Phương hướng và giải pháp hoàn thiện bộ máy quản trị của Công ty cổ phần Lắp máy điện nước và Xây dựng
Trang 1Hoạt động lao động của họ có tác dụng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh;đồng thời để cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển thì phải có bộ máy quản trịgọn nhẹ, năng động và linh hoạt phù hợp với qui luật của nền kinh tế thị trường
cổ phần hoá bộ phận DNNN là điều kiện tất yếu khách quan
Sau một thời gian nghiên cứu, học tập, trang bị kiến thức tại trường vàqua thời gian thực tập nghiên cứu thực tế tại Công ty cổ phần lắp máy điện nước
và xây dựng thuộc Tổng công ty xây dựng Hà Nội Tôi đã chọn đề tài:
“Phương hướng và giải pháp hoàn thiện bộ máy quản trị của Công ty
cổ phần Lắp máy điện nước và Xây dựng”.
Mặc dù đã làm hết sức mình nhưng đây là vấn đề tương đối mới mẻ, vìvậy chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự thông cảm củacác thầy cô giáo trường Đại học KTQD Hà nội và tập thể cán bộ công nhân viênCông ty cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng
Trang 2CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC
2 Những nội dung cơ bản của quản lý
Quản lý có các nội dung cơ bản sau:
2.1 Cơ sở lý luận và phương pháp luận của quản lý
2.1.1 Lý thuyết hệ thống: là tập hợp các bộ môn khoa học (sử học, kinh tế
học, sinh học, logic học, toán học, tin học ) nhằm nghiên cứu và giải quyết cácvấn đề theo quan điểm toàn thể
Quan điểm toàn thể: là quan điểm nghiên cứu giải quyết vấn đề mộtcách có căn cứ khoa học, hiệu quả và hiện thực
Hệ thống: Là các phần tử có mối quan hệ và liên hệ với nhau, có sự tácđộng chi phối lên nhau theo các qui luật nhất định để trở thành một chỉnh thể
Từ đó làm xuất hiện những thuộc tính mới gọi là “tính trồi” của hệ thống màtừng phân tử riêng lẻ không có hoặc có nhưng không đáng kể
Ta có thể liên hệ một doanh nghiệp chính là một hệ thống các phân từkhác nhau của các yếu tố sản xuất kinh doanh được kết lại theo qui luật doanhnghiệp, mà tính trồi của nó là hiệu quả hoạt động chung lớn hơn của doanhnghiệp so với kết quả của từng cá nhân, từng yếu tố riêng rẽ của doanh nghiệp
Trang 3cộng lại Điều này có nghĩa là 1 + 1 = 2 (nếu chưa có hệ thống) nhưng lại trởthành 1 + 1 >2 khi kết lại thành hệ thống.
Cơ cấu của hệ thống: là hình thức cấu tạo bên trong của hệ thống, baogồm sự sắp xếp trật tự của bộ phận các phần tử và các quan hệ giữa chúng theocùng một dấu hiệu nào đấy
2.1.2 Các nguyên tắc trong quản lý.
Khái niệm:
Các nguyên tắc quản lý là các quy tắc chỉ đạo những tiêu chuẩn hành vi
mà các cơ quan quản lý và các nhà lãnh đạo phải tuân thủ trong quá trình quảnlý
Bao gồm các nguyên tắc sau:
- Thống nhât lãnh đạo chính trị và kinh tế
- Tập trung dân chủ
- Kết hợp hài hoà các loại lợi ích xã hội
- Tiết kiệm và hiệu quả
- Phân hoá tối ưu
- Nắm đúng khâu xung yếu
- Kiên trì mục tiêu ý định
- Chuyên môn hoá
- Khéo che dấu ý đồ
- Xử lý tốt các mối quan hệ đối ngoại
2.2 Các phương pháp quản lý nội bộ.
Khái niệm:
Các phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động có thể có và
có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý đềđạt được các mục tiêu đã đề ra
Các phương pháp quản lý nội bộ
- Các phương pháp tác động lên con người bao gồm
1/ Các phương pháp hành chính: là các phương pháp tác động dựa vào cácmối quan hệ tổ chức của hệ thống quản lý là các tổ chức trực tiếp của chủ thể
Trang 4quản lý lên tập thể những người lao động dưới quyền bằng các quyết định dứtkhoát, mang tính bắt buộc, đòi hỏi người lao động chấp hành nghiêm chỉnh nếu
vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời đích đáng
Vai trò của các phương pháp hành chính rất to lớn, nó xác lập trật kỷcương làm việc trong hệ thống, khâu nối các phương pháp khác lại thành một hệthống, dấu được bí mật ý đồ hoạt động, giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản
lý rất nhanh chóng
Các phương pháp hành chính tác động vào đối tượng theo hai hướng
- Tác động về mặt tổ chức và tác động điều chỉnh hành động của đốitượng quản lý
+ Tác động về mặt tổ chức chủ thể quản lý ban hành các văn bản qui định
về qui mô, cơ cấu, điều lệ hoạt động, tiêu chuẩn nhằm thiết lập tổ chức và xácđịnh những mối quan hệ hoạt động trong nội bộ
+ Tác động điều chỉnh hành động của đối tượng quản lý, chủ thể quản lýđưa ra những chỉ thị mệnh lệnh hành chính bắt buộc cấp dưới thực hiện nhữngnhiệm vụ nhất định hoặc theo những phương hướng nhất định nhằm đảm bảocho các bộ phận trong hệ thống hoạt động ăn khớp và đúng hướng, uốn nắn kịpthời những lệch lạc rủi ro có thể xảy ra
