1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình đánh giá tác động môi trường ( PGS.TS. Hoàng Hư ) - Chương 1 pptx

12 942 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 142,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT VÀ PHIÊN ÂM TIẾNG NƯỚC NGOÀI - ADB: Ngân hàng Phát triển Châu Á - ĐTM: Đánh giá Tác động Môi trường Environmental Impact Assessment - UNEP: Chương trình Môi trường Li

Trang 1

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT VÀ PHIÊN ÂM

TIẾNG NƯỚC NGOÀI

- ADB: Ngân hàng Phát triển Châu Á

- ĐTM: Đánh giá Tác động Môi trường (Environmental Impact Assessment)

- UNEP: Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc

- Phương pháp danh mục (Checklist Method)

- WB: Ngân hàng Thế giới

- Danh mục có xét đến độ đo của tác động (Weighting Checklist)

- Danh mục dạng câu hỏi (Questionnaires Checklist)

- Danh mục có ghi mức độ tác động (Scanling Checklist)

- Phương pháp ma trận môi trường (Matrix Method)

- Hành động (action)

- Hành động trong hoạt động (activity)

- Phương pháp ma trận giản đơn (Simple Interaction Matrix)

- Ma trận có định lượng (Quantified Matrix)

- Phương pháp có xét đến các tác động riêng rẽ (Disaggreated Method)

- WRAM : Phương pháp đánh giá tài nguyên nước (Water Resources

Assessment Methodology)

- Ma trận có các thành phần tương tác (Component Interaction Matrix)

- Giấy trong suốt (Papier Calque)

- Hệ thống thông tin địa lý (GIS)

- Phương pháp mạng lưới (Network Method)

- PV: Giá trị hiện tại (Present Value)

- NPV: Lợi nhuận ròng quy về hiện tại (Net Present Value)

- IRR: Hệ số hoàn vốn nội tại (Internal Rate of Return)

- PTTNN: Phát triển tài nguyên nước

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Đánh giá tác động môi trường là ngành khoa học vô cùng mới mẻ không

những chỉ riêng nước ta mà ngay cả nhiều nước trên thế giới Ví dụ: Mỹ là một

trong những nước có trình độ khoa học phát triển nhanh, nhưng công tác đánh

giá tác động môi trường cũng chỉ mới hình thành từ năm 1969…

Nước ta trước năm 1984 thuật ngữ “Đánh giá tác động môi trường” (ĐTM)

là thuật ngữ ít người hiểu… Mãi cho đến năm 1985 những kiến thức cơ bản về

ĐTM bước đầu mới được áp dụng để góp phần vào nội dung: “Luận chứng kinh

tế kỹ thuật của công trình Thủy điện Trị An…”

Ngày 10-1-1994, chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam ký sắc lệnh ban

hành về việc Bảo vệ môi trường trong đó điều 18 qui định: “Tất cả các dự án

phát triển kinh tế xã hội đều phải đánh giá tác động môi trường và xây dựng

các phương án phòng chống ô nhiễm” Điều đó chứng tỏ công tác đánh giá tác

động môi trường thật sự đang và mãi mãi là một nội dung rất quan trọng trong

quá trình nghiên cứu để thực hiện các phương án phát triển kinh tế xã hội và đã

thực sự trở thành pháp lệnh của nước ta

Tuy nhiên, khoa học về đánh giá tác động môi trường vẫn là ngành khoa

học còn non trẻ, công tác đánh giá tác động môi trrường là một việc làm khá

phức tạp “đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ liên ngành giỏi với khuôn khổ

thể chế thích hợp, thông tin đầy đủ…” Cho nên công tác đánh giá tác động môi

trường còn phải không ngừng phấn đấu, tích lũy kinh nghiệm và tiếp thu những

thông tin khoa học kỹ thuật hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới, từ đó

