Cổ phần hoá - Một trọng những chủ trương quan trọng của quá trình cải tổ các doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trên cơ sở đổi mới tư duy kinh tế, những năm gần đây nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung ở nước ta đã từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trườngnhư một đòi hỏi tất yếu của sự phát triển Trong điều kiện cơ chế quản lý thayđổi, khi hiệu quả sản xuất kinh doanh trở thành yếu tố sống còn của mỗi doanhnghiệp thì các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước đã bộc lộ đầy đủnhững yếu kém, lâm vào tình trạng sa sút và khủng hoảng Vậy vấn đề đặt ra làlàm thế nào để cấu trúc lại sở hữu nhà nước và cải cách khu vực kinh tế nhànước nhằm nâng cao hiệu quả và vai trò của nó theo tinh thần các nghị quyết đạihội VI và VII của Đảng Vấn đề này đã được nhiều nhà kinh tế học, lý luận học,nghiên cứu kỹ lưỡng và họ đã đưa ra được những giải pháp cơ bản, phù hợp vớitình hình kinh tế nước ta hiện nay Một trong những giải pháp có tính chiến lượcnhất là "tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhằm đa dạng hoá sởhữu, đưa yếu tố cạnh tranh làm động lực tăng hiệu quả kinh doanh và xác lậpmột mô hình hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường" Xét trên một mức độ quantrọng của chiến lược này, đồng thời cũng là giải pháp có tính phổ biến để cảicách khu vực kinh tế nhà nước ở hầu hết các nước trên thế giới, nên tôi quyết
định chọn nghiên cứu đề tài "Cổ phần hoá - Một trọng những chủ trương quan trọng của quá trình cải tổ các doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta" với tư
cách là một công trình khoa học Tuy nhiên đây cũng là một vấn đề hết sức mới
mẻ đối với tình hình nước ta, nó vẫn còn đang được nghiên cứu, tìm tòi Vì vậy,trong khuôn khổ bài viết này tôi chỉ xin đề cập một vài suy nghĩ có liên quanđến đề tài
Trang 2I CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ KINH NGHIỆM CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1 Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là sự lựa chọn tất yếu
- Từ thực tiễn tiến hành công cuộc phát triển nền kinh tế đất nước theođịnh hướng XHCN và những kinh nghiệm thu được qua quá trình chỉ đạo, điềuhành sản xuất kinh doanh chúng ta đã xác định được rằng cải cách doanh nghiệpnhà nước một cách triệt để là yêu cầu có tính quyết định để tăng cường động lựcphát triển sản xuất và thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quảhơn
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã kiên trì tập trung tiến hànhcông tác Sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và đã đạt đượcmột số kết quả nhất định như giảm mạnh số lượng DNNN, nâng quy mô vốnbình quân, giảm bớt được sự tài trợ ngân sách, tạo nhiều điều kiện thuận lợi chocho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, bước đầu đã phát huyđược quyền chủ động kinh doanh của đơn vị kinh tế cơ sở, giảm mạnh sự canthiệp hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh
Tuy nhiên, do đặc điểm và thực trạng DNNN của nước ta quá trình nàyvẫn còn phải tiến hành một cách thận trọng, lâu dài vì phải giải quyết đồng bộnhiều vấn đề phức tạp trong cả lĩnh vực kinh tế và trong lĩnh vực đời sống xã hộimới đạt được kết quả mong muốn
Hiện nay, bên cạnh các khó khăn chủ quan xuất phát từ nơi bị nền kinh tế,thì biến động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực đang tiếp tục lanrộng và theo chiêù sâu cũng sẽ đồng thời ảnh hưởng theo chiều hướng xấu đếnnền kinh tế nước ta Điều này cho thấy tính cấp bách phải khẩn trương nâng caohiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế để đảm bảo cho sự phát triển đấtnước một cách ổn định, vững chắc không những cho những năm trước mắt mà