- Sử dụng các phương pháp hành chính đòi hỏi các cấp quản lý phải nắmvững những yêu cầu chặt chẽ sau đây:
+ Một là: quyết định hành chính phỉa có hiệu quả cao khi quyết định đó
có căn cứ khoa học, được luận chứng đầy đủ về mặt kinh tế Khi đưa ra mộtquyết định hành chính phải cân nhắc, tính toán đến các lợi ích kinh tế Ngoài raquyết định phải hiểu rõ tình hình thực tế, nắm vững tình huống cụ thể
Khi đưa ra quyết định hành chính phải có đầy đủ các thông tin cần thiếtcho việc ra quyết định
+ Hai là: Khi sử dụng phương pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn
và trách nhiệm của người ra quyết định Mỗi bộ phận mỗi cán bộ khi sử dụngquyền hạn của mình phải có trách nhiệm về việc sử dụng các quyền đó
Trang 52/ Các phương pháp kinh tế: là các phương pháp tác động vào đối tượngquản lý thông qua lợi ích kinh tế, để cho đối tượng quản lý tự lựa chọn phương
án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ Đặc điểm củacác phương pháp kinh tế là nó tác động lên đối tượng quản lý không bằng cưỡngbức hành chính mà bằng lợi ích, tức là chỉ tiêu đề ra mục tiêu nhiệm vụ phải đạt,đưa ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những phương tiện vật chất cóthể sử dụng để họ tự tổ chức việc thực hiện nhiệm vụ Khi sử dụng phương phápkinh tế chủ thể quản lý phải biết tạo ra những tình huống, những điều kiện để lạilợi ích cá nhân và tập thể phù hợp với lợi ích chung của hệ thống
- Sử dụng phương pháp kinh tế cần chú ý một số vấn đề sau:
+ Một là: dùng phương pháp kinh tế luôn luôn gắn liền với việc sử dụng
các đòn bảy kinh tế như giá cả, lợi nhuận, tín dụng, lãi suất, tiền lương, tiềnthưởng nó liên quan chặt chẽ đến các quan hệ hàng hoá - tiền tệ
+ Hai là: Dùng phương pháp kinh tế phải thực hiện sự phân cấp đúng đắn
giữa các quản lý
+ Ba là: Sử dụng p hương pháp kinh té đòi hỏi cán bộ quản lý phải có
một trình độ và năng lực về nhiều mặt phải hiểu biết và thông thạo nhiều kiếnthức và kinh nghiệm quản lý, đồng thời phải có bản lĩnh tự chủ vững vàng
3/ Các phương pháp giáo dục: Là các cách tác động vào nhận thức và tìnhcảm của người lao động nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình lao động của
họ trong việc thực hiện nhiệm vụ Trên đây trình bày 3 phương pháp quản lýmỗi phương pháp quản lý đều có ưu và nhược điểm riêng vì vậy cần phải kéthợp lại để bổ sung cho nhau Trong 3 phương pháp trên nên đặc biệt coi trọngphương pháp kinh tế
Các phương pháp tác động lên các yếu tố khác của hệ thống
Đó là phương pháp quản lý đi sâu vào từng yếu tố chi phối lên các đầuvào của quá trình quản lý các phương pháp quản lý này mang tính nghiệp vụ gắnliền với tính kỹ thuật và thường gắn với phương pháp toán kinh tế nó là một loạicông cụ không thể thiếu trong việc lựa chọn các phương pháp quản lý ngày nay
Các phương pháp tác động lên các hệ thống khác (bên ngoài)
Trang 6Đó là các tác động bên ngoài hệ thống, nó không thể sử dụng các tác độngtrực tiếp như để sử dụng trong nội bộ, mà tuỳ thuộc vào mối tương quan lệ thuộc
và phụ thuộc cụ thể diễn ra như thế nào (mình lệ thuộc họ hay họ lệ thuộc mình,hoặc mình và họ là quan hệ tương đồng) mà có cách sử dụng phương pháp nàythích hợp
II THỰC CHẤT VÀ YÊU CẦU CỦA VIỆC TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP
1 Thực chất của tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp
Là tổng hợp các bộ phận (đơn vị và cá nhân) khác nhau có mối liên hệ vàquan hệ phụ thuộc lẫn nhau được chuyên môn hoá và có những trách nhiệm vàquyền hạn nhất định được bố trí theo những cấp những khâu khác nhau nhằmthực hiện các chức năng quản lý và phục vụ cho những mục tiêu chung đã đượcxác định của doanh nghiệp
2 Những yêu cầu cơ bản của đối với tổ chức bộ máy quản lý.
- Một là: phải đảm bảo hoàn thành những nhiệm vụ của doanh nghiệp,
phải thực hiện đầy đủ toàn diện các chức năng quản lý doanh nghiệp
- Hai là: Phải bảo đảm thực hiện nghiêm túc chế độ một thủ trưởng, chế
độ trách nhiệm cá nhân trên cơ sở bảo đảm và phát huy quyền làm chủ tập thểlao động trong doanh nghiệp
- Ba là: Phải phù hợp với qui mô sản xuất, thích ứng với những đặc điểm
kinh tế và kỹ thuật của doanh nghiệp
- Bốn là: Phải đảm bảo yêu cầu vừa tinh giản, vừa vững mạnh trong bộ
- Tính tối ưu: giữa các bộ phận và các cấp đều thiết lập mối quan hệ hợp
lý với số lượng cấp quản lý ít nhất tạo cho bộ máy tổ chức tính năng động cao
Trang 7- Tính linh hoạt: Bộ máy tổ chức của doanh nghiệp phỉa có khả năng thíchứng linh hoạt với bất kỳ tình huống nào xảy ra trong nội bộ cũng như môitrường bên ngoài doanh nghiệp.
- Tính tin cậy: Các thông tin trong tổ chức bộ máy phải đảm bảo tínhchính xác nhờ đó để đảm bảo sự phối hợp các hoạt động và nhiệm vụ của tất cảcác bộ phận và các cấp trong doanh nghiệp
- Tính kinh tế: Phải tính toán sử dụng chi phí đầu vào và kết quả đầu rađạt được hiệu quả cao nhất
- Tính bí mật: đòi hỏi thông tin không được rò rỉ ra bên ngoài cho đối thủcạnh tranh bên ngoài thị trường
3 Những nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp.
- Cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp được ví như cơ thể sống các
bộ phận chức năng và các cấp cũng giống như các bộ phận trong cơ thể nó có sựliên quan chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau và cơ thể sống đó (cơ cấu tổ chức) bị ảnhhưởng nhiều yếu tố như: Môi trường bên ngoài doanh nghiệp, môi trường bêntrong doanh nghiệp Bao gồm:
Môi trường bên ngoài:
Trang 84 Mức độ biến động của môi trường kinh doanh
5 Thái độ của ban lãnh đạo tối cao
6 Thái độ của đội ngũ công nhân viên
7 Các khía cạnh địa lý
Sau đây sẽ nói rõ từng yếu tố trên
3.1 Chiến lược
Hiện nay một điều được chấp nhận chunglà chiến lược và cơ cấu tổ chức
là hai mặt không tách rời trong công tác quản lý các tổ chức hiện đại
Chandler đã tiến hành nghiên cứu nhiều hãng lớn của Hoa Kỳ và đi đếnkết luận là khi có sự thay đổi về chiến lược cấp công ty thì cơ cấu tổ chức cũngphải thay đổi theo Động lực khiến các doanh nghiệp phải có các thay đổi về cơcấu tổ chức là vì cơ cấu cũ gây ra kém hiệu quả trong việc phấn đấu đạt đượcchiến lược của doanh nghiệp Chandler cho rằng nhiều doanh nghiệp đều theomột khuôn mẫu về quá trình phát triển như sau:
- Xây dựng chiến lược mới
- Phát sinh các vấn đề hành chính
- Thành tích chung giảm sút
- Cơ cấu tổ chức mới, thích hợp hơn được đề ra và thông qua
- Thành tích trở lại mức đạt được trước đó/
Trang 9Tuy sự thay đổi về chiến lược không phải bao giờ cung bắt buộc phải cóthay đổi về cả cơ cấu tổ chức nhưng các kết quả nghiên cứu nói chung ủng hộ ýtưởng cơ cấu tổ chức phải đi theo chiến lược.
3.2 Quy mô và mức độ phức tạp của tổ chức.
Ban lãnh đạo phải nghiên cứu cơ cấu tổ chức sao cho có thể quản lý đượccác hoạt động của doanh nghiệp, nhưng cơ cấu đó không được phức tạp quámức cần thiết Mức độ phức tạp của cơ cấu tổ chức phải phù hợp với mức độphức tạp của các nghiệp vụ (hoặc nhiệm vụ)
Một trong các phương pháp phân tích của cơ cấu tổ chức là phương phápphân bậc Có 4 bậc tổ chức được thể hiện dưới đây:
Trang 10Quản trị tín dụng
Quản trị giao hàng
Chi nhánh miền Đông
Chi nhánh miền Tây
Chủ tịchchi nhánh CMỗi chi nhánh có cơ cấu tổ chức bậc 3
Trang 11Thứ nhất bậc 1: là các tổ chức đơn giản nhất cơ cấu quản lý điểm hình
bao gồm cấp trên và một số lượng hạn chế cấp dưới Mô hình tổ chức này thíchhợp nhất đối với các doanh nghiệp nhỏ, nhất là khi cấp trên là chủ doanh nghiệp
Cách tổ chức theo mô hình một bậc đôi khi gặp phải vấn đề nếu là sốcông nhân vẫn tăng thêm thì nhà quản trị càng khó quản lý doanh nghiệp Nóitheo thuật ngữ quản lý thì định mức quản lý trở nên quá lớn đối với nhà quản trịmặc dù số lượng lý tưởng các công nhân viên nằm trong định mức quản lý củanhà quản trị không được biết là bao nhiêu, nhưng chúng ta biết chắc con số đótrở nên quá lớn Khi điều này sảy ra, nhà quản trị phải sẵn sàng điều chỉnh cơcấu tổ chức bằng cách bổ sung thêm cấp quản lý
Thứ hai: Cấp quản lý sẽ bổ sung làm cho hình thức tổ chức bậc 1 trở
thành tổ chức bậc 2, như vậy các tổ chức bậc 2 có hai cấp quản lý là cấp caonhất và cấp được thêm vào thông thường cấp bậc thứ hai này thường được tổchức theo chức năng thí dụ như: phòng kỹ thuật, phòng tài chính
Cơ cấu tổ chức bậc 2 không phức tạp lắm, lại cho phép quản lý được cácdoanh nghiệp tương đối lớn bằng cách đơn giản là mở rộng số lượng cán bộquản trị trung gian và tăng thêm cấp dưới Tuy vậy đối với cơ cấu này cũng cógiới hạn mà nếu vượt qua đó thì nó không để đảm bảo được tính linh hoạt củaviệc quản lý những trường hợp doanh nghiệp quá phức tạp Khi đã tái giới hạnnói trên doanh nghiệp cần phải xem xét tới cơ cấu tổ chức bậc 3
Thứ ba: Các tổ chức bậc 3 có xu hướng tập chung hoá và có cơ cấu tổ
chức tương đối phức tạp với từ 3 cấp quản lý trở lên Về nội dung, cơ cấu tổchức bậc 3 có thể rộng hơn nhiều so với các bậc 2 và bậc 1, và nó có thể được sửdụng để quản lý bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào Nếu hãng phát triển thànhmột tổ chức có quy mô lớn hơn thì có thể bổ sung thêm 1 cấp quản lý khác hoặctăng thêm số cán bộ quản trị trong nội bộ cấp đó Cơ cấu tổ chức bậc 3 có thểđược áp dụng cho mọi loại hình tổ chức cụ thể đã được bàn đến ở trên
Thứ tư: Cơ cấu tổ chức bậc 4 cần thiết cho các hãng lớn trong đó đề ra
đơn vị kinh doanh chiến lược hoặc vượt quá khả năng quản lý theo cơ câu bậc 3
Trang 12vì vậy tổ chức bậc 4 là một tổ chức phân cấp và bao gồm tổ hợp của một số tổchức bậc 3.
3.3 Hãng công nghệ: Đặc điểm chung và mức độ phức tạp của công
nghệ mà doanh nghiệp sử dụng có thể ảnh đến cơ cấu tổ chức
Thí dụ: Các doanh nghiệp chú trọng đến công nghệ cao thường có địnhmức quản lý thấp Cơ cấu tổ chức phải được bố trí sao cho tăng cường được khảnăng của doanh nghiệp có thể hợp nhất loại phản ứng trước sự thay đổi nhanhchóng về công nghệ Nhưng thường như cơ cấu tổ chức thường đi sau nhu cầucông nghệ, gây ra sự chậm trễ trong việc khai thác đầy đủ công nghệ mới Nếu
hệ thống cơ cấu tổ chức phù hợp với hệ thống công nghệ và đảm bảo sự điềuphối một cách chặt chẽ trong việc ra quyết định liên quan đến kinh doanh vàcông nghiệp
3.4 Môi trường diễn biến nhanh.
Mức độ môi trường diễn biến nhanh cũng ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức.Trong điều kiện môi trường kinh doanh ổn định thì các nghiệp có cơ cấu tổ chứccứng nhắc, trong đó việc ra quyết định mang tính chất tập chung với những chỉthị nguyên tắc và thể lệ cứng dắn đều có thể quản lý tốt Ngược lại những doanhnghiệp từng thành công trong điều kiện môi trường thay đổi nhanh chóngthường xây dựng cơ cấu tỏo chức có mối liên hệ gắn bó hữu cơ, trong đó việc raquyết định mang tính phân tán (phân cấp) với các thể lệ mềm mỏng, các phòngban có sự liên kết với nhau và với các tổ đội đa chức năng
3.5 Thái độ của lãnh đạo cấp cao.
Thái độ của lãnh đạo cấp cao cũng có thể tác động đến cơ cấu tổ chức.Các cán bộ quản lý theo phương cách truyền thông thường thích sử dụng các cơcấu tổ chức theo bộ phận chức năng và ít khi vận dụng các hình thức tổ chứcnhư tổ chức theo mô hình ma trận Các cán bộ quản lý theo phương cách truyềnthống cũng thích sự kiểm soát tập trung vì vậy họ không thích sử dụng các môhình tổ chức mang tính phân tán nhiều nhân viên hơn
3.6 Thái độ của đội ngũ công nhân viên.
Trang 13Khi lựa chọn mô hình tổ chức cũng cần xem xét đến đội ngũ công nhânviên Công nhân viên có trình độ học vấn cao và hoặc đã qua đào tạo thườngthích mô hình quản lý mở hơn Công nhân viên cấp thấp và công nhân kỹ thuật
có tay nghề cao thường thích mô hình tổ chức trong đó có nhiều tổ đội hơn Bộphận theo mô hình tổ chức theo bộ phận chức năng, chắc chắn là vì các mô hìnhnhư vậy có sự phân định rõ ràng hơn Ngoài ra, mô hình tổ chức theo bộ phậnchức năng tạo nhiều cơ hội hơn để liên kết các đối tượng công nhân kỹ thuậttương tự như nhau
3.7 Địa bàn hoạt động.
Việc mở rộng địa bàn hoạt động hoặc phân tán hoá đòi hỏi phải có sự bốtrí lại lao động, tạo ra cơ cấu tổ chức mới Cần lưu ý các doanh nghiệp phân tánhoá địa bàn hoạt động vẫn có thể giữ nguyên chế độ ra quyết định theo phươngthức tập trung Tuy nhiên khi qui mô của doanh nghiệp càng lớn thì việc raquyết định theo phương thức phân tán càng trở nên quan trọng
Trang 14CHƯƠNG II THỰC CHẤT CỦA TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN
LẮP MÁY ĐIỆN NƯỚC VÀ XÂY DỰNG
I QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY
1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
* Giai đoạn I: từ năm 1978 đến năm 1993.
Công ty lắp máy điện nước và xây dựng là một DNNN hoạt động tronglĩnh vực sản xuất kinh doanh thực hiện hạch toán kinh tế độc lập trực thuộcTổng công ty xây dựng Hà nội, trụ sở của công ty tại 61E - Đê La Thành - LángThượng - Đống Đa - Hà Nội
Tiền thân của công ty lắm máy điện nước và xây dựng là xí nghiệp điệnnước thuộc công ty xây dựng số 3 (công ty xây dựng bảo tàng Hồ Chí Minh) -Tổng công ty xây dựng Hà Nội xí nghiệp được thành lập vào năm 1978 theo sựđòi hỏi của quá trình chuyên môn hoá sản xuất Khi đó công ty xây dựng số 3bao gồm nhiều xí nghiệp, mỗi xí nghiệp đảm trách một phần việc cụ thể củacông tác xây dựng, trong đó xí nghiệp điện nước có nhiệm vụ thi công và lắp đặtcác công trình, hạng mục công trình điện nước Trong thời kỳ bao cấp cùng với
sự khó khăn chung của nền kinh tế đất nước, xí nghiệp điện nước cũng gặpkhông ít khó khăn mà khó khăn về quyền chủ động trong công việc là khó khănlớn nhất Từ sau đại hội lần thứ VI nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tếthị trường cùng với sự ăn nên làm ra của công ty xây dựng số 3, Xí nghiệp điệnnước là một đơn vị hoạt động có hiệu quả, đóng góp một phần không nhỏ vàokết quả hoạt động của toàn công ty Để phát huy hơn nữa hiệu quả hoạt độngcủa xí nghiệp điện nước cùng với việc mở rộng quy mô sản xuất của xí nghiệpngày 29/3/1993 Bộ trưởng Bộ xây dựng đã ký quyết định 151A/ NXD - TCLĐ
về việc thành lập lại DNNN Xí nghiệp điện nước tách khỏi công ty xây dựng số
3 - Tổng công ty xây dựng Hà Nội và được mang tên công ty lắp máy điện nước
và xây dựng trực thuộc Tổng công ty xây dựng Hà Nội
Trang 15* Giai đoạn II: Từ năm 1993 - 1999 từ sau khi thành lập được sự giúp đỡ
của Tổng công ty xây dựng Hà Nội và các đơn vị bạn hàng trên địa bàn Hà Nội
và các tỉnh trong cả nước Công ty lắp máy điện nước và xây dựng đã từng bướckhẳng định được sự vững mạnh và phát triển của mình Với cương vị hoạt độngsản xuất kinh doanh Công ty lắp máy điện nước và xây dựng được phép tiếnhành các ngành nghề chủ yếu là:
- Xây dựng các công trình, hạng mục công trình xây dựng công nghiệp vàdân dụng, xây dựng thi công đường xá, cầu cống
- Hoàn thiện công trình, hạng mục công trình xây dựng và trang trí nộithất
- Thi công trạm biến thế, đường dây tải điện và lắp đặt trong thiết bị điệnnước, thiết bị công nghệ
- Sản xuất cấu kiện bê tông phục vụ công tác xây dựng, kinh doanh vậtliệu xây dựng và bất động sản
Do đặc thù của ngành xây lắp, sản phẩm xây lắp là tài sản cố định tại mộtđịa điểm trên những địa bàn khác nhau, công nhân, vật liệu, trang thiết bị máymóc phải di chuyển cho nên cơ cấu tổ chức của công ty lắp máy điện nước vàxây dựng bao gồm 7 đội và 5 xí nghiệp và 2 xưởng
* Giai đoạn III: chuyển thành công ty cổ phần
Cổ phần hoá DNNN là chủ trương lớn của Đảng và nhà nước nhằmchuyển một phần sở hữu nhà nước sang sở hữu nhiều thành phần, theo nghị định44/1998/NĐ - CP ngày 29/6/1998 “chuyển DNNN thành công ty cổ phần nhằmcác mục tiêu sau:
Một là, huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêmviệc làm phát triển doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấuDNNN
Hai là, tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng
tài sản nhà nước, nâng cao thu nhập của người lao động góp phần tăng trưởngkinh tế đất nước
Trang 16Theo nghị định trên của chính phủ Bộ xây dựng ra quyết định số 1595/QĐ
- BXD ngày 13/12/1999 của Bộ trưởng Bộ xây dựng về việc phê duyệt phương
án cổ phần hoá và chuyển DNNN công ty lắp máy điện nước và xây dựng thuộcTổng công ty xây dựng Hà Nôi thành công ty cổ phần lắp máy điện nưóc và xâydựng
Quá trình chuyển từ DNNN thành công ty cổ phần như sau:
- Thành lập ban đổi mới doanh nghiệp
- Tập huấn cổ phần hoá
- Khoá sổ kế toán, xử lý các tồn tại về tài chính và lập báo cáo tài chính
- Lập danh sách lao động được mua cổ phần hoá theo giá ưu đãi
- Xác định giá thực tế và giá thực tế phần vốn Nhà nước
- Xây dựng phương án cổ phần hoá và điều lệ công ty cổ phần
- Đại hội bất thường cán bộ, công nhân viên chức
- Phê duyệt phương án cổ phần hoá
- Quảng cáo tiếp thị tổ chức bán cổ phần
- Đại hội cổ đông
- Khắc dấu đăng ký kinh doanh
- Bàn giao tài sản, vốn công ty cổ phần, khai trương công ty cổ phần
2 Tình hình đặc điểm Công ty
2.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý điều hành của công ty
Để đảm bảo công tác tổ chức, quản lý điều hành hoạt động của công tyđược tốt, bộ máy điều hành của công ty lắp máy điện nước và xây dựng được tổchức theo kiểu trực tuyến tham mưu, ban lãnh đạo của công bao gồm 4 người:
Đứng đầu là Giám đốc công ty phụ trách chung toàn bộ hoạt động sảnxuất kinh doanh của công ty, trực tiếp chỉ đạo hoạt động của các phòng ban vàcác đơn vị trực thuộc công ty
Tham mưu giúp việc cho giám đốc công ty là các phó giám đốc chuyêntrách từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh, cụ thể:
- Phó giám đốc chuyển trách lắp máy điện nước, trực tiếp phụ trách các xínghiệp điện nước (xí nghiệp điện nước 2, xí nghiệp điện nước 4, xí nghiệp xây
Trang 17lắp kết cấu kim loại số 7) và các tổ đội trực thuộc công ty như: Đội điện nước số
3, số 5, số 6 Đội lắp số 8, đội lắp ráp kết cấu thép
- Phó giám đốc chuyên trách lĩnh vực thi công, xây lắp, an toàn lao động
và kiểm tra chất lượng công trình (KCS) trực tiếp phụ trách các xí nghiệp xâydựng (xí nghiệp xây số 9, xí nghiệp xây dựng số 11, xí nghiệp xây lắp hoànthiện số 12) và các đội, xưởng trực thuộc công ty như: Đội xây dựng số 10,xưởng sản xuất bê tông và vật liệu xây dựng, phòng Kế toán - Tài chính, an toànlao động - Kiểm tra chất lượng công trình (KCS)
- Phó giám đốc chuyên trách lĩnh vực kế hoạch kinh tế tiếp thị, trực tiếpchỉ đạo Phòng kinh tế tiếp thị và Trung tâm tư vấn thiết kế lắp đặt điện nước,thông gió, điều hoà
Ngoài ra tham mưu giúp việc Giám đốc công ty còn có Kế toán trưởngphụ trách Phòng tài chính - Kế toán, tổ chức chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác
kế toán thống kê, thông tin kinh tế và hạch toán kinh tế của công ty theo quyđịnh của Nhà nước
Bên dưới là các phòng ban, xí nghiệp, tổ đội và phân xưởng trực thuộc.Các phòng ban có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc thực hiện nhiệm vụ,chỉ đạo chung mọi hoạt động của công ty, bao gồm:
- Văn phòng công ty: Với sô lượng cán bộ nhân viên là 14 người Vănphòng công ty có trách nhiệm tiếp nhận các chủ trượng chính sách, chỉ thị, nghịquyết của lãnh đạo, tổ chức kiểm tra thực hiện và hướng dẫn giám sát về mặtnghiệp vụ chuyên môn với các bộ phận liên quan giúp lãnh đạo công về nghiệp
vụ chuyên môn văn phòng, tổ chức các cuộc giao dịch đón tiếp, quan hệ đối nội,đối ngoại, làm các công việc hành chính, văn thư lưu chữ, quản trị văn phòng vàcông tác đời sống
- Phòng tổ chức lao động tiền lương gồm 7 người có nhiệm vụ quản lý laođộng, xây dựng kế hoạch quản lý đào tạo và sử dụng lực lượng lao động, tổ chứcthực hiện chế độ chính sách đối với người lao động, xây dựng quy chế phương
án phân phối tiền lương, định mức lao động và đảm bảo công tác bảo vệ thanhtra thi đua khen thưởng
Trang 18- Phòng kế hoạch tiếp thị: gồm 16 người có nhiệm vụ xây dưng kế hoạchsản xuất kinh doanh Lập tổng dự toán các công trình thi công, tìm đối tác liêndoanh liên kết, giới thiệu quảng cáo về công ty với khách hàng, làm hồ sơ dựthầu
- Phòng đầu tư phát triển: gồm 3 người có nhiệm vụ tư vấn là lập báo cáokhả thi các dự án đầu tư của công ty, khai thác, tìm kiếm các công việc thi côngxây lắp, quản lý việc thực hiện thực thi dự án, đôn đốc việc thanh quyết toán vốncác dự án đã hoàn thành
- Phòng kinh doanh vật tư: gồm 6 người có nhiệm vụ mua bán quản lýcung cấp vật tư cho xí nghiệp, tổ, đội, xưởng sản xuất trực thuộc công ty và cácbên đối tác có nhu cầu về vật tư phục vụ cho công tác xây lắp, quản lý kho bãitập kết vật tư
- Phòng kỹ thuật thi công - an toàn lao động, KCS: gồm 12 người cónhiệm vụ giám sát chất lượng kỹ thuật mỹ thuật, tiến độ thi công, an toàn laođộng của các công trình, hạng mục công trình mà công ty đảm nhận thi công, lậpchương trình áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới quy trình côngnghệ vào sản xuất thi công
- Phòng tài chính kế toán thống kê: gồm 7 người có nhiệm vụ tổ chứctriển khai thực hiện toàn bộ công tác tài chính kế toán, công tác kiểm tra giámsát việc huy động và sử dụng vốn của công ty, lập báo cáo về tình hình tài chínhđịnh kỳ theo quy định của Nhà nước Tổ chức ghi chép tính toán và phản ánhchính xác trung thực, kịp thời, đầy đủ toàn bộ tài sản và nguồn vốn
Các xí nghiệp, tổ, đội, phân xưởng trực thuộc công ty là những đơn vị cónhiệm vụ thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty theo lĩnh vực
mà xí nghiệp, tổ, đội, phân xưởng được giao Đây là lực lượng chính trực tiếpthực thi nhiệm vụ xây lắp của công ty đồng thời tạo ra khoản thu nhập chủ yếucho công ty Chúng ta có thể thấy rõ hơn tình hình tổ chức bộ máy quản lý, điềuhành của Công ty xây lắp máy điện nước và Xây dựng qua biểu 02
Nhìn chung việc tổ chức bộ máy quản lý điều hành của Công ty lắp máyđiện nước và Xây dựng là hợp lý phù hợp với tình hình thực tế đảm bảo tính
Trang 19thống nhất trong công tác quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh củacông ty.