mới đáp ứng kịp thời những đòi hỏi cấp thiết trong quá trình xây dựng và phát

triển đất nước…

Tập giáo trình Đánh giá tác động môi trường do tác giả biên soạn trên

cơ sở tập hợp những văn bản pháp qui có liên quan đến công tác bảo vệ môi

trường, thu thập những thông tin, những hướng dẫn về đánh giá tác động môi

trường của Bộ khoa học công nghệ và môi trường, những lý thuyết cơ bản có

liên quan đến đánh giá tác động môi trường trong lĩnh vực động lực học dòng

sông, trên lĩnh vực thủy lợi và năng lượng…

Trong quá trình viết nên giáo trình này, tuy tác giả đã nhận được sự giúp

đỡ nhiệt tình của nhiều cán bộ liên ngành, song vấn đề quá lớn và phức tạp nên

tồn tại, khiếm khuyết là điều không thể nào tránh khỏi, vì vậy rất mong bạn

đọc xa gần góp ý để tập giáo trình này ngày càng phục vụ nhiều bạn đọc hơn

Tháng 6-1999

Trang 3

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

I Khái niệm về đánh giá tác động môi trường

1 Định nghĩa:

Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là quá trình phân tích, đánh giá dự

báo ảnh hưởng đến môi trường của các dự án, các quy hoạch phát triển kinh

tế-xã hội và đề xuất các giải pháp thích hợp để bảo vệ môi trường

ĐTM không phải là thủ tục để ngăn cản hay hạn chế dự án phát triển mà

là nghiên cứu để làm cho việc chuẩn bị thực hiện dự án được hoàn chỉnh đầy đủ

hơn; nhằm đạt tới các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trước mắt và trong

tương lai không làm tổn hại đến lợi ích lâu dài Vì vậy ĐTM một trong những

công cụ góp phần cho sự phát triển bền vững…

Các nước phát triển về kinh tế đã vận dụng ĐTM từ những năm 70 Hiện

nay hầu hết các nước trên thế giới đều đưa ĐTM thành yêu cầu chính thức trong

việc xét duyệt các dự án phát triển Khái niệm ĐTM đã được đưa vào nước ta

từ năm 1985 và sau đó Nhà nước ta đã có quyết định ĐTM đối với các dự án

xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội quan trọng

Từ đó đến nay, khoa học về ĐTM ngày càng được quan tâm và đã có

những bước tiến đáng kể Năm 1994 bộ luật bảo vệ môi trường của nước ta đã

được quốc hội thông qua và chính phủ ra nghị định 175/CP về hướng dẫn thực

hiện luật bảo vệ môi trường (18/10/1994) Trong đó có điều khoản về việc

ĐTM của các dự án phát triển như điều 17-18 của luật bảo vệ môi trường và

chương 3 của nghị định 175/CP của chính phủ

ĐTM của các dự án phát triển luôn luôn phải là công trình nghiên cứu

liên ngành; trong đó các chuyên viên về môi trường phải kết hợp chặt chẽ với

chuyên viên lĩnh vực hoạt động cụ thể của dự án để tìm hiểu về dự án, điều tra

khảo sát hiện trạng môi trường, dự báo các diễn biến trong tương lai và đề xuất

các biện pháp xử lý…

2 Sự khác nhau giữa ĐTM và Luận chứng Kinh tế Kỹ thuật

Trước đây, khi đặt kế hoạch xây dựng các công trình hoặc những dự án

kinh tế chúng ta thường hay lập “Luận chứng kinh tế kỹ thuật” Mục đích của

Luận chứng kinh tế kỹ thuật nhằm làm rõ các vấn đề:

- Về kỹ thuật: có khả năng thực hiện dự án hoặc công trình đó không?

- Công trình xây dựng có đem lại hiệu quả kinh tế không – nhiều hay

ít, thời gian hoàn vốn bao lâu…

Luận chứng kinh tế kỹ thuật chưa đề cập đến những tác động của công

trình, của dự án làm ảnh hưởng đến điều kiện tài nguyên môi trường… không

quan tâm đến môi trường nhân văn Ví dụ không quan tâm đến phong tục tập

Trang 4

quán, đến bản sắc văn hóa, đến di tích lịch sử… đến thay đổi nghề nghiệp, đến

nếp sống của người dân trong vùng dự án

II Vài nét về lịch sử của Đánh giá Tác động Môi trường (sau này viết tắt

là ĐTM)

Năm 1969, một ủy ban khoa học về những vấn đề môi trường (The

Scientific Committee on Problem of the Environment: SCOPE) của Liên Hiệp

Quốc được thành lập nhằm mục đích:

- Nghiên cứu những kiến thức tiên tiến về ảnh hưởng của con người và

những hoạt động của họ đến môi trường, cũng như những ảnh hưởng

của môi trường đến con người, sức khỏe và lợi ích của họ Yêu cầu này

được đặt ra vừa có qui mô toàn cầu, vừa có tính chất quốc gia và khu

vực, vừa chính phủ vừa phi chính phủ

- Chương trình trung hạn đầu tiên của SCOPE là việc nghiên cứu khoa

học để mô phỏng hình mẫu ĐTM Với sự tài trợ của UNEP, UNESCO,

45 chuyên gia hàng đầu khắp thế giới đã cùng nhau nghiên cứu để tìm

các chủ đề và những khía cạnh của ĐTM

R E Munn là người đầu tiên đã nghiên cứu và cho xuất bản một chủ đề lấy tên

là “Environmental Impact Assessment” (EIA) và từ đó ĐTM được xem như là

phương pháp chủ yếu để giải quyết các vấn đề môi trường

- Năm 1979-1997 Hội đồng kinh tế Châu Âu cùng các chuyên gia của họ

đã nghiên cứu sâu hơn, trao đổi kinh nghiệm và đẩy mạnh việc ứng

dụng ĐTM ở các nước Châu Âu

- Nhưng một câu hỏi quan trọng đặt ra lúc bấy giờ là làm thế nào để có

nhận thức đầy đủ nhất, tổng hợp nhất những vấn đề liên quan đến môi

trường trong quản lý và qui hoạch phát triển kinh tế xã hội? Câu trả lời

đúng nhất cho vấn đề nêu trên là chỉ có ứng dụng phương pháp ĐTM

mà thôi

Theo chương trình môi trường của LHQ (UNEP), các dự án, chính sách, chương

trình sau đây là đối tượng cần thiết phải tiến hành công tác ĐTM:

a) Sử dụng và chuyển đổi đất đai như qui hoạch đô thị, công nghiệp, nông

nghiệp, sân bay, giao thông vận tải, hệ thống truyền dẫn, bãi tắm biển,

v.v

b) Khai thác tài nguyên: khoan thăm dò, khai thác mỏ, khai thác gỗ, nổ mìn,

đánh bắt thủy hải sản, săn bắn

c) Tái tạo tài nguyên: trồng rừng, quản lý đời sống hoang dại, kiểm soát lũ

lụt

d) Sản xuất chế biến nông sản, nông nghiệp, nông trại, cơ sở chăn nuôi, sản

xuất bơ sữa, thủy lợi

Trang 5

e) Công nghiệp: luyện kim, hóa dầu, lò nấu kim loại, bột giấy, nhà máy

giấy, v.v…

f) Giao thông vận tải: đường sắt, sân bay, bến tàu, đường ống, đường ô-tô,

v.v…

g) Năng lượng: các hồ thủy điện nhân tạo, đập, các nhà máy năng lượng:

nhiệt điện và năng lượng nguyên tử, dầu, v.v…

h) Các trạm xử lý nước thải gây ô nhiễm môi trường có vật chất độc hại,

nước ngầm, sinh hoạt

i) Xử lý hóa chất: thuốc trừ sâu, phân hóa học

j) Nghỉ ngơi, giải trí: các khu săn bắn, công viên, bờ biển, các đường đi

dạo, đường xe cộ, v.v…

III Việc thực hiện ĐTM ở một số nước trên thế giới

1 Ở Mỹ: ĐTM hay phân tích tác động môi trường ra đời từ những năm 1970

Để làm việc này có Tổ chức hoạt động chính sách môi trường Quốc gia

(National Environmental Policy Act: NEPA) và dưới có Hội đồng chất lượng

môi trường (Council on Environment Quality: CEQ) giúp các tổ chức này hoạt

động theo điều 02 qui định về ĐTM trong luật môi trường ở Mỹ

2 Ở Anh: Việc khai thác dầu mỏ và khí đốt ở miền Bắc Anh là khởi điểm việc

thực hiện ĐTM ở Anh Nhiều báo cáo thực hiện khác nhau, nhưng cuối cùng,

cách làm của Anh cũng tương tự như NEPA của Mỹ

3 Ở Canada: Việc ĐTM được tổ chức thành hai cấp: quốc gia và các bang,

hoạt động từ năm 1973 Tất cả các dự án đều phải ĐTM và phải được bộ Hải

sản và môi trường xem xét, phê duyệt

4 Ở Australia: Vấn đề ĐTM được đặt ra từ năm 1974 Mọi thủ tục ĐTM cho

các dự án được đặt ra nghiêm ngặt và đều do Bộ môi trường xem xét và phê

duyệt

5 Châu Âu : Ở Đức, Tây Ban Nha, Pháp, Đan Mạch, Hà Lan, v.v… công tác

ĐTM mang tính pháp lý nghiêm ngặt trong việc thực hiện các dự án phát triển

Hội đồng kinh tế Châu Âu đã có quan điểm thống nhất thực hiện ĐTM từ

tháng 10/1975

IV Đánh giá tác động lũy tích và phân tích tủi ro

1 Khái niệm:

Tác động môi trường lũy tích là những tác động đến môi trường gây ra

bởi những ảnh hưởng mà nếu xét riêng bản thân chúng thì nhỏ nhưng nếu gộp cả

lại thì sẽ vượt quá sức tải của môi trường có thể chịu đựng

Trên phạm vi toàn cầu, có hai ví dụ tốt nhất về những ảnh hưởng lũy tích

là sự nóng lên toàn cầu gây ra bởi những tác động tích lại của việc thải khí CO2

đi liền với việc sử dụng năng lượng cho sưởi ấm, vận tải và sự hủy hại tầng

Ozon chủ yếu do ảnh hưởng của quá trình sử dụng các sản phẩm có chứa CFCs

Trang 6

Mưa Axid cũng được coi là hậu quả của việc thải vào không trung các

chất SO2 và NOx

Có nhiều cách khác nhau để định nghĩa thế nào là ảnh hưởng lũy tích

trong lĩnh vực quản lý môi trường, tuy nhiên đặc điểm chung của những ảnh

hưởng này là sự tích lũy qua thời gian và không gian của nhiều tác động nhỏ lẻ

dẫn đến một tác động tổng hợp lớn hơn tất cả các tác động nhỏ lẻ cộng lại

Đặc điểm quan trọng thứ hai liên quan đến những hoạt động của con

người có ảnh hưởng đến môi trường, những hoạt động thường đựơc tiến hành từ

những quyết định ở phạm vi hẹp và có vẻ độc lập với nhau Hiện tượng này

từng được gọi là “Sự chuyên chế của các quyết định nhỏ hẹp” Trên thực tế, con

người thường có xu hướng bằng mọi giá thực hiện quyết định của riêng mình,

mà quyết định này bao giờ cũng nhỏ hẹp Những tác động sau này hoặc tác

động ở những nơi khác đến môi trường đương nhiên sẽ xảy ra ngoài sự quan

tâm của chính những người đã ra những quyết định và hành động nhỏ hẹp đó

2 Những phương thức hình thành tác động tích lũy

a) Bổ sung thường xuyên từ một quá trình theo 2 cách:

° Bổ sung

° Tương tác

b) Tổng hợp các ảnh hưởng từ hai hoặc nhiều quá trình

° Các tác động nhân lên

° Các quan hệ hiệp đồng (Synergistic)

3 Xác định và giảm thiểu các tác động tích lũy

Tác động tích lũy có thể tránh được bằng việc tiến hành tốt hơn quá trình

kế hoạch hóa Ví dụ kế hoạch hóa làm giảm sự nóng lên của khí hậu toàn cầu

là:

- Giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch

- Tìm nguồn năng lượng sạch để thay thế (năng lượng gió, mặt trời,

thủy triều…)

- Trồng rừng, chống tàn phá rừng

Nếu không thấy được những động khác đang diễn ra trong khu vực gây ra

cùng một tác động lũy tích thì rất khó có thể xác định được tác động lũy tích

của một dự án riêng lẻ Một quá trình kế hoạch hóa ở quy mô chung, rộng rãi,

tính đến các loại hoạt động trong khuôn khổ của nhiều dự án khác nhau trong

cùng khu vực có nhiều khả năng hơn trong việc nhận thức các tác động lũy tích

Một điều quan trọng khác là công tác kế hoạch cũng cho phép tính đến những

hoạt động tương lai sẽ diễn ra trong khu vực Các kế hoạch tổng thể là nguồn

quan trọng để cung cấp cho người đề xuất dự án cùng các bên có liên quan

những thông tin đó

Mục đích của các kế hoạch tổng thể là nhằm xác định các mục tiêu xã

hội, xem xét các hoạt động phát triển hiện hành, chỉ ra những ràng buộc và đề

xuất các kiến nghị về số lượng và loại hình hoạt động trong tương lai cần thiết

Trang 7

phải được tiến hành tại một khu vực, một quốc gia để đạt được mục tiêu đó

Các kế hoạch tổng thể này bao gồm:

° Các chiến lược bảo tồn thiên nhiên

° Kế hoạch quản lý tài nguyên

° Kế hoạch sử dụng đất một cách toàn diện

° Kế hoạch quản lý chất thải

4 Đánh giá rủi ro

Rủi ro được đề cập đến ở đây như là mức độ xác suất và tính nghiêm

trọng của một ảnh hưởng bất lợi có thể gây ra cho sức khỏe, tài sản hoặc môi

trường Như vậy, luôn luôn có một độ bất ổn nhất định gắn liền với các rủi ro

• Ví dụ năm 1989 do hỏng van khoan tràn, nước hồ Dầu Tiếng chảy

xuống hạ lưu với lưu lượng chỉ mới 300 m3/sec nhưng đã làm ngập

một vùng rộng lớn ven sông Sài Gòn do nước qua van hỏng tràn

xuống gặp lúc triều cao…

• Hoặc năm 1952 lũ xảy ra ở Đồng Nai Qmax=12.000 m3/sec đã dâng

mực nước thị xã Biên Hòa lên 4.73m nhấn chìm hầu như toàn bộ

thành phố Vậy thiết kế tràn xã lũ hồ Trị An Qxả = 18.000 m3/sec lúc

này điều gì sẽ xảy ra??

• Trên những công trình thủy điện lớn như Hòa Bình – Sơn La khi xảy

ra sự cố vỡ đập thì Thủ đô Hà Nội sẽ ra sao? Điều ta không bao giờ

mong muốn nhưng rủi ro lúc nào cũng có thể xảy ra… Đặc biệt những

công trình có tính quốc tế như bậc thang Srepok gồm 7 công trình liên

tục cho đến tận biên giới Campuchia Vậy nếu 1 công trình thượng

nguồn bị đổ vỡ, rủi ro sẽ xảy ra là gì? Đó là những rủi ro mà chúng ta

không mong muốn… nhưng trong thực tế rất khó tránh khỏi…

* Đánh giá rủi ro bao gồm hai loại nhiệm vụ là phân tích rủi ro và đánh

giá rủi ro

- Phân tích rủi ro: là hoạt động sử dụng những thông tin hiện có để ước

tính độ rủi ro của những tác động môi trường bất lợi gây ra cho con người, tài

sản hoặc môi trường Hai thành phần của phân tích rủi ro là xác định rủi ro và

ước tính rủi ro

° Xác định rủi ro bao gồm việc xác định những biến cố có kết cục không

chắc chắn Thí dụ: những biến cố đi liền theo việc khoan dầu ngoài khơi

có thể có các kết cục không chắc chắn như nổ giếng khoan, tràn dầu…

° Ước tính rủi ro là ước lượng bằng cách thống kê hoặc dùng một vài

phương pháp khác về xác suất của một biến cố và những hậu quả đi kèm

theo biến cố đó Thí dụ: hậu quả của sự cố nổ giếng khoan dầu là tràn

dầu Ước tính rủi ro trong trường hợp này là ước lượng qui mô tràn dầu

và xác suất xảy ra tràn dầu

Trang 8

° Đánh giá rủi ro: bao gồm đánh giá tầm quan trọng và khả năng chấp

nhận được các rủi ro đã dự tính Các kỹ thuật đánh giá rủi ro thường được

áp dụng là:

- So sánh với những mức rủi ro khác nhau đã biết (Thí dụ: so sánh mức rủi

ro xảy ra bị thương đối với một công nhân trong quá trình xây dựng một

công trình với mức rủi ro trung bình xảy ra bị thương trong tất cả các

công trình xây dựng khác trong nước vào năm trước)