cả tương lai lâu dài Nghị quyết Hội nghị trung ương 4 (khoá VII) đã dành mộtphần quan trọng cho mục tiêu đổi mới mạnh mẽ các DNNN, phấn đấu đưachúng thực sự trở thành lực lượng chủ đạo dẫn dắt các doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế khác cùng phát triển, làm nòng cốt để thực hiện thành công
Trang 3tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế thế giới cóhiệu quả Tiếp theo, chính phủ đã có chỉ thị số 20/TTg ngày 21 - 4 - 1998 trong
đó đã đề ra chương trình, kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện vàquyết tâm thôngqua đợt sắp xếp này để hình thành một cơ cấu doanh nghiệp nhà nước hợp lýmạnh được quản lý tốt Cổ phần hoá là một trong những nội dung quan trọngtrong quá trình đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước
Cổ phần hoá DNNN lần đầu tiên được nên tại Nghị quyết Hội nghị lầnthứ 2 BCH Trung ương khoá VII (tháng 11 - 1994) và tiếp tục đựơc cụ thể hoátại Nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (tháng 1 - 1994), Nghị quyết
10, nghị quyết TW của Bộ Tài chính ngày 17 3 1995 Thông báo số 63/TB
-TƯ ngày 4 - 4 - 1997, và được khẳng định rõ hơn tại nghị quyết Hội nghị Trungương lần thứ 4 (khoá VIII)
1.1 Mục tiêu nhất quán của cổ phần hoá một bộ phận DNNN là để huy
động vốn, tạo điều kiện để người lao động được làm chủ thực sự trong doanhnghiệp, tạo động lực bên ngoài thay đổi phương thức quản lý nhằm nâng caohiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Về việc huy động vốn thì trong thời gian qua ngân sách nhà nước đã phảiđầu tư một tỷ trọng vốn lớn cho các doanh nghiệp nhà nước nhưng hiệu quả thulại rất thấp trong khi ngân sách nhà nước laị có hạn và phải dàn trải cho nhiềukhoản chi tiêu khác Qua số liệu điều tra năm 1995 (tổng cục thống kê) chothấy Trong 6544 DNNN (trong tổng số 7060 doanh nghiệp) đang hoạt động có
3268 doanh nghiệp thuộc diện giải thể hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu, chiếm49,95% số doanh nghiệp được nhà nước đầu tư Để xử lý tình trạng thiếu vốn vàtạo cơ chế quản lý tài chính có hiệu lực, thực sự rằng buộc trách nhiệm, trongsản xuất kinh doanh của các DNNN thì giải pháp cần làm là thực hiện cổ phầnhoá một số DNNN
Cổ phần hoá cho phép tách quyền sở hữu và quyền quản lý tài sản củadoanh nghiệp nhằm đưa lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp Cổ phần hoá sẽhuy động các nguồn vốn nhãn rỗi trong xã hội một cách nhanh chóng để pháttriển sản xuất kinh doanh Khi doanh nghiệp làm ăn có lãi thì nguồn vốn dồi dào
Trang 4trong dân cư sẽ đổ vào nơi có lợi nhuận cao, làm cho các doanh nghiệp cổ phầnhoá, ngày càng có vốn lớn từ đó có điều kiện trang bị kỹ thuật hiện đại hơn, mởrộng sản xuất Đồng thời đồng vốn ngày càng sử dụng tốt tái tạo điều kiện chodoanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu liên tục Cổ phiếu có thể chuyểnnhượng cho nhau sẽ thúc đẩy lưu thông tiền vốn Mặt khác doanh nghiệp có thểphát hành trái phiếu để bổ sung thêm vốn khi cần thiết Các doanh nghiệp khi đã
cổ phần hoá sẽ liên doanh được với các doanh nghiệp trong và ngoài nước từ đó
sẽ thu hút được nhiều vốn hơn nữa
1.2 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 202/CT ngày
8/6/1992 và chỉ thị số 84/TTg ngày 4/3/1993 về việc thí điểm cổ phần hoá vàgiải pháp đa dạng hoá các hình thức sở hữu đối với các DNNN Trong chủtrương này một trong những vấn đề mà người lao động rất quan tâm khi cổ phầnhoá là việc làm và thu nhập của họ có được bảo đảm không?
