Phú Vĩnh huyện Tân Châu )
Từ cuối tháng 4 năm 2005 ựến nay trên ựịa bàn tỉnh An Giang không tái phát dịch cúm gia cầm do các cấp chắnh quyền, ựoàn thể ựồng lòng tập trung sức lực vào việc phòng chống dịch bệnh thông qua một số việc làm cụ thể như thực hiện tốt công tác tiêm vắc xin phòng cúm cho ựàn gia cầm, tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân, thực hiện tốt việc ấp nở mới thuỷ cầm và quản lý vịt chạy ựồng với trình tự chặt chẽ và có kiểm soátẦ(Thanh Tuyến, 2007)
Khó khăn lớn nhất hiện nay ở An Giang là lượng gia cầm phát sinh liên tục Theo thống kê từ ựầu năm ựến nay ựã phát sinh 1 triệu con gia cầm, chủ yếu là ựàn vịt chạy ựồng, nâng tổng số gia cầm hiện có ựạt xấp xỉ 4 triệu con, tăng 30% so với cuối năm 2006; nhiều nơi trong tỉnh còn ựể vịt chăn thả xuống lòng kinh, rạch; mua con giống trôi nổi; nuôi nhỏ lẻ khó tập trung gia cầm ựể tiêm phòng; tuy hiện nay chưa có lúa nhưng vịt vẫn chạy ựồng liên tục khó quản lý (Theo Thông Tấn Xã Việt Nam, 2007)
Trang 172006 (SGGP, 2005)
Theo Bộ Tài chính (2005), Nhà nước còn bảo ñảm dùng tiền ngân sách ñể hỗ trợ 100
% tiền thức ăn nuôi dưỡng ñàn gia cầm gốc giống, gốc quý hiếm do không tiêu thụ ñược sản phẩm trong thời gian bốn tháng, dự tính từ 1-12-2005 ñến 31-3-2006 Cục trưởng Cục Thú y (Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn) (2005) cho biết, Cục Thú y vừa có văn bản yêu cầu các ñịa phương không nuôi gia cầm trong nội thành, nội thị và kiên quyết ngừng ấp mới thủy cầm ñến 28/2/2007 ðây là một trong những biện pháp lâu dài nhằm hạn chế sự lây lan và bùng phát dịch cúm gia cầm, do Cục Thú y ñề xuất ñể triển khai trong thời gian tới Trước mắt, Cục Thú y vẫn khuyến khích giảm ñàn và giảm chăn nuôi nhỏ lẻ trong các hộ gia ñình Bên cạnh ñó, chuyển ñổi ngành nghề cho những người chăn nuôi gia cầm và tổ chức tiêm phòng cho ñàn gà từ một ngày tuổi ngay từ khi mới ấp nở
Theo Ban chỉ ñạo quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm (2005), một số chính sách ñược áp dụng trong công tác phòng chống bệnh cúm gia cầm là: hỗ trợ người chăn nuôi 5.000 ñồng/ 1 con gia cầm bị tiêu huỷ; hỗ trợ toàn bộ kinh phí cho tiêu huỷ gia cầm như thuốc sát trùng, nguyên nhiên liệu và công tiêu huỷ, lấy từ nguồn kinh phí
dự phòng ngân sách ñịa phương năm 2004 Hỗ trợ 18.000 ñồng/ 1 con thuỷ cầm bị tiêu huỷ, giết mổ bắt buộc trong ñàn dương tính với huyết thanh
ðể ngăn chặn dịch cúm gia cầm lây lan, Cục Thú y (2005) ñề nghị các Sở Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn và Chi cục Thú y các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Thiết lập các trạm, chốt kiểm dịch bố trí ñủ lực lượng hoạt ñộng 24/24 giờ và có ñủ ñiều kiện vật tư kỹ thuật ñể xử lý tiêu huỷ gia cầm và sản phẩm gia cầm vận chuyển trái phép Thành lập các ñội công tác lưu ñộng vừa giám sát phát hiện dịch bệnh vừa kiểm dịch xử lý ñộng vật và sản phẩm ñộng vật không ñủ ñiều kiện vận chuyển ðây là yêu cầu ñã ñược ñề cập trong các Chỉ thị của Chính phủ, Hướng
Trang 18dẫn của Ban chỉ ựạo Quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm, của Bộ Nông nghiệp
& Phát Triển Nông Thôn và Bộ Tài chắnh
để bảo vệ an toàn sức khoẻ của cộng ựồng, nhanh chóng ựạt mục tiêu dập tắt dịch trong thời gian sớm nhất, Thủ tướng Chắnh phủ (2005) chỉ thị: Ủy ban nhân dân các ựịa phương, bộ, ngành chức năng tiếp tục tập trung chỉ ựạo quyết liệt và ựồng bộ các biện pháp phòng chống dịch cúm gia cầm ựã ựược Thủ tướng Chắnh phủ chỉ ựạo tại công văn số 65/TTG - NN ngày 17 tháng 1 năm 2005 và Thông báo số 21/TB - VPCP ngày 21 tháng 1 năm 2005 của Văn phòng Chắnh phủ, không ựược mất cảnh giác, buông lơi chỉ ựạo, phải phân công cán bộ lãnh ựạo và cán bộ chuyên môn thường trực chỉ ựạo kiểm tra, ựôn ựốc công tác phòng chống dịch trong dịp Tết Nguyên đán Tạm dừng ấp trứng sản xuất con giống và nuôi mới thuỷ cầm (vịt, ngan, ngỗng) và chim cút
Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (2005), các ựịa phương cần chủ ựộng giảm ựàn gia cầm, ựặc biệt ở các thành phố, các khu ựô thị, không bán gà con và không cho ấp trứng đồng thời, các ựịa phương chủ ựộng thực hiện các biện pháp phù hợp ựể giết
mổ và tiêu huỷ gia cầm nhưng phải kiểm dịch chặt chẽ ựi ựôi với việc chủ ựộng kiểm soát, vận chuyển, buôn bán gia cầm, thực hiện tốt các biện pháp phòng chống dịch với mục tiêu cao nhất là bảo vệ an toàn tắnh mạng của người dân
đối với cơ sở giống gia cầm gốc, Cục Nông nghiệp (2005) yêu cầu phải lập ngay vành ựai an toàn ở vùng an toàn và vùng ựệm Lập chốt ựể theo dõi và nghiêm cấm việc ựưa gia cầm sống và sản phẩm gia cầm từ nơi khác ựến vùng này Khi có dịch phải tiêu huỷ toàn bộ gia cầm trong vùng khi có dịch Trong khu vực trại chăn nuôi gia cầm giống gốc, giống quý hiếm phải thực hiện cách ly nghiêm ngặt, không ựược nuôi ựộng vật khácẦ Cục cũng quy ựịnh, những cơ sở chăn nuôi gia cầm giống gốc, quý hiếm chưa bị dịch thì phải tiến hành thay thế ựủ số lượng giống sau ựó loại ựàn giống cũ Các cơ sở chăn nuôi giống lập kế hoạch sản xuất, kể cả nhập khẩu giống mới sau khi dịch cúm gia cầm ựược dập tắt, ựồng thời quy hoạch lại cơ sở chăn nuôi giống gia cầm ựể ựảm bảo an toàn dịch bệnh
Trang 19
Chương 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu3.1 Vật liệu
Các số liệu thứ cấp tại ñịa bàn nghiên cứu
Phiếu ñiều tra
Phương tiện ñi lại và văn phòng phẩm
Các phần mềm như: Microsoft Word, Microsoft Excel, SPSS…
3.2 Phương pháp
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu thứ cấp về tổng ñàn gia súc, gia cầm từ năm 2003 ñến năm 2005 tại
3 xã:
Xã Cần ðăng có số lượng nuôi cao nhất
Xã Vĩnh Bình có số lượng nuôi trung bình
Xã Tân Phú có số lượng nuôi thấp nhất
Mỗi xã ñiều tra 30 hộ gia ñình có chăn nuôi gia súc, gia cầm Như vậy, tổng số mẫu cần ñiều tra là 90
Phân tích số liệu ñã thu thập
Tổng hợp viết báo cáo
Thời gian thực hiện ñề tài: từ tháng 1/2006 ñến tháng 4/2006
ðịa ñiểm thực hiện ñề tài: huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
Trang 203.2.3 Chỉ tiêu theo dõi
Tổng ựàn gia súc trước và sau dịch cúm gia cầm
đánh giá cơ cấu ựàn gia súc, gia cầm sau cúm
Giống vật nuôi có triển vọng phát triển sau dịch cúm
Diễn biến giá cả gia súc, gia cầm từ năm 2003 ựến 2005
3.3 Phân tắch thống kê
Mã hoá số liệu, nhập số liệu bằng Microsoft Excel
Phân tắch số liệu bằng SPSS (Statistical Package for Social Sciences)