2.2 Đặc điểm quy trình công nghệ của công ty.
Công ty lắp máy điện nước và Xây dựng là một doanh nghiệp hoạt độngtrong ngành sản xuất xây lắp do quy trình công nghệ mang những nét đặc trưngcủa ngành nghề kinh doanh
Trên phương diện sản xuất xây dựng, hoạt động xây dựng (công trình,hạng mục công trình xây dựng) được tiến hành với quy trình công nghệ sau:
- Khảo sát thăm dò và thi công phần móng công trình: ở công đoạn nàymáy móc được thiết bị được sử dụng tối đa
- Tiến hành thi công xây dựng công trình: nguyên vật liệu (công trình,hạng mục công trình xây dựng) được tiến hành với quy trình sau
- Khảo sát thăm dò và thi công phần móng công trình: ở công đoạn nàymáy móc được thiết bị sử dụng tối đa
- Tiến hành thi công xây dựng công trình: nguyên vật liệu (xi măng, cát,
đá, sỏi, vôi, sắt, thép, gạch ) được đưa vào xây dựng phần thô (móng côngtrình, trụ, cột, tường bao, vách ngăn, cầu thang )của công trình
Tiếp đến là lắp đặt hệ thống điện nước, thiết bị theo yêu cầu của côngtrình
Sau cùng là công việc hoàn thiện công trình (lắp cửa, dọn dẹp côngtrình trang trí tô điểm đảm bảo tính mỹ thuật) đồng thời trang trí nội thất (nếucó)
Kết thúc công đoạn này công ty tiến hành kiểm tra nghiệm thu và bangiao quyết toán công trình
Chúng ta có thể thấy rõ hơn quy trình sản xuất qua biểu số 03 - quy trìnhcông nghệ sản xuất xây dựng
Trang 20Biểu : Quy trình công nghệ sản xuất xây dựng.
Trên phương diện lắp đặt điện nước, hoạt động lắp đặt được tiến hànhtheo quy trình công nghệ sau:
Khảo sát kiểm tra mặt bằng, lắp đặt theo bản thiết kế mỹ thuật: vật tư, ốngdẫn nước, van xả, trang thiết bị lắp đặt được đưa vào xây dựng lắp đặt côngtrình điện nước (xây dựng bể chứa, đường thoát nước, cống rãnh, ống dẫn nướcsạch, xây dựng trạm biến thế, gia công móng, cột điện, kéo dây
Hoàn thiện công trình và vận hành thử, kiểm tra các thông số kỹ thuật vànghiệm thu công trình, bàn giao và quyết toán công trình với bên chủ quản
Chúng ta có thể khái quát quy trình công nghệ lắp đặt này qua biểu số 04 Quy trình công nghệ lắp đặt điện nước
-Biểu : Quy trình công nghệ lắp đặt điện nước.
Khảo sát thăm dò và thi công phần móng công trình
Thi công xây dựng phần thô: nguyên vật liệu(cát, gạch, xi măng ) máy móc được đưa vào thi công xây dựng phần vỏ công trình
Lắp đặt máy móc thiết bị, hệ thống điện nước theo yêu
cầu của công trình (nếu có)
Hoàn thiện trang trí đảm bảo tính mỹ thuật của công trình, kiểm tra
nghiệm thu và tiến hành bàn giao, quyết toán công trình
Khảo sát
kiểm tra bằng
thi công
Tiến hành thi công lắp đặt công trình điện nước
Hoàn thiện công trình sửa sang kiểm tra
Đưa công trình vào vận hành thử, kiểm tra nghiệm thu
Trang 21Trên đây là quy trình công nghệ sản xuất lắp đặt cơ bản mà công ty lắpmáy điện nước và xây dựng sử dụng Tuy nhiên, do tính đặc biệt của ngành nghềnên ở mỗi khâu của quy trình công nghệ đòi hỏi cán bộ kỹ thuật, công nhân thicông kéo dài, do vậy việc tổ chức sản xuất kinh doanh có ý nghĩa rất to lớn đốivới quá trình sản xuất của công ty.
2.3 Đặc điểm tổ chức và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty.
Công ty Lắp máy điện nước và Xây dựng là một doanh nghiệp Nhà nướchoạt động trong lĩnh vực xây lắp, sản phẩm của công ty là những công trình,hạng mục công trình xây dựng, lắp đặt có kết cấu phức tạp và thời gian thi côngkéo dài, do vậy việc tổ chức sản xuất kinh doanh có ý nghĩa rất to lớn đối vớiquá trình sản xuất của công ty
Về việc sản xuất kinh doanh công ty tiến hành tổ chức theo các xí nghiệp,đội, xưởng sản xuất dưới sự chỉ đạo, điều hành trực tiếp các phó giám đốc phụtrách sản xuất kinh doanh
Hiện nay, công ty lắp máy điện nước và xây dựng có 6 xí nghiệp, 8 độichuyên trách và 2 xưởng sản xuất và sửa chữa Ngoài ra, công ty còn có mộtTrung tâm tư vấn thiết kế lắp máy điện nước, điều hoà, thông gió, có thể kháiquát về việc tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty như sau:
Đứng đầu là các xí nghiệp, các Giám đốc xí nghiệp chịu trách nhiệm quản
lý điều hành xí nghiệp của mình thực hiện sản xuất kinh doanh theo chỉ tiêucông ty giao, bao gồm các xí nghiệp:
- Xí nghiệp điện nước 2, xí nghiệp điện nước 4: đảm nhận các công việclắp đặt thi công các công trình điện, nước cho các khu dân cư và các khu côngnghiệp, cũng như lắp đặt các đường dây tải điện, hệ thống cấp thoát nước chocác công trình xây dựng
- Xí nghiệp xây lắp kết cấu kim loại số 7: làm các công việc như lắp đặtmáy móc thiết bị, kết cấu kim loại cho các công trình xây dựng, công trình côngnghiệp và dân dụng
Trang 22- Xí nghiệp xây dựng số 9, xí nghiệp xây dựng số 11: là những xí nghiệphoạt động trong lĩnh vực xây dựng, đảm nhận các nhiệm vụ khảo sát thiết kế thicông các công trình xâydựng dân dụng.
- Xí nghiệp xây lắp và hoàn thiện số 12: đây là xí nghiệp có nhiệm vụ lắpđặt, trang trí và hoàn thiện các công trình mà xí nghiệp xây dựng và thi côngxong phần việc của mình, ngoài ra xí nghiệp còn làm các công việc độc lập nhưtrang trí nội thất
Ngoài các xí nghiệp sản xuất chủ yếu ở trên, Công ty có 8 đội sản xuấtchuyên trách, 2 xưởng và một Trung tâm tư vấn thiết kế lắp đặt điện nước Mọihoạt động của các đội, xưởng sản xuất và trung tâm tư vấn đều do Công ty trựctiếp quản lý điều hành bao gồm:
Đội sản xuất : đội điện nước 3, đội điện nước 5, đội điện nước 6, đội lắpráp kết cấu thép, đội lắp đặt hệ thống thông gió điều hoà số 1, đội xây dựng số
10, đội xe cơ giới Đây là các đội sản xuất dưới quyền chỉ đạo của Phó giám phụtrách sản xuất mà đứng đầu các đội sản xuất là các đội trưởng có nhiệm vụ chỉđạo thực thi các nhiệm vụ mà Công ty giao cho từng đội, đồng thời có thể thamgia hỗ trợ các đơn vị trực thuộc công ty trong quá trình tham gia sản xuất do sựđiều động của các Phó giám đốc phụ trách sản xuất
Xưởng bê tông và vật liệu xây dựng: có nhiệm vụ sản xuất cột, dầm bêtông và bê tông trộn sẵn phục vụ nhu cầu thi công của các đơn vị sản xuất trongcông ty
Xưởng cơ khí và sửa chữa: có nhiệm vụ sửa chữa máy móc thiết bị, bảodưỡng và tu bổ các loại xe, các loại máy và cung cấp các công cụ, dụng cụ cơkhí cho các đơn vị trong công ty
Trung tâm tư vấn thiết kế điện nước, thông gió, điều hoà, đạt được dưới
sự chỉ đạo điều hành trực tiếp của Phó giám đốc phụ trách lĩnh vực kinh tế tiếpthị, có nhiệm vụ công tác tư vấn với khách hàng, cho các đơn vị liên quan đếnhoạt động lắp đặt điện nước
Mặc dù, các xí nghiệp tổ đội, xưởng của công ty được tổ chức độc lập,hoạt động sản xuất theo lĩnh vực, ngành nghề do công ty phân công, bố trí song
Trang 23các xí nghiệp, tổ đội, xưởng sản xuất có thể hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành côngviệc xây lắp một cách nhanh nhất, bảo đảm bàn giao đúng thời hạn, đúng tiêuchuẩn chất lượng công trình quy định
Có thể nói tổ chức sản xuất ở Công ty xây lắp điện nước và xây dựng làhợp lý giúp cho công tác qủan lý điều hành sản xuất được thuận tiện, đồng thờigắn được trách nhiệm của từng xí nghiệp, tổ, đội, xưởng với công việc mà đơn
vị đó thực hiện Từ đó, đóng góp nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn công ty
Trong nền kinh tế thị trường, cũng như bao doanh nghiệp Nhà nước khác.Công ty lắp máy điện nước và xây dựng tiến hành hoạt động sản xuất kinhdoanh nhằm mục đích bảo toàn, phát huy đồng vốn và thu lợi Tuy nhiên là mộtCông ty xây lắp, nhiệm vụ chính của công ty là phải lắp đặt điện nước và xâydựng các công trình, hạng mục công trình do Tổng công ty giao Ngoài ra công
ty còn chủ động tìm kiếm các công trình, hạng mục xây lắp trên mọi miền đấtnước nhằm tạo công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho họ vàgóp phần lợi nhuận cho công ty
2.4 Tình hình trang thiết bị máy móc của công ty.
Ngày đầu mới thành lập Công ty lắp máy điện nước và xây dựng chỉ có sốmáy móc thiết bị cũ kỹ (được trang bị từ thời xí nghiệp tiền thân của công tytrước đây) và số máy móc được trang bị mới đã gây nhiều khó khăn cho hoạtđộng kinh doanh của Công ty
Hiện nay, do sự giúp đỡ của cấp trên và tự đầu tư một số lượng máy mócthiết bị của Công ty đã được trang bị nhiều lên (chủ yếu là mua) với nhiều chủngloại máy móc thiết bị phục vụ công tác xây lắp Theo báo cáo sản xuát quý3/1998, công ty được trang bị thêm một xe cẩu TADANO 500E, một xe nânghàng, hai máy trộn bê tông, một máy gấp mép tôn, bốn máy zen Nhật, một máyphát hàn
Việc trang bị máy móc thiết bị như trên đã tạo điều kiện thuận lợi chocông ty thực thi các công trình xây lắp một cách nhanh hơn, gọn đảm bảo yêucầu kỹ thuật, mỹ thuật của công trình, từ đó góp phần thu hồi vốn nhanh, tăngvòng quay của vốn kinh doanh, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất