Nguyên tắc của phương pháp này là liệt kê thành danh mục tất cả những nhân tố môi trường liên quan đến hoạt động phát triển được đem ra đánh giá.. Đáng giá mức độ tác động Tác động của
Trang 1CHƯƠNG II
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
MÔI TRƯỜNG
I Phương pháp danh mục các điều kiện môi trường
Phương pháp danh mục các điều kiện môi trường hoặc gọi tắt là phương
pháp danh mục (Checklist method) được sử dụng rất phổ biến từ trước những
năm 1970 cho tới nay Nguyên tắc của phương pháp này là liệt kê thành danh
mục tất cả những nhân tố môi trường liên quan đến hoạt động phát triển được
đem ra đánh giá Danh mục đó sẽ được gởi tới các chuyên gia để từng người
cho ý kiến sau đó tổ chức đánh giá sẽ tổng hợp lại thành kết luận chung Ý kiến
đánh giá cũng có thể do các tập thể liên ngành thảo luận và đi đến đánh giá
chung
Có thể phân biệt những loại danh mục sau đây:
1 Danh mục đơn giản: chỉ liệt kê các nhân tố môi trường cần được xem xét
tương ứng với một loại hình hoạt động phát triển Ví dụ: danh mục ĐTM của
công trình giao thông, của chương trình khai hoang…
2 Danh mục có mô tả: cùng với việc liệt kê các nhân tố môi trường, có
thuyết minh về sự lựa chọn các nhân tố đó, phương pháp thu thập các số liệu
được ghi vào danh mục
3 Danh mục có ghi mức độ tác động với từng nhân tố môi trường (Scanling
checklist): bên cạnh phần mô tả có ghi mức độ tác động của hoạt động phát
triển tới từng nhân tố
4 Danh mục có xét độ đo của tác động (Weighting checklist): bên cạnh phần
mô tả có ghi thêm độ đo của tác động do hoạt động phát triển tới từng nhân tố
môi trường
5 Danh mục dạng câu hỏi (Questionnaires checklist): bao gồm những câu
hỏi liên quan đến những khía cạnh môi trường cần đánh giá
Sau đây là một số ví dụ đơn giản về phương pháp danh mục (xem bảng 2.1
và 2.2)
Trang 2
Bảng 2.1 Danh mục tác động đến môi trường của một công trình đường ô-tô
Chú thích: NH = ngắn hạn; DH = dài hạn; L = lớn; BT = bình thường; DD = đảo lại
được; KD = không đảo lại được; DP = địa phương; RL =rộng lớn
Bảng 2.2 Trích dẫn danh mục tác động môi trường của một công trình tưới cho
nông nghiệp (theo hướng dẫn của Ngân hàng Phát triển Châu Á, 1987)
Đáng giá mức độ tác động
Tác động của hoạt
động phát triển Tổn hại đến tài nguyên môi trường
Biện pháp bảo vệ tài nguyên
a) Do vị trí công trình
- Mất rừng
- Ngăn cản sự đi lại
của người, động vật
- Xung đột quyền lợi
vì nước
- Mất tài nguyên
- Đảo lộn đời sống của nhân dân,động vật
- Bất bình đẳng xã hội
- Chú ý trong thiết kế
- Chú ý trong thiết kế
- Chú ý trong thiết kế và quản lý
X
X
X
Chú thích: DK = đáng kể; KDK = không đáng kể
Tại một số nước, việc soạn thảo danh mục tác động môi trường đã được
đưa vào máy tính Chương trình máy tính sẽ tự động lập danh mục các nhân tố
Tác động tích cực Tác động tiêu cực
TT Đối tượng chịu tác động
kể
kể
Trang 3môi trường cần được xem xét lúc ta đưa vào máy tính các tính chất của loại hình
hoạt động phát triển cần được đánh giá Chương trình còn có khả năng xác định
các tác động có thể xảy ra, mức độ các tác động đó, lúc biết được những dự
kiến ban đầu về hoạt động phát triển (Westman, Walter E,1985)
Việc tổng hợp ý kiến chuyên gia thường được tiến hành theo các phương
pháp thông thường về chỉnh biên số liệu điều tra theo ý kiến chuyên gia
Thí dụ trong ĐTM của một hệ thống công trình thủy lợi, nhân tố môi
trường có thể được xếp thành từng nhóm Rừng cây, động vật quí hiếm, chất
lượng không khí, chất lượng nước, phong cảnh, v.v… là những nhân tố ảnh
hưởng Hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái dưới nước, điều kiện sức khỏe con
người, v.v… là những nhóm ảnh hưởng Mỗi nhân tố và mỗi nhóm được qui định
một tầm quan trọng bằng một số điểm tính từ 0 cho đến một mức nào đó do tổ
chức ĐTM xác định
Tổng tác động của một hoạt động phát triển đến môi trường được tính
theo công thức sau
Trong đó: Vi1 là trị số nhân tố môi trường lúc dự án hoạt động thực hiện
Vi2 là trị số chất lượng môi trường lúc không thực hiện dự án
Wi là tầm quan trọng của nhân tố trong môi trường tính theo qui
điểm qui ước
Có thể dùng công thức 2.1 để tính và so sánh tác động môi trường của
những phương án khác nhau cho một hoạt động phát triển Có thể nói rằng với
phương pháp này ta đã xem những nhân tố môi trường được liệt kê ra là những
thuộc tính (attributes) của môi trường, những thay đổi của các thuộc tính ấy cho
ta những số chỉ thị (indicators) về những diễn biến của môi trường
Phương pháp danh mục có những ưu nhược điểm sau:
- Ưu điểm: đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, nếu người đánh giá nắm vững nội
dung hoạt động phát triển
- Nhược điểm: mang tính chủ quan, cảm tính về tầm quan trọng, về cấp độ,
điểm số, v.v… và do đó kết quả đánh giá hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố
khách quan
II Phương pháp ma trận môi trường
Phương pháp ma trận môi trường gọi tắt là phương pháp ma trận (matrix
method) phối hợp liệt kê các hành động (action) của hoạt động phát triển với
liệt kê từng nhân tố môi trường có thể bị tác động vào ma trận Hoạt động liệt
kê trên trục hoành, nhân tố môi trường được liệt kê trên trục tung, hoặc ngược
lại Cách làm này cho phép xem xét các quan hệ nhân – quả của những tác
động khác nhau một cách đồng thời Thông thường việc xem xét chung dựa trên
Trang 4sự đánh giá định lượng các tác động riêng lẻ đối với từng nhân tố Phương pháp
ma trận được sử dụng cụ thể bằng:
1 Phương pháp ma trận đơn giản (simple interaction matrix) Trục hoành
ghi các hành động, trục tung ghi các nhân tố môi trường Hành động nào
có tác động đến nhân tố môi trường nào thì người đánh giá đánh dấu (×)
để biểu thị các tác động, nếu không thì thôi Có thể xem phương pháp
này là một dạng danh mục môi trường cải tiến, đồng thời xem xét nhiều
tác động trên cùng một tài liệu
2 Phương pháp ma trận có định lượng (quantified matrix) hoặc định cấp
(graded matrix) Trên các ô của ma trận không chỉ ghi có hay không có
tác động, mà phải ghi mức độ và tầm quan trọng của tác động Theo qui
ước của Leopold, người đầu tiên đề xuất phương pháp ma trận vào năm
1971, thì mức độ tác động (impact) được đánh giá theo 10 cấp Tầm quan
trọng của nhân tố môi trường cũng được ghi theo 10 cấp: hết sức quan
trọng được điểm 10, ít quan trọng nhất là điểm 1 Việc cho điểm đều dựa
vào cảm tính của cá nhân hoặc của nhóm chuyên gia đánh giá
Bảng 2.3 trình bày một thí dụ cụ thể về sử dụng phương pháp ma trận có
định lượng
Tầm quan trọng của các nhân tố môi trường đối với từng hoạt động phát
triển được xác định bằng cách lấy ý kiến chuyên gia, dựa theo ma trận tương
tác giữa các nhân tố môi trường với nhau Một nhân tố nào có khả năng tác
động đến nhiều nhân tố khác thì được xem là quan trọng hơn những nhân tố ít
ảnh hưởng đến các nhân tố khác (Ví dụ khi tích nước vào hồ chứa sẽ dẫn đến
bồi lắng, nước dâng, biến đổi chất lượng nước trong hồ, góp phần thay đổi vi
khí hậu… xói lở hạ lưu công trình)
Mức độ tác động đến chất lượng chung của môi trường của từng nhân tố
được biểu thị bằng mối quan hệ giữa độ đo của nhân tố với chỉ tiêu về chất
lượng môi trường
Bảng 2.3 thí dụ về ĐTM theo ma trận cho một dự án cải tạo thành phố
(theo Westman, Walter E,1985)
Trang 5Ma trận ĐTM nổi tiếng nhất là ma trận do Leopold kiến nghị dùng để
đánh giá các công trình xây dựng Trên trục hoành liệt kê 100 loại hành động
khác nhau của hoạt động phát triển, trên tung độ là 88 nhân tố môi trường tự
nhiên và xã hội Mức độ tác động của các hành động được cho điểm 1 cho đến
điểm 10 với dấu (+) cho các tác động tích cực, dấu (–) cho các hoạt động tiêu
cực Leopold đề nghị tính toán hai tính chất “mức độ tác động” (magnitude) và
“tầm quan trọng” riêng cho từng tác động Mức tác động chỉ cho biết rằng tác
động đó lan tới đâu, ảnh hưởng sâu sắc đến thế nào Tầm quan trọng nói lên
Các hành động có tác động đến môi trường Thi công Chuyển tiếp Sau khi đã hoàn thành đem vào sử dụng
Chú thích
kr: không rõ tác động
o: không tác động
+: tác động tích cực
++: tác động rất tích cực
-: tác động tiêu cực
- - : tác động rất tiêu cực
Các nhân tố môi trường
Nhân tố vật lý:
Địa chất,thổ nhưỡng
Cống rãnh,vệ sinh
Cấp nước
Cây xanh
Động vật
Chất lượng không khí
Sử dụng đất lân cận
Thoát nước mưa
kr
kr
kr
kr ++
- -
kr
- - ++
-
-
o ++
++
kr
- +
- + ++
+
kr
kr ++
kr
kr
kr
o + +
o
o
o Nhân tố xã hội
Trang 6động có thể tiến hành một cách thực nghiệm khách quan Cho điểm về tầm
quan trọng mang tính chủ quan, ước đoán
Bảng 4 là một thí dụ về ma trận có ghi mức độ tác động và tầm quan trọng
của tác động
Bảng 4: Thí dụ về ma trận tác động đến môi trường của hồ chứa nước (theo
Iohani, 1982)
Chú thích: Trong mỗi ô ma trận, tử số chỉ mức độ tác động (magnitude) của
hành động đến nhân môi trường tương ứng, điểm cho từ 1 đến 10; mẫu số chỉ tầm quan
trọng của tác động đó, điểm cho từ 1 đến 10 Tổng số trên cột cuối chỉ mức tác động
tổng hợp của hoạt động phát triển đối với từng nhân tố môi trường Tổng số trên hàng
chỉ tác động của từng hành động đối với chất lượng chung về môi trường
Phương pháp ma trận tương đối đơn giản, nhưng có những ưu nhược điểm
sau:
- Ưu điểm: không đòi hỏi quá nhiều số liệu về môi trường, sinh thái, cho
phép phân tích một cách rõ ràng tác động của nhiều hành động khác nhau
lên cùng một nhân tố
- Nhược điểm:
+ Chưa xét đến tác động qua lại giữa các tác động với nhau
+ Chưa xét được diễn biến theo thời gian của các tác động, chưa phân biệt
được tác động lâu dài với tác động tạm thời
Ô nhiễm hạ lưu
Kinh tế-xã hội
4/6 3/4
7/7
4/2 2/5
6/7
5/8 3/6 8/8 7/6 7/8
6/5 6/6
4/7 3/7 2/4 2/5
6/5 5/5
7/8
24/35 14/22 12/14 14/12 16/19 7/8 4/2 4/10 6/5
Trang 7Bảng 5 thí dụ so sánh hai phương án xây dựng và bảo quản một sân bay (theo
Động vật hoang dại
Chỉ tiêu tổng hợp = -98
Xây dựng hoạt động quản lý
Phương án 2
Chất lượng không khí
Nhân tố môi trường Cây xanh
Động vật hoang dại Chỉ tiêu tổng hợp = +9
Chú thích: Số góc ở bên trái mỗi ô trên ma trận biểu thị mức độ tác động (magnitude)
của hành động: số bên góc phải biểu thị tầm quan trọng (importantce) được qui định
cho tác động đó Chỉ tiêu tổng hợp cũng để so sánh phương án là tổng đại số các tích
số mức độ x tầm quan trọng trong tất cả các ô
Phương pháp ma trận môi trường có những ưu nhược điểm sau đây:
- Ưu điểm: Đã đi sâu hơn về định lượng cho những tác động môi trường
3 -1
Trang 8- Nhược điểm:
+ Việc xác định tầm quan trọng của nhân tố môi trường, chỉ tiêu chất
lượng môi trường còn mang tính chủ quan
+ Việc qui tổng tác động của một phương án vào một số không giúp ích
thiết thực cho việc ra quyết định
+ Sự phân biệt khu vực tác động, khả năng tránh, giảm các tác độntg
không thể biểu hiện trên ma trận
Do những nhược điểm nói trên của phương pháp ma trận, nên người ta đã
cải tiến phương pháp đó, theo hướng không tổng hợp các tác động, mà xét các
tác động riêng với nhau (disaggregated method) Điển hình của phương pháp
này là phương pháp đánh giá tài nguyên nước, gọi tắt là WRAM (Water
Resources Assessment Methodology) Nó khác biệt với phương pháp ma trận
thông thường là các chỉ số chất lượng môi trường, mức độ tác động, tầm quan
trọng được xét theo từng dự án cụ thể, bởi những chuyên gia quen thuộc với
những dự án cùng loại và điều kiện địa phương Các số nói trên được biểu thị
bằng số tương đối Số đo từng tác động được giữ riêng để xét để xét các
phương án có tính đến sự né tránh hoặc hạn chế các tác động tiêu cực Tuy
nhiên, phương pháp này cũng không thể khắc phục trọn vẹn các nhược điểm
đã nói trên
Để khắc phục những nhược điểm của phương pháp ma trận, ở Canada đã
đề xuất một kiểu ma trận mới là ma trận có các thành phần tương tác
(Component Interaction Matrix) Cùng với ma trận như ma trận của Leopold
với danh mục khác về hành động và nhân tố môi trường với nhau (cả tung độ
và hoành độ điều liệt kê các nhân tố môi trường) để xác định những nhân tố
môi trường nào có ảnh hưởng nhiều nhất đến các nhân tố khác, từ đó xác định
tầm quan trọng của nó, sử dụng các phép tính đại số tuyến tính với những tư
liệu như nói trên có thể tính ra được các tác động thứ cấp
III Phương pháp chập bản đồ môi trường
Phương pháp này sử dụng những bản đồ thể hiện những đặc trưng môi
trường trong khu vực nghiên cứu vẽ trên giấy trong suốt (papier calque) Mỗi
bản đồ diễn tả những khu vực địa lý với những đặc trưng đã xác định được qua
tài liệu điều tra cơ bản Thuộc tính của đặc trưng môi trường được biểu thị
bằng cấp độ
Thí dụ: vùng ô nhiễm vừa tô màu nhạt; vùng ô nhiễm nặng tô màu sẫm
hơn Độ dốc mặt đất chẳng hạn có thể ghi thành 5 mức đậm nhạt khác nhau
Để xét sự thích hợp của việc sử dụng đất đai tại nơi nghiên cứu vào một mục
đích nào đó, thí dụ trồng một loại cây, ta chập những bản đồ liên quan lại với
nhau Tổ hợp độ đậm nhạt hoặc màu sắc cho phép nhận định một cách tổng
hợp và nhanh chóng về sự thích hợp của từng khu vực trên bản đồ
Phương pháp chập bản đồ đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, kết quả xem xét
thể hiện trực tiếp hình ảnh, thích hợp với việc đánh giá các phương án sử dụng
Trang 9đất Tuy nhiên, nó cũng có những nhược điểm: thể hiện thiên nhiên và môi
trường quá khái quát, đánh giá cuối cùng về tổng tác động phụ thuộc nhiều
vào chủ quan của người đánh giá
Dựa trên nguyên tắc chập bản đồ, gần đây nhiều nước đã sử dụng “Hệ
thống Thông tin Địa lý” (GIS) trên máy tính, cho phép tổng hợp và so sánh
các tổ hợp các điều kiện thiên nhiên và môi trường tại một điểm với rất nhiều
thông số những độ đo chi tiết
Bảng 6: thí dụ về sử dụng phương pháp chập bản đồ để đánh giá sự tích hợp
của phương án sử dụng đất (theo Orterano, Leonard,1984)
c Xác định tọa độ của khu vực nghiên cứu ký hiệu khu vực
Hoành độ
thấp vừa cao thấp
Trang 10f Xác định hệ số quan trọng của nhân tố
Hệ số cho độ dốc = 2 Hệ số cho vẻ đẹp = 1
g Kết quả ĐTM: điểm số cuối cùng cho mỗi khu vực đánh giá
Tốt nhất: khu (1,1)
Xấu nhất: khu (1,2)
Hình 1: Thí dụ về kết quả dùng phương pháp chập bản đồ để xác định vùng đất
thích hợp với các loại cây trồng (theo Mellarg, 1969)
Chú thích: Đất trồng cây công nghiệp dài ngày, ít cần chống
xói mòn Đất có khả năng khai thác nông nghiệp, nhưng phải chú ý chống xói mòn
Đất trồng rừng, không được khai thác nông nghiệp
Trang 11Hình 2: Thí dụ đơn giản hóa về sơ đồ phân tích TĐTM của hoạt động nạo vét
lòng sông (phỏng theo Sorensen, 1971)
Bồi lắng
bùn cát Vận tải thủy trên sông khoáng sản Khai thác phát triển Rong rêu Chất lượng nước bãi tắm Cải tạo
Nạo vét lòng sông
Thay đổi địa hình lòng sông
Cung cấp
vật liệu
xây dựng
Tăng độ sâu hàng vận
Tạo luồng lạch mới
Xáo trộn bùn cát nơi cư trú Cải thiện
Cung cấp vật liệu xây dựng
Cung cấp vật liệu xây dựng
Cung cấp vật liệu xây dựng
Cung cấp vật liệu xây dựng
Thêm vật liệu xây dựng
Ổn định bờ biển
Thay đổi cảnh quan (KẾT QUẢ)
(Những tác động tích cực)
Trang 12IV Phương pháp sơ đồ mạng lưới
Phương pháp này có mục đích phân tích các tác động song song và nối
tiếp do các hành động của các hoạt động gây ra Sử dụng phương pháp mạng
lưới (Network method) trước hết phải liệt kê toàn bộ các hành động (action)
trong hoạt động (activity) và xác định mối quan hệ nhân quả giữa các hành
động đó Các quan hệ đó nối các hành động lại với nhau thành một mạng lưới
Trên mạng lưới có thể phân biệt được tác động bậc 1 do một hành động trực
tiếp gây ra, rồi tác động bậc 2 do tác động bậc 1 gây ra và lần lượt tác động bậc
3, bậc 4… Các chuỗi tác động đó cuối cùng dẫn về các tác động cuối cùng, hiểu
theo nghĩa là những sự việc có lợi hoặc có hại cho tài nguyên môi trường Do
nắm được quan hệ nhân quả và liên quan của nhiều hành động và tác động trên
mạng lưới, ta có thể dùng phương pháp này để xem xét các biện pháp phòng
tránh hoặc hạn chế các tác động tiêu cực đến tài nguyên môi trường
Phương pháp mạng lưới này phát sinh từ hhững kinh nghiệm nghiên cứu
về dòng năng lượng và cân bằng năng lượng trong các hệ sinh thái Sau đấy, nó
được vận dụng rộng rãi vào việc phát triển các vùng ven biển nhằm giải quyết
mâu thuẫn giữa các yêu cầu sử dụng của các ngành kinh tế khác nhau và ngăn
chặn xu thế thoái hóa tài nguyên tại các vùng này
Ưu điểm của phương pháp mạng lưới là cho biết nguyên nhân và con
đường dẫn tới những hậu quả tiêu cực tới môi trường, từ đó có thể đề xuất các
biện pháp phòng tránh ngay trong khâu qui hoạch, thiết kế hoạt động phát triển
Điều đáng tiếc là cho tới nay các sơ đồ mạng lưới chỉ chú ý phân tích các khía
cạnh tiêu cực Trên mạng lưới cũng không thể phân biệt được tác động trước
mắt và tác động lâu dài Phương pháp mạng lưới thích hợp cho phân tích tác
động sinh thái, do trên mạng lưới có thể biểu thị các dòng năng lượng có độ đo
chung, phương pháp này chưa thể dùng phân tích các tác động xã hội, các vấn
đề thẩm mỹ Thông thường phương pháp mạng lưới được dùng để ĐTM của
một dự án cụ thể, không thích hợp với một chương trình hoặc kế hoạch khai
thác tái nguyên của một địa phương
V Phương pháp mô hình
Phân chia phương pháp mô hình:
- Mô hình vật lý: mô hình cứng, mô hình động
Loại mô hình vật lý thường cho ta kết quả đáng tin cậy, có điều tiến trình rất
phức tạp và rất tốn kém Ngày nay người ta sử dụng để nghiên cứu về ĐTM Ví
dụ: mưa rào, dòng chảy, lũ quét… xói lở cục bộ
- Mô hình toán:
Phương pháp dùng mô hình toán học để ĐTM đã được sử dụng nhiều
trong thời gian gần đây Theo phương pháp này, trước hết phải có mô tả thích
hợp hoạt động, trình tự diễn biến các hoạt động đó Tiếp đó là thành lập các
quan hệ định lượng giữa các hành động đó đối với các nhân tố môi trường cũng
như giữa các nhân tố môi trường với nhau Trên cơ sở những sự chuẩn bị đó,
Trang 13xây dựng mô hình toán học chung cho toàn bộ hoạt động, phản ánh cấu trúc và
các mối quan hệ trong mô hình Mô hình cho phép ta dự báo các diễn biến có
thể xảy ra của môi trường, lựa chọn được các chiến thuật và các phương án
khác nhau để đưa môi trường về trạng thái tối ưu và dự báo tình trạng của môi
trường tại những thời điểm và trong điều kiện khác nhau của hoạt động
Phương pháp này cần thực hiện bởi những nhóm chuyên gia liên ngành
Những chuyên gia này cùng nhau xây dựng mô hình, xác định mối quan hệ
trong mô hình, giả định các chiến lược, chiến thuật khác nhau để điều khiển
hành động Cho mô hình vận hành để nhận các kết quả và tiếp tục điều chỉnh,
thử nghiệm cho đến khi đạt kết quả mong muốn Phương pháp này không những
chỉ dùng để ĐTM, mà còn được sử dụng rộng rãi để qui hoạch và quản lý môi
trường
Phương pháp này thường đòi hỏi kinh phí lớn, nhiều tài liệu đo đạc về
môi trường, nhiều chuyên gia tham gia, các tập thể khoa học liên ngành, v.v…
Trong đánh giá tác động môi trường các dự án phát triển tài nguyên nước
tùy theo những nhân tố tác động đến môi trường mà sử dụng các loại mô hình
toán khác nhau Ví dụ như:
- Mô hình TANK, MIKE 11… dùng nghiên cứu sự biến đổi dòng chảy
- Mô hình MIKE 21 nghiên cứu dự báo diễn biến dòng sông, dự báo
ngập lụt…
- Mô hình MIKE BASIN nghiên cứu ảnh hưởng các công trình thủy lợi
đến dòng chảy… trên lưu vực sông Đồng Nai
Thực tế hiện nay có nhiều người vẫn chưa tin kết quả từ mô hình toán
nhưng cũng có người lại lý tưởng hóa kết quả đem lại từ mô hình Nhưng dù sao
nếu như điều kiện biên, tài liệu đầu vào tốt… thì sẽ cho ta những kết quả đáng
tin cậy Hiện nay nhiều phần mềm đã được xây dựng hoặc mua từ nước ngoài
đã giúp ích cho chúng ta rất nhiều trong công tác ĐTM như mô hình lan truyền
chất ô nhiễm trong không khí và nước… mô hình tính toán chi phí lợi ích mở
rộng của những dự án kinh tế…
Ví dụ gần đây các cơ quan nghiên cứu thủy lợi nước ta sử dụng nhiều mô
hình toán để:
-“Nghiên cứu giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn nước tương thích
các kịch bản phát triển công trình thượng lưu để phòng chống hạn và xâm nhập
mặn ở ĐBSCL”
-“Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ xây dựng hệ
thống đê bao, bờ bao nhằm phát triển bền vững vùng ngập lũ ĐBSCL”
-“…Đánh giá tác động dòng chảy dưới tác động các công trình thượng
nguồn và khai thác hạ du…”
Những vấn đề cần hết sức chú ý khi sử dụng mô hình toán khi tính lũ ở
ĐBSCL là khi lũ tràn đồng thì dòng chảy không còn là dòng chảy một chiều
nữa… Hoặc hệ thống cao độ các nơi ở ĐBSCL đã ổn định chưa? Sự kết nối cao
Trang 14độ giữa VN và nước bạn Campuchia đã thống nhất chưa? Điều này ảnh hưởng
rất lớn đến đường cong mặt nước giữa 2 quốc gia!
VI Những chỉ tiêu kinh tế - tài chính thường sử dụng trong đánh giá tác
động môi trường
Khái niệm chung: Phân tích kinh tế – Tài chính thực chất là hai phương án phân
tích chi phí và hiệu quả của dự án
- Phân tích tài chính: Chủ yếu tập trung vào thị trường giá cả dòng
lưu thông tiền tệ và khoản huy động vốn, đảm bảo vốn cho dự án
- Phân tích kinh tế: Là phân tích tài chính khi kể đến toàn bộ các chi
phí và lợi ích của dự án mang lại có thể kể đến về mặt xã hội và môi trường cho
dù ảnh hưởng của dự án đến môi trường và xã hội không được phản ánh cụ thể
trên thị trường Do đó phân tích kinh tế còn được gọi là phân tích chi phí lợi ích
mở rộng Phân tích kinh tế là phương pháp đang được sử dụng rộng rãi ở nước ta
khi đang tiến hành ĐTM… Việc phân tích chi phí lợi ích phải được tính toán
trước khi thực hiện dự án, nó giúp cho những nhà quyết định có thêm cơ sở để
tính toán xem có nên thực hiện dự án hay không…
1 Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích mở rộng
A Khái niệm chung
Phương pháp này sử dụng các kết quả phân tích tác động môi trường của
dự án, từ đó đi sâu vào mặt kinh tế môi trường Khi ứng dụng phương pháp,
ngoài phân tích các chi phí và lợi ích mang tính kỹ thuật mà dự án mang lại,
phương pháp còn phân tích các chi phí và lợi ích và mà những biến đổi về tài
nguyên và môi trường do dự án tạo nên
Lợi ích và chi phí ở đây hiểu theo nghĩa rộng hơn các lợi ích chi phí trong
tính toán kinh tế của dự án đơn thuần Nó không chỉ bao gồm các lợi ích và chi
phí về mặt kinh tế mà còn bao gồm cả các chi phí và lợi ích về xã hội, tài
nguyên môi trường nên gọi là phương pháp phân tích lợi ích – chi phí mở rộng
Phương pháp phân tích lợi ích – chi phí mở rộng thường dùng trong giai
đoạn đánh giá tác động môi trường đầy đủ
B Nội dung phương pháp
Nội dung của phương pháp bao gồm các bước sau:
ª Liệt kê các tài nguyên được sử dụng của dự án (kể cả nhân lực) Liệt kê các
sản phẩm thu được (kể cả các phế thải có tái sử dụng)
ª Xác định tất cả các hành động tiêu thụ hoặc làm suy giảm tài nguyên kể cả
hoạt động sản xuất, gây ô nhiễm Liệt kê tất cả những khía cạnh có lợi cho
tài nguyên chưa được xem xét trong dự án, các khả năng nâng cao hiệu quả
sử dụng tài nguyên…
Trang 15ª Liệt kê những việc cần bổ sung vào dự án để sử dụng hợp lý và phát huy tối
đa khả năng của tài nguyên và bảo vệ môi trường
ª Từ các kết quả phân tích nêu trên, tính toán chi phí và lợi ích của dự án
(trong đó chi phí và lợi ích đều xét cả khía cạnh môi trường) và đánh giá
hiệu quả kinh tế của các phương án qua đó nêu lên ý kiến về phương án tốt
nhất
Các bước cụ thể của mục này như sau:
a – Tính toán các chi phí của dự án bao gồm:
- Chi phí đầu tư ban đầu của dự án (khảo sát, thiết kế, xây dựng các hạng
mục…)
- Các chi phí cơ hội và chi phí thay thế (gồm các chi phí do tổn hại tài
nguyên môi trường…)
- Các chi phí ngoại lai (gồm các chi phí chi xử lý, giảm thiểu, bù đắp
thiệt hại về môi trường của dự án…)
b – Tính toán các lợi ích của dự án bao gồm:
- Lợi ích trực tiếp từ sử dụng tài nguyên (cung cấp nước, thủy điện,
chống lũ cho vùng hạ lưu…)
- Lợi ích do sự phát triển các ngành công nghiệp, nông nghiệp nhờ có dự
án, từ các ngành khác như thủy sản, giao thông hạ lưu, du lịch và các
dịch vụ khác
- Lợi ích từ ổn định xã hội như tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống,
sức khoẻ cộng đồng…
Tất cả các chi phí và lợi ích cần được cố gắng quy đổi về một mặt bằng
giá của thời điểm hiện tại
c – Tính toán và phân tích hiệu quả kinh tế của dự án:
Sau khi xác định được các giá trị lợi ích, chi phí của dự án, bước cuối
cùng là đánh giá hiệu quả kinh tế của phương án trên cơ sở quy đổi các giá trị
chi phí và lợi ích trên cùng mặt bằng giá cả tại thời điểm hiện tại và tính toán
các chỉ tiêu kinh tế của dự án như giá trị lợi nhuận ròng (NPV), thời gian hoàn
vốn của dự án
+ Chi phí của dự án Cr (bằng tiền) (Cost : C)
+ Lợi ích của dự án Br (bằng tiền) (Benefit : B)
+ Lợi nhuận tuyệt đối:
Trang 16CT – giá trị chi phí được tính ra tiền ở năm T;
T – thời gian (năm), với dự án Phát triển tài nguyên nước có thể lên tới
50 năm và hơn;
R – hệ số chiết khấu được tính theo % năm…
+ Tính toán hiệu quả dự án: (Net Present Value – Giá trị hiện tại ròng)
Khi xây dựng dự án có nhiều phương án khác nhau, lựa chọn phương án
nào cho là lợi nhuận ròng mà dự án thu được đạt giá trị tối đa, biểu thị qua chỉ
số lợi nhuận ròng NPV của phương án lựa chọn phải cực đại NPV tính theo
+ Xác định thời gian hoàn vốn của dự án:
Đó là thời điểm mà tổng giá trị hiện tại thực của lợi ích bằng tổng giá trị
hiện tại thực của chi phí cho dự án, tức là:
Hình 3: Quan hệ giữa chi phí, thu nhập và thời gian xây dựng công trình
Giá trị T thỏa mãn tổng trên bằng 0 là thời gian hoàn vốn Điểm hoàn
vốn thường không trùng với điểm kết thúc dự án
Nhận xét:
• Thời gian hoàn vốn càng dài, nguy cơ mất an toàn của công trình càng lớn
bởi lẽ quan hệ giữa tần suất phá hoại (A) và tần suất thiết kế (P) cùng số
năm khai thác công trình (n) có thể biểu diễn bằng công thức:
Trang 17• Phương án phân tích lợi ích – chi phí mở rộng dựa trên so sánh kinh tế môi
trường để đánh giá là một nguyên tắc hết sức đúng đắn
• Hạn chế của phương pháp là có những tác động môi trường mà chi phí và lợi
ích của nó không thể tính toán hoặc ước tính ra tiền được
• Không thể xét tất cả các TĐMT, nhất là những tác động mang tính lâu dài
hoặc gián tiếp, việc sử dụng phương án này cho các dự án có nhiều hạng
mục mà việc xác định tác động của chúng tới môi trường là khó khăn
• Trong tính toán chi phí – lợi ích, người ta tính tới chiết khấu đồng tiền nghĩa
là đồng tiền thu được trong tương lai sẽ chịu mức chiết khấu so với thời điểm
hiện tại Thời điểm hiện tại ở đây càng mang tính tương đối, thường được
chọn là thời gian dự án bắt đầu thi công hoặc bắt đầu hoạt động Trong
những năm cuối thế kỷ 20 ở Việt Nam sơ bộ chọn r = 10%
• Phân tích chi phí – lợi ích cần phải được tính toán trước khi thực hiện dự án,
điều này sẽ giúp cho các nhà ra quyết định có thêm cơ sở để tính toán xem có
nên thực hiện dự án hay không
• Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích cần phải tính toán toàn bộ thời gian
hoạt động của dự án Bởi vì trên thực tế có rất nhiều dự án chỉ có thể mang lại
lãi suất cao trong thời gian ngắn còn sau đó lại thua lỗ triền miên Vì vậy cần
tính toán cho đến hết tuổi thọ công trình thì ý nghĩa của nó mới to lớn
Mặt khác chính sự thiếu hiểu biết sâu sắc về giá trị cấp nước cho Bình
Thuận mà có người trong khi đánh giá kinh tế của dự án Đại Ninh với B/C =
0.99 nghĩa là dự án không kinh tế
Trong khi đó các nghiên cứu về quy hoạch bậc thang thủy điện Đồng Nai
đều xếp Đại Ninh vào loại dự án có hiệu quả kinh tế cao B/C = 2.97
Khoảng cách đánh giá một dự án từ hiệu quả kinh tế B/C = 2.97 đến hiệu
quả thấp B/C = 0.99 là một việc làm cần phải thận trọng trong khi tiến hành
ĐTM… Hoặc khi dùng phương pháp phân tích chi phí lợi ích mở rộng để đánh
giá các bậc thang trên sông Bé, nếu chỉ xét lợi ích về điện thì thì lợi ích do các
công trình Thác Mơ, Cần Đơn, Srok Phumieng… đem lại không lớn Nhưng thêm
công trình Phước Hòa tiếp nước cho Dầu Tiếng thì lợi ích lại rất lớn Vì ngoài
lợi ích về điện nói trên, Phước Hòa khi tiếp nước cho Dầu Tiếng sẽ tăng thêm
diện tích tưới, tham gia đẩy mặn, góp phần cấp nước sinh hoạt cho TP HCM Vì
vậy B/C sẽ rất lớn… Sau đây chúng ta có thể xem ví dụ về việc dùng phương
pháp phân tích chi phí lợi ích để tính toán cho công trình tưới đập dâng Thạch
Nham Quảng Ngãi