Vấn đề này đặt ra cũng là câu hỏi hết sức đáng chú trọng đối với nhữngnhà chức trách nói chung và các DNNN nói riêng Nhưng thực tế ở những doanhnghiệp đã cổ phần hoá cho thấy, sau khi chuyển thành công ty cổ phần việc làm
và thu nhập của người lao động không những được baỏ đảm mà các công ty cònthu hút thêm hơn 1000 lao động mới vào làm việc, tiền lương và thu nhập của
họ cũng tăng đáng kể Chẳng hạn: Công ty chế biến thức ăn gia súc VIFOCO,trước cổ phần hoá gặp không ít khó khăn trong sản xuất kinh doanh, sản phẩmlàm ra không tiêu thụ được dẫn đến thiếu việc làm, thu nhập thấp, sau khichuyển thành công ty cổ phần, nhờ thu hút được vốn đầu tư cho sản xuất, đổimới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý, tình hình sản xuất kinh doanh đã
có những thay đổi rõ rệt, sản phẩm của công ty được tiêu thụ rất mạnh trên thịtrường Trước cổ phần hoá trung bình 1 năm công ty chỉ tiêu thụ được 6000 tấnthức ăn gia súc các loại, sau cổ phần hoá (1996) mức tiêu thụ sản phẩm tăng lêngấp 3 lần so với trước (18500 tấn) Số lao động cũng tăng lên đáng kể, trước cổphần hoá (1994) công ty có 92 cán bộ công nhân viên, sau cổ phần hoá (1996)
đã tăng lên 123 người Đời sống của công nhân lao động được cải thiện mộtcách rõ rệt thể hiện ở thu nhập bình quân hàng tháng, trước cổ phần hoá bình
Trang 5quân thu nhập của cán bộ CNV trong công ty là 524đ/tháng Sau cổ phần hoá(1996) thu nhập bình quân là 1,2 triệu đồng/tháng.
- Cũng như nhiều DNNN khác, trước cổ phần hoá công ty cơ điện lạnhcũng gặp không ít khó khăn, nhất là về vốn và việc làm của người lao động, từkhi có quyết định chuyển thành công ty cổ phần (tháng 10/1995) nhờ phát hành
cổ phiếu có thêm vốn đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo việc làm mới, thu hút thêmnhiều lao động vào làm việc Trước cổ phần hoá công ty có 334 công nhân viên,sau khi chuyển thành công ty cổ phần, hàng năm số lao động mới được tuyểnvào làm việc đều tăng Năm 1994 công ty thu hút 84 người vào làm việc năm
1995 thu hút 79 người, năm 1996 công ty thu hút thêm 153 người Như vậy sau
3 năm cổ phần hoá công ty cơ điện lạnh đã tạo ra 313 chỗ làm việc mới đưa tổng
số lao động trong công ty từ 334 người (1993) lên 647 người (1996)
- Về tiền lương của người lao động không những việc được bảo đảm màcòn tăng đáng kể so với khi còn là DNNN Trước cổ phần hoá tiền lương củangười lao động là 647 ngàn đồng/tháng đến năm 1996 lương bình quân là 1,3triệu đồng/tháng
Đại lý liên hiệp vận chuyển cũng là một trong những doanh nghiệp đi đầutrong công tác cổ phần hoá Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cho thấycác năm sau đều cao hơn so với các năm trước Đặc biệt là việc làm và thu nhậpcủa người lao động Năm 1993 trước khi chuyển thành công ty cổ phần, đơn vị
có 56 cán bộ công nhân viên, sau cổ phần hoá (CPH) (1994) số lao động tănglên 156 người, năm 1996 tăng lên 268 người Thu nhập của người lao động tăng
từ 800 nghìn đồng/tháng (1993) lên 1,4 triệu đồng (1994) và 2,5 triệuđồng/tháng (1996)
Tình hình sản xuất kinh doanh, vấn đề lao động việc làm và thu nhập củangười lao động ở các công ty cổ phần còn lại những đều tăng cao hơn so với khicác doanh nghiệp này chưa chuyển thành công ty cổ phần
Qua những con số nêu trên cho thấy các DNNN thực hiện cổ phần hoákhông những bảo đảm được các mục tiêu kinh tế là huy động vốn, phát triển sảnxuất kinh doanh mà còn bảo đảm được các mục tiêu xã hội như phát huy vai
Trang 6trò làm chủ của công nhân lao động, tạo việc làm mới, tăng thu nhập làm chongười lao động an tâm tham gia vào quá trình cổ phần hoá, thúc đẩy quá trìnhnày tiến lên nhanh, vững chắc đạt được những mục tiêu của chính phủ đã đề ra.
1.3 Cổ phần hoá động lực mới trong quản lý doanh nghiệp.
Cổ phần hoá hình thức sở hữu tại doanh nghiệp đã chuyển từ sở hữu nhànước sang sở hữu hỗn hợp từ đây đã dẫn tới những thay đổi quan trọng về hìnhthức tổ chức, quản lý cũng như phương hướng hoạt động của công ty
Ở công ty cổ phần quyền lợi của những người chủ mới gắn chặt với thànhbại của hoạt động sản xuất kinh doanh vì thế họ rất đoàn kết, gắn bó và thốngnhất trong việc tìm kiếm và đưa ra phương hướng hoạt động phù hợp nhất củadoanh nghiệp nhằm củng cố, tăng cường sức cạnh tranh của sản phẩm do họ sảnxuất ra, quan tâm đến công việc của côn ty và lao động tích cực với tinh thầntrách nhiệm cao, khắc phục việc buông lỏng quản lý tài sản của doanh nghiệp,xoá bỏ tình trạng "vô chủ" của doanh nghiệp Mặc dù chủ trương trao quyền tựquản cho các DNNN là giải pháp đã đạt kết quả nhất định, nhưng mới chỉ đẩylùi được chế độ bao cấp của nhà nước đối với DNNN, còn về phân thức thì tàisản của DNNN "vẫn là tài sản chung" cho nên tình trạng vô trách nhiệm, lãngphí của công vẫn chưa được khắc phục Khi doanh nghiệp nhà nước trở thànhcông ty cổ phần thì điều này, mặc nhiên sẽ không còn tồn tại
1.4 Cổ phần hoá chính là quá trình " Chuyển DNNN thành công ty cổ phần" Vậy một câu hỏi đặt ra là:"Công ty cổ phần có phải là mô hình doanh
nghiệp thích hợp với những đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường haykhông?" Trả lời câu hỏi này chính là xác định cơ sở khoa học cho định hướngchuyển đổi các DNNN thành công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường củanước ta hiện nay
1.4.1 Lịch sử hình thành công ty cổ phần, đặc điểm vận động và phát triển của sở hữu tư nhân trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường:
Sở hữu xét về bản chất là quan hệ sở hữu của con người đối với tự nhiênthông qua lao động sản xuất Không có lao động, hoạt động có bản chất của conngười thì không có sự chiếm hữu nào cả và do đó cũng không thể có sở hữu
Trang 7Trong nền kinh tế thị trường (KTTT), lao động của con người mang tính chấthai mặt: Lao động cụ thể và lao động trừu tượng Do đó, sở hữu tư nhân đượcthực hiện trong quá trình lao động Sản xuất cũng mang tính hai mặt: sở hữumang tính chất xã hội - phản ánh sự tìm kiếm và tăng thêm giá trị như là độnglực mục đích của sở hữu, mặt khác sở hữu lại mang tính chất tư nhân - phản ánh
sự chiếm hữu một giá trị sử dụng nhất định dưới dạng hàng hoá hay dịch vụ nhấtđịnh Điều này cho thấy, chỉ từ khi của cải mang hình thái là một giá trị thì dotính chất hai mặt của nó, sở hữu đã trở thành một quan hệ giá trị vận động Cáchình thức chiếm hữu tư nhân cụ thể chỉ là phương tiện để bảo tồn và tăng thêmgiá trị như là mục đích của sở hữu Sự vận động mang tính chất hai mặt này của
sở hữu cho phép có sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền kinh doanh, trong
đó quyền sở hữu chỉ là việc nắm quyền chi phối giá trị nhằm mục đích tìm kiếmmột giá trị lớn hơn, còn quyền kinh doanh là thực hiện một hoạt động cụ thểnhất định để tạo ra giá trị - nó là phương tiện để tăng giá trị Chính nhờ sự táchbiệt này đã cho phép một chủ sở hữu có thể tham gia vào nhiều hoạt động kinhdoanh và ngược lại, một hoạt động kinh doanh có nhiều chủ sở hữu thamgia.Nhờ đó nó đã góp phần tạo ra những tầng lớp thực lợi trong xã hội Khôngtrực tiếp kinh doanh nhưng vẫn thu lợi bằng quyền sở hữu của mình
Có thể nói, nhờ có sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá, tính chất 2mặt của sở hữu tư nhân mới được bộc lộ và ngày càng phát triển cùng với quátrình xã hội hoá nền sản xuất xã hội Trong lịch sử, quá trình này được thực hiệnbởi hai nhân tố:
+ Thông qua trao đổi: Quá trình vận động xã hội hoá sở hữu chuyển hoátheo xu hướng :tư liệu sản xuất ngày càng tách khỏi bản thân người lao độngnhư là những người tư hữu nhỏ, và các tư liệu sản xuất ngày càng tập trung lạitrong quá trình xã hội hoá với sự thống trị của tư bản (lúc ban đầu là tư bảnthương nghiệp về sau là tư bản nông nghiệp, và ngày nay là tư bản tài chính)
+ Thông qua sự phát triển của chế độ tín dụng: (bao gồm tín dụng thươngnghiệp và tín dụng ngân hàng) Quá trình vận động xã hội hoá sở hữu được thựchiện theo xu hướng: 1 mặt nó làm cho hình thức chiếm hữu tư nhân phụ thuộc
Trang 8lẫn nhau bởi các quan hệ kinh tế móc xích chằng chịt với nhau và dần dần hoànhập vào nhau trong quá trình tái sản xuất xã hội, mặt khác nó làm cho các hìnhthái chiếm hữu được tập trung lại trên phạm vi xã hội Nhờ quá trình này việc
mở rộng quy mô kinh doanh không còn phụ thuộc vào sự tích tụ của từng chủ sởhữu, riêng lẻ, mà thông qua các hình thức tín dụng cơ chế tập trung tư bản xãhội, và mở rộng quy mô kinh doanh lên gấp nhiều lần
Như vậy, sự phát triển của hệ thống trao đổi và tín dụng đã giúp cho quátrình xã hội hoá sở hữu tư nhân đạt đến trình độ cho phép hình thành hệ thốngngân hàng, thị trường tài chính và công ty cổ phần Cùng với sự phát triển củanền kinh tế thị trường các bộ phận trên ngày càng gắn kết với nhau tạo thành bộmáy xã hội khổng lồ thúc đẩy qúa trình xã hội hoá nền sản xuất Cũng về sau sựphát triển đó càng đòi hỏi sự tham gia của nhà nước như một chức năng kinh tế
xã hội để đảm bảo tính định hướng và sự phát triển nền kinh tế thị trường
1.4.2 Công ty cổ phần là sản phẩm của nền kinh tế thị trường.
Về mặt lý thuyết, chúng ta đều thấy rằng hình thái doanh nghiệp dướidạng công ty cổ phần là sản phẩm của một quá trình tiến hoá lâu dài gắn liền vớinhững nấc thang phát triển của xã hội hoá sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thịtrường Về mặt lịch sử chúng ta có thể nhận thấy quá trình tiến hoá của các hìnhthái doanh nghiệp được đặc trưng bởi 3 loại hình chủ yếu tương ứng với 3 mức
độ phát triển cảu xã hội hoá sở hữu tư nhân, mặc dù biểu hiện trung gian giữachúng hết sức đa dạng và linh hoạt
+ Hình thái kinh doanh một chủ
+ Hình thái kinh doanh chung vốn
+ Hình thái công ty cổ phần
Hình thái công ty cổ phần, ra đời đánh dấu sự tiến hoá của chế độ tín dụng
từ kinh doanh chủ yếu dựa vào vay mượn qua ngân hàng hoặc chung vốn sanghuy động vốn trên thị trường tài chính, trong đó chủ yếu là thị trường chứngkhoán Trong hình thái kinh doanh này có hai loại hình chủ yếu: Công ty tráchnhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu Có thể thấy rằng công
ty cổ phần ra đời mang những đặc điểm mới cho phép nó thích ứng với những
Trang 9đòi hỏi của sự phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại mà những hình tháikhác không đáp ứng được đó là:
* Công ty cổ phần là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân và các
cổ đông chỉ có trách nhiệm pháp lý hữu hạn trong phần vốn góp của mình
* Cơ cấu tổ chức trong công ty cổ phần đã thực hiện được việc tách biệtquyền sở hữu và quyền kinh doanh, tạo nên một hình thái xã hội hoá sở hữu củamột bên là đông đảo công chúng mua cổ phần còn là đội ngũ các nhà quản trịkinh doanh chuyên nghiệp sử dụng tư bản xã hội cho những công cuộc kinhdoanh quy mô lớn
* Các cổ phiếu và trái phiếu của công ty cổ phần được chuyển nhượng dễdàng trên thị trường chứng khoán vì thế bất kể cổ phiếu được chuyển chủ baonhiêu lần, cuộc sống của doanh nghiệp vẫn tiếp tục một cách bình thường màkhông bị ảnh hưởng Đồng thời nhờ cơ chế này nó đã tạo sự di chuyển linh hoạtcác luồng vốn xã hội theo các nhu cầu và cơ hội đầu tư đa dạng của công ty vàcông chúng
Tóm lại, sự trình bày khái quát các nấc thang tiến hoá của hình thái doanhnghiệp dựa trên đặc điểm tách biệt của sở hữu tư nhân trong quá trình xã hộihoá, sản xuất có thể khẳng định xu hướng phát triển tất yếu của công ty cổ phầntrong nền kinh tế thị trường ở nước ta Qua đó cho ta thấy việc tiến hành quátrình chuyển đổi mô hình doanh nghiệp sở hữu toàn phần của nhà nước thànhcác công ty cổ phần bằng con đường cổ phần hoá là một đòi hỏi khách quantrong quá trình cải tổ khu vực kinh tế nhà nước phù hợp với việc xây dựng mộtnền kinh tế thị trường hiện đại
2 Kinh nghiệm cổ phần hoá DNNN ở một số nước, bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
2.1 Kinh nghiệm chung của các nước trên thế giới về cổ phần hoá.
Trong việc xác định các mục tiêu để tiến hành cổ phần hoá DNNN cácnước cho rằng: 1) Nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN 2) giảm thâmhụt ngân sách nhà nước là những mục tiêu đầu tiên và trực tiếp Ngoài ra tuỳ
Trang 10theo điều kiện mỗi nước mà các mục tiêu cổ phần hoá được bổ sung thêm ítnhiều.
2.2 Kinh nghiệm cổ phần hoá ở những nước tư bản phát triển.
1) Thu hút các nhà đầu tư tư nhân vào những ngành, những lĩnh vực lâunay nhà nước độc quyền những xét thấy không còn cần thiết nữa 2) Nhà nước
có điều kiện tập trung vào những ngành và những lĩnh vực then chốt khác nhằm
ổn định kinh tế vĩ mô và tạo cơ sở cho sự tăng trưởng mới 3) Thực hiện phânphối có lợi cho các tầng lớp dân cư có thu nhập thấp tạo sự ổn định về mặt xãhội
2.3 Kinh nghiệm cổ phần hoá ở Trung Quốc.
- Giảm gánh nợ nước ngoài
- Thu hút đầu tư nước ngoài
Cụ thể là: Cổ phần hoá DNNN ở Trung Quốc
- Trung Quốc bắt đầu thí điểm cổ phần hoá DNNN của họ vào đầu nhữngnăm 1980, họ đã gặt hái được một số kinh nghiệm đáng chú ý Từ ngày 22 đếnngày 25/8/1987 tại Hàng Châu (Sơn Tây) Chính phủ Trung Quốc đã tổ chức hộinghị thảo luận về 3 năm thực hiện cổ phần hoá Chỉ tính riêng trong 5 tỉnhthành phố (Thẩm Dương, Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Châu, Thiểm Tây) đã
có tên 1000 xí nghiệp quốc doanh cổ phần hoá với tổng số vốn lên tới hàng chục
tỷ nhân dân tệ Ngày 25/7/1984 thành lập công ty cổ phần đầu tiên của cả nướcvới số vốn cổ phần của bên ngoài công ty lên đến 5.318.000 nhân dân tệ, chiếm73,6% tổng giá trị doanh nghiệp
2.3.1 Hình thức cổ phần của Trung Quốc.
a Cơ cấu cổ phần
Cơ cấu cổ phần của doanh nghiệp gồm cổ phần nhà nước, cổ phầnCBCNV trong doanh nghiệp và cá nhân ngoài doanh nghiệp
b Chế độ cổ phần hữu hạn
Vốn cổ phần của các xí nghiệp này do những xí nghiệp nhà nước tập thể,
và tư nhân đóng góp Những xí nghiệp tham gia liên hiệp xí nghiệp cổ phần có
Trang 11thể dùng tài sản dưới những hình thái khác nhau như: tiền vốn, tài sản cố định
tư của nhà nước vào những xí nghiệp thuộc sở hữu toàn dân bao gồm: tài sản cốđịnh, vốn lưu động do nhà nước cấp Cổ phần xí nghiệp nói chung là chỉ tài sảnđược hình thành từ lợi nhuận để lại cho xí nghiệp Cổ phần xã hội là cổ phần màcác tầng lớp xã hội ở ngoài xí nghiệp đã mua Cổ phần cá nhân là cổ phần màcông nhân trong xí nghiệp và nhân dân mua bằng những thu nhập cá nhân từnguồn vốn nhàn rỗi của họ
2.3.3.Phân phối lợi nhuận.
Nhìn chung có 3 cách phân phối lợi nhuận:
a Lợi nhuận hình thành trước hết phải trả các khoản vay của ngân hàng,sau đó căn cứ vào các luật thuế để nộp các loại thuế cho nhà nước Phần lợinhuận còn lại phân phối cho các quỹ căn cứ vào số lượng các quỹ và tỉ lệ cụ thểcủa mỗi quý do HĐQT quyết định căn cứ vào những quy định có liên quan củanhà nước
b Hạ thấp mức thuế doanh thu, phần lợi nhuận còn lại sau khi nộp thuếtrả nợ sẽ đem phân bố các quỹ
c Lợi nhuận thực hiện còn lại của xí nghiệp được phân bổ cho các quỹsau khi nộp thuế, tiền phạt nếu chiếm dụng vốn của nhà nước hoặc của các xínghiệp khác, trả nợ và trả lãi ngân hàng
2.3.4 Phân phối lợi tức cổ phần.
Trang 12Cơ bản đều căn cứ vào tỷ lệ cổ phần để chia lợi tức được hưởng khi hoạtđộng kinh doanh có lãi và chịu thiệt hại, tổn thất khi thua lỗ, lợi tức được phânchia dưới dạng 1 khoản thu nhập cố định hoặc dưới dạng biến động phụ thuộcvào khối lượng lợi nhuận thu được trong quá trình sản xuất kinh doanh.
2.4 Bài học kinh nghiệm từ việc cổ phần hoá ở các nước trên thế giới đối với Việt Nam.
2.4.1 Tính phổ biến của quá trình cổ phần hoá.
Sự triển khai có tính chất toàn cầu của quá trình này tạo ra một tươngquan hợp lý giữa sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân giữa sự điều tiết của nhànước và của thị trường Vì vậy tiến hành cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam làmột vấn đề không thể bỏ qua, một đòi hỏi khách quan để chuyển nền kinh tế thịtrường có sự điều tiết định hướng của Nhà nước và khai thác các động lực củathị trường Đặc biệt Việt Nam ta nên học tập hình thức cổ phần hoá DNNN củaTrung Quốc một quốc gia rộng lớn song có nhiều nét tương đồng với chúng ta
2.4.2 Tính đặc thù của quá trình cổ phần hoá DNNN.
Đó là sự phản ánh các sắc thái khác nhau về mục tiêu, cách thức tổ chức,bước đi và các biện pháp cụ thể do những đặc điểm về điều kiện chính trị, kinh
tế - xã hội cao mỗi nước chính phủ quy định, ở nước ta cũng không thể khôngchú ý đến tính đặc thù về các điều kiện quy định quá trình này để có sự sàng lọckinh nghiệm các nước và chuẩn bị kỹ càng các điều kiện vận dụng vào hoàncảnh Việt Nam
2.4.3 Tính chiến lược của quá trình cổ phần hoá.
Hầu hết các nước đều coi cổ phần hoá là một bộ phận của quá trình cảicách toàn bộ nền kinh tế, do đó nó đòi hỏi phải được suy xét và hành động mangtính chiến lược cao khi xác định các mục tiêu về cơ cấu và tương quan giữa cáclĩnh vực và khu vực kinh tế để dịch chuyển phân bổ các nguồn lực và quyền lựccho các nhóm người sở hữu và quản lý khác nhau Vì vậy, ở hầu hết các nướcđều lập ra một cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm thực hiện quá trình này theonhững quan điểm chiến lược đề ra ở nước ta, với quy mô và tính chất quantrọng của chương trình cổ phần hoá, nhà nước không thể suy xét nó ở tầm chiến