- Phân tích thu chi để tính giá bằng tiền của những phí tổn gây ra bởi các

biến cố không chắc chắn (Thí dụ: chi phí làm sạch một vụ tràn dầu hoặc

chi phí chữa chạy cho một công nhân bị thương) so sánh các giá trị hiện

tại của những chi phí này với giá trị hiện hành của thu nhập bằng tiền mà

dự án đem lại Khi đem so sánh giữa những dự án khác nhau, dự án nào

có chỉ số (chi/thu) thấp nhất sẽ là dự án được ưu tiên

- Phân tích rủi ro, tiến hành so sánh những hậu quả của một biến cố không

chắc chắn với thu nhập bằng tiền mà dự án mang lại Có những hậu quả

không đo được bằng tiền nhưng có thể sử dụng các đơn vị đo tự nhiên

của chúng thí dụ như số công nhân bị thương, diện tích dầu tràn Khi so

sánh các phương án với nhau, cần phải có phán quyết rõ ràng ưu tiên

trường hợp nào giữa một bên là các dự án có mức rủi ro cao nhưng chi

phí khắc phục thấp với một bên là các dự án có mức rủi ro thấp nhưng

chi phí khắc phục cao

5 Những vấn đề thường gặp khi tiến hành các đánh giá rủi ro

Vấn đề lớn nhất là xác định khả năng chấp nhận rủi ro Các nhà khoa học và

các bên bị ảnh hưởng bởi dự án thường có những quan điểm khác nhau về khả

năng chấp nhận rủi ro Nguyên nhân của sự khác biệt này là:

° Những người bị ảnh hưởng thường cho rằng, rủi ro không tự nguyện khó

chấp nhận hơn rủi ro tự nguyện, ngay cả khi xác suất rủi ro được xác định

một cách khoa học là tương đương nhau Ví dụ: tử vong do hút thuốc lá

thuộc vào loại rủi ro tự nguyện nhưng tử vong do nhiễm chất độc hóa học

rò rỉ từ nơi chôn các chất thải độc hại thuộc vào loại rủi ro không tự

nguyện

° Những người từng trải qua một rủi ro nào đó thường gán cho nó một mức

độ nghiêm trọng hơn những người chưa từng trải

° Những người bị ảnh hưởng có thể nghĩ rằng không rủi ro là “rủi ro” duy

nhất có thể chấp nhận được, nhất là những rủi ro có hậu quả chết người

như bệnh ung thư

° Những người bị ảnh hưởng bởi dự án có thể nghi ngờ về khả năng của

các nhà khoa học trong việc dự báo những hậu quả và ước tính xác suất

một cách chính xác

° Những người bị ảnh hưởng có xu hướng cho rằng tử vong do các biến cố

thảm họa, thí dụ: bão, tai nạn máy bay hoặc là nổ nhà máy hơi đốt thì

Trang 9

nghiêm trọng hơn các biến cố thông thường khác thí dụ như nhiễm dịch

bệnh hoặc mắc bệnh tim

Những sự khác biệt này lý giải cho tầm quan trọng của việc thu hút sự tham

gia của những người bị ảnh hưởng bởi các dự án trong quá trình ĐTM Nếu

không có sự tham gia này hoặc tham gia không đầy đủ thì một ảnh hưởng xã

hội có thể có mà dự án gây ra sẽ bị bỏ qua khi đánh giá Hậu quả này sẽ đi

ngược lại với chính các mục đích của nội dung ĐTM

VI Giám sát và đánh giá sau triển khai

1 Ai là người đề nghị dự án hay Chính phủ phải chịu trách nhiệm giám sát?

Trong trường hợp có những vi phạm luật pháp về môi trường, hiển nhiên

bên đề nghị dự án thường thích được đảm nhận chức năng giám sát hơn Vì lẽ

đơn giản là để đảm bảo tính khách quan, chức năng giám sát cần phải giao cho

các cơ quan chuyên môn của Chính phủ Tuy nhiên để cho khách quan và tiện

lợi hơn nữa, nên có sự tham gia của cả phía bên đề nghị dự án

Lợi thế của việc giao trách nhiệm giám sát cho Chính phủ là ở chỗ, các kết

quả giám sát sẽ đáng tin cậy hơn nếu như tự bản thân người đề nghị dự án tiến

hành giám sát Tuy nhiên Chính phủ sẽ phải trang trải chi phí giám sát và đó là

một điều bất lợi

2 Những yêu cầu của một chương trình giám sát

° Phải thu hẹp được số thành phần cần theo dõi, giám sát trong khuôn khổ

của các thành phần môi trường cần đánh giá và có tính đến khả năng

biến đổi của thành phần môi trường này do việc triển khai dự án gây ra

° Có chính sách và cơ chế đảm bảo sao cho thông tin thu được đúng theo

yêu cầu của những vấn đề cần biết, đồng thời phải phản ánh được các

điều kiện trong một thời gian đủ dài

° Các kết luận phải dựa trên cơ sở những số liệu thống kê chấp nhận được

3 Đánh giá sau triển khai dự án

Mục tiêu:

° Kiểm tra tính chính xác của công tác ĐTM như là những dự báo về hậu

quả môi trường của một dự án Thí dụ: xu hướng và độ lớn của những tác

động có được dự báo đầy đủ và chính xác hay không? Những tác động

chủ yếu của việc triển khai dự án có được xác định đúng hay không?

° Xác định xem số liệu làm cơ sở có được thu thập đầy đủ hay không?

° Xác định xem các tác động lũy tích và đa giai đoạn có được dự báo đúng

hay không?

° Xác định xem các biện pháp khắc phục những ảnh hưởng bất lợi của dự

án có thực hiện hay không? Nếu có thì những biện pháp này có tác dụng

hay không?

° Đánh giá ích lợi của các kỹ thuật kiểm tra và theo dõi đã đề nghị

Trang 10

° Đánh giá hiệu lực của các biện pháp quản lý môi trường áp dụng trong

dự án

4 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện có hiệu quả công tác đánh

giá sau triển khai dự án

- Việc sử dụng từ ngữ không chính xác trong ĐTM có thể gây khó khăn

cho việc xác định một kết quả dự báo có chính xác hay không Thí dụ:

một tác động “lớn” có thể được dự báo cho một phần môi trường nào đó

trong ĐTM, nhưng không nêu rõ một ảnh hưởng như thế nào gọi là lớn

- Thiết kế của dự án có thể sẽ thay đổi sau khi dự án được thông qua Thí

dụ: một công nghệ kiểm soát ô nhiễm khác đã được lắp đặt thay vì công

nghệ đã nêu trong ĐTM

- Một vài giai đoạn của dự án đã mô tả trong ĐTM có thể sẽ không được

thực hiện Thí dụ: các mũi khoan dầu tại một số nơi trong khu vực khai

thác có thể hãy còn chưa được bắt đầu do giá dầu giảm

- Một vài chỉ số môi trường được kiểm tra có thể không thích hợp Thí dụ:

nếu mức ô nhiễm không khí xung quanh được kiểm tra chứ không phải là

chỉ tiêu thoát khí ra ngoài thì sẽ không thể nào tách bạch ra đâu là những

ảnh hưởng của dự án và đâu là ảnh hưởng của các nguồn ô nhiễm không

khí khác gây ra trong khu vực

- Một vài chỉ số môi trường được kiểm tra có thể đã không được tiến hành

theo dõi thường xuyên hoặc theo dõi ở những khoảng thời gian thích hợp

- Nhiều biến cố ngoại lai không trù tính trước và chưa được đánh giá có thể

gây ra những biến đổi trong các thành phần môi trường gây khó khăn cho

việc truy xét nguồn gốc của những biến đổi này

5 Một vài kết luận về tác dụng của các dự báo trong ĐTM rút ra từ các

đánh giá sau khi triển khai dự án

Những tác động chủ yếu và xu hướng của các tác động thường được xác định

đúng, sai sót phổ biến thường gặp đối với các dự báo về mức độ biến đổi của

các thành phần môi trường

Những ảnh hưởng lũy tích và nhiều giai đoạn thường ít được dự báo chính

xác hơn cả

Những dự báo tốt nhất thường làm được đối với các tác động đã nghiên cứu

và kiểm tra kỹ lưỡng, thí dụ như sự cố tràn dầu, dự báo mực nước chứa trong hồ

Những ảnh hưởng cấp một thường dễ dự báo nhất Tác động cấp hai và

những tác động cấp cao là khó dự báo hơn Những hệ thống phức tạp chứa đựng

nhiều mối liên kết thường không được hiểu rõ

Ngày đăng: 05/08/2014, 19:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm