CHƯƠNG IV TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC DỰ ÁN NHIỆT ĐIỆN VÀ LƯỚI ĐIỆN Quá trình đưa đất nước đi lên chúng ta đã và đang cần một nguồn năng lượng vô cùng to lớn.. Chính việc sử dụng mộ
Trang 1CHƯƠNG IV TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC DỰ ÁN NHIỆT
ĐIỆN VÀ LƯỚI ĐIỆN
Quá trình đưa đất nước đi lên chúng ta đã và đang cần một nguồn năng
lượng vô cùng to lớn Chính việc sử dụng một khối lượng lớn nhiên liệu hóa
thạch để tạo ra nguồn năng lượng to lớn ấy đã và đang góp phần làm ô nhiễm
môi trường không khí…
Dưới đây chúng ta cùng xem một số nét hoạt động của các ngành công
nghiệp chính ở đất nước ta có liên quan đến việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch,
góp phần tạo ra ô nhiễm không khí như sau:
Năm 1985 tổng công suất nguồn điện của Việt Nam khoảng 4000Mw
trong đó thủy điện chiếm 66%, nhiệt điện 21%, diezel và turbin khí 13%
Năm 1994 tổng sản lượng điện của các nhà máy điện ước tính
12000GWh trong đó thủy điện chiếm 73%, nhiệt điện 19%, diezel và turbin khí
hơn 8%
Cho đến năm 2005 thì những số liệu thống kê chưa công bố nhưng sơ bộ
chúng ta đã:
Hình thành trung tâm điện – khí lớn nhất cả nước tại Bà Rịa – Vũng Tàu
Gồm 6 nhà máy điện với tổng công suất 3875MW chiếm gần 40% tổng công
suất điện cả nước
Sau trung tâm điện – khí Bà Rịa – Vũng Tàu chúng ta đang gấp rút hoàn
thành nhà máy khí – điện đạm Cà Mau với công suất 505MW (mỗi năm nhà
máy này sử dụng 850 triệu m3 khí… )
Thủy điện Sơn La: với công suất 2400MW với sản lượng điện phát ra
tương đương 50% tổng sản lượng điện nhà máy thủy điện Hòa Bình và 10 nhà
máy thủy điện khác trong cả nước…
1 Nhiệt điện:
Về đặc điểm của nguồn nhiên liệu hóa thạch Việt Nam đang sử dụng cho
nhiệt điện như sau:
- Các cơ sở phía Bắc dùng than Hòn Gai với đặc điểm là hàm lượng lưu huỳnh
thấp (0.5 ÷ 0.8% khối lượng) Lượng tiêu hao than tiêu chuẩn tính cho 1 KWh
điện:
0.473 KG (Phả Lại)
0.808 KG (Ninh Bình)
Năm 1993 sản lượng than sử dụng cho riêng 3 nhà máy nhiệt điện phía
Bắc là 479520 Tấn ước tính đã thải vào khí quyển: 6713 tấn SO2
2724 tấn NOx 277×103 tấn CO2
1490 tấn bụi và 203.5×103 tấn xỉ
- Năm 1995 sản lượng than sử dụng cho 3 nhà máy trên là 900.000 Tấn
Thế giới 0.40 KG
Trang 2- Các cơ sở nhiệt điện phía Nam sử dụng dầu FO hàm lượng lưu huỳnh
rất cao (2.5÷3% khối lượng)
2- Công nghiệp luyện kim
Ngành luyện kim ở nước ta chỉ mới xây dựng và phát triển ở một số lĩnh
vực như luyện gang luyện thép và kim loại màu Qui mô sản xuất quá nhỏ bé
với sản lượng thép cán năm 1993 là 242.000 tấn và 2000 tấn thiếc Khu gang
thép Thái Nguyên là cơ sở duy nhất luyện gang từ quặng thép, liên hợp với
luyện cốc và luyện thép Định mức tiêu hao nhiên liệu rất cao: 900 Kg cốc/t
Tấn than (Trên thế giới 500÷600 Kg cốc/1 Tấn than) Do qui mô nhỏ, công
nghệ lạc hậu… nên môi trường không khí trong ngành luyện thép đang ở thời kỳ
báo động… Đặc biệt là các khu luyện kim tập trung như gang thép Thái Nguyên,
Biên Hòa, Nhà Bè… Bụi và khí thải của luyện cốc, luyện gang thép và luyện
thiếc như CO, CO2, HC, phenol, C6H6, SO2, NH3, AsH…
3- Công nghiệp hóa chất: Như phân bón hóa học (phân Urê, phân super lân)
4- Công nghiệp vật liệu xây dựng: Như xi măng
Năm 1994 đã sử dụng 1.8 triệu tấn than cho ngành vật liệu xây dựng Có
thể nói đây cũng là một ngành gây ô nhiễm không khí rất lớn
I Tác động đến môi trường của các dự án nhiệt điện
Dự án nhiệt điện bao gồm các nhà máy chạy bằng dầu, khí, than… Hệ
thống gồm các thành phần chính là tuốc bin, máy phát và các hạng mục có liên
quan như hệ thống làm mát, hệ thống lọc khí, các khu vực chứa và cung cấp
nhiên liệu, các khu vực thải chất rắn, trạm và các tuyến đường dây đầu nối…
Quy mô, vị trí của nhà máy quyết định quy mô của các hạng mục liên quan
trong hệ thống Dự án nhiệt điện có khả năng ảnh hưởng đến môi trường bao
gồm các vấn đề sau đây:
1 Các tác động tiêu cực của dựa án nhiệt điện có thể xảy ra cả trong thời gian
xây dựng dự án và trong suốt thời gian quản lý vận hành nhà máy Các ảnh
hưởng có thể gây ra trong quá trình xây dựng như: Chuẩn bị mặt bằng (thu dọn,
san ủi, nạo vét sông, tiêu nước, trữ nước, sử dụng các khu vực làm mỏ, bãi thải
Sự tập trung đông một lực luợng công nhân, các cán bộ kỹ thuật đến công
trường xây dựng gây tác động lớn đến môi trường xã hội cho cộng đồng địa
phương, di chuyển các máy xây dựng, nhiên liệu thải xuống sông trong quá
trình thi công làm ô nhiễm nguồn nước gây ảnh hưởng đến sinh hoạt và đời
sống của nhân dân vùng dự án…)
2 Nhà máy nhiệt điện gây ảnh hưởng lớn đến môi trường là khí thải của nhà
máy (Làm ảnh hưởng dến không khí trong vùng có hoạt động của nhà máy) Cụ
thể như: Sulfur dioxide (SO2), oxide nitrogen (NOX), carbon monoxide (CO),
carbon dioxide (CO2) và đặc biệt là còn có thể có các vết kim loại tạo ra trong
quá trình đốt nhiên liệu Mức độ ô nhiễm hay ảnh hưởng phụ thuộc vào quy mô
của nhà máy và các hạng mục có liên quan, loại và chất lượng của nhiên liệu
Trang 3gần mặt đất phụ thuộc vào nhiều quan hệ mang tính chất phức tạp về vật lý của
từng nhà máy, các đặt điểm lý, hóa của chất thải, các điều kiện về khí tượng
trong vùng trong thời gian hoạt động và việc đưa chất thải vào không khí của
nhà máy từ ống khói xuống mặt đất, phụ thuộc vào điều kiện địa hình quanh
nhà máy và các khu vực phụ cận, điều kiện của các thành phần tiếp nhận như
con nguời, gia súc, thảm thực vật…
3 Khối luợng lớn lượng nước thải từ nhà máy nhiệt điện là nước thải từ quá
trình làm mát, nước thường tương đối sạch, có thể xử lý lại hoặc xả thẳng xuống
sông và chỉ có mức độ ảnh hưởng nhỏ về hóa nước Ảnh hưởng của nước thải
đến nhiệt độ của nước xung quanh cần phải được nghiên cứu, xem xét Sự tăng
nhiệt độ của nước sông hoặc hồ… từ nước thải qua hệ thống làm mát của nhà
máy sẽ ảnh hưởng đến các sinh vật sống ở dưới nước Những ảnh hưởng khác
không lớn nhưng vấn đề thay đổi chất lượng nước là đáng kể và phải xem xét,
xử lý Không những vậy một số nhà máy cần một khối lượng nước làm mát lớn
mà lượng nước cần cung cấp này phải lấy từ sông hồ Khi lượng nước được lấy
vào sử dụng cho quá trình làm mát, nước sông hoặc hồ sẽ giảm và cũng sẽ là
nguyên nhân làm giàm số lượng thủy sinh có thể chăn nuôi, sinh sống dưới
sông, hồ đó Nếu nơi cung cấp nguồn nước làm mát có các loài thủy sản có giá
trị kinh tế cao thì mức ảnh hưởng về kinh tế sẽ thấy rõ Ngoài vấn đề về nhiệt,
về giảm khối lượng nước trong sông, hồ còn có vấn đề ô nhiễm do quá trình
hoạt động của nhà máy như tràn dầu, xả các chất lỏng trong quá trình làm sạch,
rửa các thiết bị hệ thống chạy than, chạy dầu…
4 Sử dụng một khối lượng nước lớn cho quá trình làm mát cũng gây ảnh hưởng
mà cụ thể là làm giảm nguồn nước sinh hoạt, nước tưới, có thể gây ra tình trạng
thiếu nước cho các mục đích này trong một thời gian ngắn, có cả việc ảnh
hưởng đến vận tải thủy
5 Ảnh hưởng của khí thải nhà máy nhiệt điện nhiều khi còn mang tính rộng
lớn, toàn cầu như có thể gây mưa acid, đặc biệt là khi dùng nhiên liệu đốt là
than có hàm lượng sulfur cao Mưa acid sẽ làm ảnh hưởng đến các công trình
kiến trúc, xây dựng, ảnh hưởng đến hệ sinh thái nước, sinh thái cạn Việc đốt
các nguyên liệu sẽ tạo ra và làm tăng hàm lượng các khí CO2, NOX trong khí
quyển Tuy vậy, hiện tại cũng rất khó dự báo về mức độ ảnh hưởng của các khí
thải này trên một vùng rộng lớn hoặc trên phạm vi toàn cầu
6 Sự đốt nóng nhiên liệu của nhà máy trong quá trình hoạt động cũng làm tăng
nhiệt độ của không khí trong vùng Quá trình đốt và thải khí cũng tạo ra và đưa
vào không khí một hàm lượng bụi và như đã nêu trên có thể có cả các bụi kim
loại Khi phát điện các vùng xung quanh phải chịu ảnh hưởng của tiếng ồn và
có thể tạo ra độ rung nhỏ
Một số nguyên liệu phải chuyên chở như than sẽ gây ô nhiễm do làm bụi
trong quá trình chuyên trở từ nguồn cung cấp về nhà máy Tàu chở dầu có thể
bị các sự cố trong quá trình chuyên chở như bị bão, va chạm nhau gây đắm tàu,
Trang 47 Cũng như khi xây dựng thủy điện, việc thực hiện các dự án nhiệt điện cũng
có các ảnh hưởng đến môi trường xã hội như ảnh hưởng đến tài sản về đất đai,
cây cối, hoa màu, nhà cửa, có thể một số các gia đình phải di chuyển và tái
định cư để giành mặt bằng cho việc xây dựng nhà máy, làm đường thi công,
chuyên chở vật liệu, làm các hệ thống dẫn nhiên liệu như khí, dầu, làm cảng
nhận nhiên liệu, làm kho bãi… (Chỉ có điều là so với dự án thủy điện thì mức độ
ảnh hưởng về xã hội của các dự án nhiệt điện nhỏ hơn nhiều) Khi một lực
lượng lớn công nhân và cán bộ kỹ thuật được điều đến làm công việc xây dựng
dự án và quản lý, vận hành nhà máy sau náy sẽ dẫn đến một sự bùng nổ về
mức độ gia tăng dân số của cộng đồng vùng nhà máy Mọi sinh hoạt đều thay
đổi, văn minh tăng lên, hạ tầng cơ sở sẽ được cải thiện, các loại dịch vụ phục
vụ sinh hoạt, vui chơi, giải trí… cũng sẽ được tăng cường, kèm theo đó là các
ảnh hưởng tiêu cực như: mức độ an ninh xã hội sẽ phức tạp hơn, an toàn giao
thông sẽ trở nên xấu hơn, các bệnh truyền nhiễm có thể gia tăng, giá cả sinh
hoạt tăng… Từ đó kéo theo nhu cầu phải phát triển hàng loạt các công trình hạ
tầng cơ sở, giáo dục, sức khỏe như hệ thồng đường sá, trường học, bệnh viện,
trạm xá, các trạm cứu hỏa, đồn công an…
Với khả năng về tác động đến các yếu tố của môi trường như đã nêu
trên, để có thể tránh hoặc giảm thiểu các tác động tiêu cực, hạn chế tối đa các
ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường của các dự án nhiệt điện, các vấn đề sau
đây cần được các nhà kỹ thuật và môi trường phân tích, lựa chọn:
- Phương án không thể thực hiện
- Các phương án về nhiên liệu cung cấp cho nhà máy
- Các phương án về quản lý phụ tải và năng lượng
- Các phương án về vị trí (tuyến) của nhà máy
- Các phương án về hệ thống thải nhiệt
- Các phương án về cung cấp nước
- Các phương án về nhà máy và vệ sinh nước thải
- Các phương án về bãi thải các chất thải rắn
- Các phương án về thiết bị và kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường
- Các phương án giảm mức ảnh hưởng về xã hội như sử dụng lao
động, ảnh hưởng, phát triển hạ tầng cơ sở…
Tất cả các phương án cần được phân tích và lựa chọn trên cơ sở các chỉ
tiêu về kinh tế, kỹ thuật và an toàn, phương án cho lợi ích cao, mức độ ảnh
hưởng nhỏ sẽ được lựa chọn
II Tính toán sự phát tán không khí ô nhiễm do hoạt động công nghiệp
I Đặt vấn đề
1.1.Phân loại tính toán ô nhiễm không khí
A – Xét về độ cao được phân ra:
Trang 5- Nguồn thấp: thải ra từ các dây chuyền công nghệ, từ các hệ thống thông
gió… loại này thường tương đối phức tạp vì là vùng quẩn
- Nguồn cao: từ những ống khói ở những nhà máy lớn, loại này ít ảnh hưởng
tới các vùng lân cận
B – Xét về hình thể phân thành:
- Nguồn điểm: từ các ống khói, các miệng ống thải của các hệ thống thông
gió
- Nguồn đường: các đoạn đường có mật độ xe cộ đi lại nhiều…
- Nguồn mặt: các bãi chứa than, các bể chứa hóa chất, các mặt nước ao hồ bị
ô nhiễm…
- Nguồn không gian: các vùng gió quẩn, các miệng thải hệ thống thông gió
tạo ra những đám mây là là trên mặt đất…
C – Về phương diện nhiệt:
- Nguồn nóng: các lò nung, lò sấy…
- Nguồn nguội: các ống thải khí độc hại có nhiệt độ thấp…
☺ Các mô hình toán thường chỉ áp dụng tính toán cho các nguồn cao…
☺ Về công thức kinh nghiệm thì thường áp dụng cho các nguồn thấp, bởi vì sự
khuếch tán ô nhiễm đối với các nguồn thấp rất là khó xác định bằng lý
thuyết…
1.2.Ô nhiễm không khí từ những hoạt động công nghiệp:
Trong công nghiệp, nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí chủ yếu là
khí thải từ các ống khói… Có thể nói hầu hết các ngành công nghiệp đều sử
dụng các loại nhiên liệu khác nhau để làm chất đốt cung cấp năng lượng cho
quá trình công nghệ khác nhau, ví dụ như dầu DO, FO… than đá, vỏ hạt điều…
Tất cả những nguyên liệu này khi đốt lên đều thải vào không khí một
lượng lớn những chất gây ô nhiễm môi trường như CO2, SO2, NOX, khói, bụi…
Vì vậy cần phải tính toán cụ thể mức độ phát tán của những chất khí ấy ảnh
hưởng như thế nào đến môi trường sống xung quanh là điều rất cần thiết cho
công tác đánh giá tác động môi trường
II Các phương pháp tính toán khuếch tán các chất độc hại vào môi trường
không khí từ các ống khói
2.1 Sơ lược lịch sử phát triển của lý thuyết khuếch tán các chất độc hại
vào môi trường không khí
Lý thuyết khuếch tán của chất khí, bụi lơ lửng trong không khí do Taylor
(1915) và Sthmidt (1917) xây dựng với phương trình vi phân tổng quát như sau:
c - - nồng độ trong khói của chất ô nhiễm
x, y, z - tọa độ điểm tính toán mà gốc tọa độ trùng với nguồn lan tỏa, trục
Trang 6kx, ky, kz - hệ số khuếch tán rối theo các phương x, y, z
Phương trình trên thể hiện định luật bảo toàn khối lượng và dựa vào giả
thiết cho rằng quá trình khuếch tán phân tử rối cũng là tương tự nhau
Điều kiện biên của phương trình trên là:
Năm 1923 Robert F.T giải được nghiệm của phương trình trên đối với
nguồn cố định đặt tại tọa độ (0,0,h) khi vận tốc gió không đổi như sau:
Năm 1932 Sutton O.G dựa theo lý thuyết của Taylor và cho rằng sự phân
bố nồng độ của chất ô nhiễm trong quá trình lan tỏa tuân theo luật phân phối
chuẩn Gauss, từ đó thu được công thức như sau:
2 2
n có giá trị từ 0 → 1 và xác định theo trường vận tốc gió theo chiều đứng (profil
gió) Năm 1963 M.E Berliand (Nga) thu được kết quả đối với nguồn đặt ở độ
cao H như sau (nồng độ trên mặt đất khi z = 0)
1
1 1
k1, u - hệ số khuếch tán rối và vận tốc gió ở độ cao 1m
ϕo - hệ số khuếch tán theo chiều gió
M = n(2-n)
2.2 – Giới thiệu các phương pháp tính toán khuếch tán được áp dụng khá
phổ biến hiện nay
2.2.1 – Phương pháp Sutton – Pasquill (mà ta thường gọi là phương pháp
Gauss)
Dạng công thức phổ biến nhất mà Sutton và Pasquill đưa ra:
Trang 7M - lượng phát thải chất ô nhiễm, g/s
x,y,z - Tọa độ điểm tính toán, m
u - Vận tốc gió, m/s
δy, δz - Hệ số khuếch tán rối theo phương ngang và phương đứng tương
đương với sai chuẩn của hàm phân phối Gauss, m
Chúng ta nhớ lại dòng chảy trong sông ngòi thì sự phân bố tốc độ mạch
động cũng phù hợp với phân bố Gauss
2 2
( ) 2
1( )
f(w-v) - là tần suất rối động
w - Tốc độ tức thời của một điểm nào đó
v - Tốc độ trung bình
δ - sai số quân phương
2
(w v)
n
Trong công thức [4-7] trên đây:
δy, δz được cho dưới dạng biểu đồ hoặc công thức và phụ thuộc vào độ ổn định
của khí quyển do Gifford xây dựng 1960 dựa trên số liệu thực nghiệm (Xem
hình 1)
Trong trường hợp y = 0, tức là ta chỉ xét nồng độ khuếch tán của khói
thải độc hại theo hướng của gió mà thôi
Theo hương chính của gió thì nồng độ độc hại đạt tới giá trị cao nhất –
bởi vì như công thức [4-7] trên đây thì thừa số luôn luôn nhỏ hơn hoặc bằng 1.0
khi nào Y = 0 thì nó sẽ là 1.0
y
y
Trang 8Hình 1: Hệ thống tọa độ biểu thị sự phân bổ Gauss theo phương thẳng đứng và
Trang 9Theo Pasquill, độ ổn định của khí quyển được chia thành 6 cấp khác
nhau: A, B, C, D, E, F (hoặc 1, 2, 3, 4, 5, 6) tùy theo tốc độ gió, bức xạ mặt trời
ban ngày hoặc độ mây ban đêm (xem bảng 1)
Bảng 4-1 – Phân cấp độ ổn định của khí quyển
Vận tốc gió M/s Mức độ bức xạ mặt trời Độ mây ban đêm
Ở độ cao
10 m Mạnh >60o C 35-60Vừa o C 15-35Yếu o C >5(mức thấp) 10 (chung) (mức thấp) <4
- Càng lên cao nhiệt độ càng giảm (thường gặp) ta có chế độ không ổn
định về khuếch tán
- Ngược lại, nếu càng lên cao nhiệt độ càng tăng ta có chế độ ổn định về
khuếch tán;
- Trung tính là khi gradt =-1oC/100m
2.2.2 – Phương pháp Berliand
Đặc điểm của phương pháp Berliand là tính toán sự phân bố nồng độ các
chất độc hại (kể cả khí và bụi) do quá trình khuếch tán gây ra từ nguồn điểm
cao (ống khói) theo vận tốc gió nguy hiểm
Nồng độ các chất khí và bụi trong không khí trên mặt đất dọc theo trục
gió hoặc tại tọa độ (x,y) bất kỳ (mà trục x là trục trùng với hướng gió) gây ra
bởi khí thải từ ống khói được xác định theo các công thức cho ở bảng sau đây
(bảng 2)
Trang 10Hình 4-3
Trang 11Hình 4-4
Trang 12Bảng 4-2 – Công thức tính toán theo mô hình Berliand
Công thức tính toán
Thứ
tự Đại lượng tính toán Đơn vị Đối với nguồn nóng f<
100 m/s 2 o C và Δt > 0 Đối với nguồn lạnh f > 100 m/s 2 o C và Δt < 0
1 Nồng độ cực đại của khí
độc hại trên mặt đất mg/m
3
3 Nồng độ cực đại của khí
độc hại trên mặt đất dọc
theo trục x
mg/m 3
C x = S 1 C m
4 Nồng độ cực đại của khí
độc hại trên mặt đất ở tọa
độ x,y
mg/m 3
C y = S 2 C x
5 Khoảng cách từ ống khối
đến điểm có nồng độ cực
đại
M
X m = d H
6 Thông số f – tiêu chuẩn
phân biệt nguồn nóng và
U m = 0,5
U m = V m
3 65 0
H
t L
Δ
3 , 1
=
3
8
.
H LH
Dn F M A
3
.
t L H
n m F M A
t H
D w
V
Trang 13Trong các công thức trên:
A – Hằng số địa lý phụ thuộc vào sự phân tầng khí quyển Theo tác giả
Nguyễn Cung, đối với nước ta có thể lấy A = 240;
M – Lượng chất độc hại thải ra trong đơn vị thời gian mg/ s
L – Lưu lượng khí thải (m3/s);
H, D – Chiều cao và đường kính miệng ra của ống khói, m;
Δt – Chênh lệch nhiệt độ khí thải và môi trường xung quanh;
F – Chỉ số về khí, bụi;
- Đối với khí: F = 1
- Đối với bụi: F = 2 khi có lọc bụi với hiệu suất > 90%
F = 2,5 khi có lọc bụi với hiệu suất > 90%
F = 2 khi có lọc bụi với hiệu suất < 75%
Hoặc không có hệ thống lọc bụi
M, n, d, s1, s2 – Các hệ số cho dưới dạng biểu đồ và đã được nhiều chuyên gia
chuyển thành dạng công thức phụ thuộc vào các thông số Vm, f, x/xm, và Um;
m = f(f); n = f(Vm); d = f(Vm, f); s1 = (x/xm); s2 = (Um , y2/x2)
2.3 – Độ dựng ống khói Δh và chiều cao hữu dụng H
Do khí thải có nhiệt độ cao hơn nhiệt độ không khí ngoài trời, vì vậy khí
thải có chiều hướng bay cao hơn so với miệng ống khói trước khi phát tán vào
không khí như hình 1
Độ dựng ống khói luôn tỷ lệ thuận với nhiệt độ khí thải và tỷ lệ nghịch
với tốc độ gió
[4-12]
Công thức tính chiều cao hữu dụng cột khói theo Bosanquet
He = Ho + α (Hm + Ht)
He = h + α (Δh)
Ơû đây: Ho – Chiều cao thực (chiều cao vật lý) của ống khói, m;
α – Hệ số kinh nghiệm;
Hm – Độ nâng của cột khói do tác động của vận tốc khói thải tại
miệng ống khói
Ht – Độ nâng của cột khói do tác động chủ yếu của chênh lệch nhiệt
độ giữa khói thải và môi trường khí quyển
U f