Thực trạng cổ phần hóa những kết quả tích cực và khó khăn cần tháo gỡ
Trang 1Lời nói đầu
Đất nớc ta hiện nay đang thực hiện công cuộc đổi mới mà Đảng và Nhà
n-ớc đã đề ra từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) Trong công cuộc đổi mới này,vấn đề phát triển một nền Kinh tế thị trờng với sự tham gia của nhiều thành phầnkinh tế theo định hớng xã hội chủ nghĩa trong đó kinh tế Nhà nớc đóng vai tròchủ đạo là một mục tiêu hết sức quan trọng Thực tế cho thấy, qua gần 15 nămphát triển kinh tế theo đờng lối này, nền kinh tế thị trờng nớc ta đã bớc đầu thu
đợc nhiều thành tựu rất đáng khích lệ Tuy nhiên, nền kinh tế của chúng ta vẫncòn là một nền kinh tế thị trờng ở dạng sơ khai và trớc mắt còn phải đối mặt vớirất nhiều khó khăn và thử thách
Một trong những khó khăn, bất ổn mà chúng ta cần phải nói tới đó là sựyếu kém của khu vực kinh tế Nhà nớc nói chung mà nói riêng là là hệ thống cácdoanh nghiệp Nhà nớc (DNNN) Có thể nói trong điều kiện cơ chế quản lý thay
đổi, khi hiệu quả sản xuất kinh doanh trở thành yếu tố sống còn của mỗi doanhnghiệp thì các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nớc đã thực sự bộc lộnhững yếu kém của mình nh: công nghệ lạc hậu, tài sản manh mún, cơ chế quản
lý cứng nhắc, trình độ quản lý thấp kém, tinh thần ngời lao động sa sút Nóichung phần lớn các doanh nghiệp Nhà nớc đều lâm vào tình trạng khủng hoảng,trì trệ, làm ăn cầm chừng
Nhận thức đợc điều đó, trong những năm qua Đảng và Nhà nớc ta đã cónhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Khu vực kinh tế Nhà n-
ớc nh cổ phần hoá một bộ phận DNNN, sắp xếp lại các DNNN, giải thề cácdoanh nghiệp làm ăn không hiệu quả trong đó cổ phần hoá đợc coi là giải pháphàng đầu, có khả năng mang lại lợi ích hài hoà cho Nhà nớc cũng nh nhiều bộphận xã hội khác
Chính vì vậy việc nghiên cứu về cổ phần hoá trong thời điểm hiện nay tuykhông phải là mới mẻ nhng lại rất cần thiết, đặc biệt là đối với những sinh viênngành Kinh tế & Quản trị kinh doanh Thông qua việc tìm hiều nội dung củachính sách cổ phần hoá và các vấn đề có liên quan, chúng ta sẽ có những đánhgiá khách quan hơn về những hiệu quả cũng nh những khó khăn hạn chế của cổphần hoá, từ đó có thể đa ra một số giải pháp nhằm tháo gỡ những hạn chế đó
Với lý do đó, mặc dù trình độ bản thân còn nhiều hạn chế, nhng tôi xinmạnh dạn đa ra một số quan điểm nghiên cứu, su tầm về vấn đề này
Nghiên cứu vấn đề cổ phần hoá, tiểu luận của em đợc chia làm 3 phầnchính nh sau:
Phần A: Lý luận chung về cổ phần hoá và sự cần thiết phải tiến hành cổ
phần hoá ở Việt Nam
Trang 2 PhÇn B: Thùc tr¹ng cæ phÇn ho¸ - Nh÷ng kÕt qu¶ tÝch cùc vµ nh÷ng khã
kh¨n cÇn th¸o gì
PhÇn C: Mét sè gi¶i ph¸p nh»m thóc ®Èy cæ phÇn ho¸.
Trang 3Phần A: Lý luận chung về cổ phần hoá và sự cần thiết
phải tiến hành cổ phần hoá ở Việt Nam
I Lý luận chung về cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam
1 Quan niệm về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc
Chúng ta có thể hiểu, cổ phần hoá là việc chuyển đổi các loại hình doanhnghiệp không phải công ty cổ phần sang hoạt động theo quy chế của công ty cổphần
Từ quan niệm trên, kết hợp với điều kiện cụ thể ở nớc ta, có thể đa ra khái
niệm cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc là việc chuyển doanh nghiệp mà chủ sở hữu là Nhà nớc (doanh nghiệp đơn sở hữu) thành công ty cổ phần (doanh nghiệp đa sở hữu), chuyển doanh nghiệp từ chỗ hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhà nớc sang hoạt động theo các quy định về công ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp.
Từ nghị quyết của Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng khoáVII(6/1992), tiếp theo đó là quyết định số 202/CT(6/1992) của Chủ tịch Hội
đồng Bộ trởng (nay là Thủ tớng Chính phủ), rồi tới các nghị định số28/CP(7/5/1996), 25/CP(23/7/1997) và nghị định 44/CP(29/6/1998), cổ phần hoáluôn đợc Đảng và Nhà nớc xác định là việc chuyển các DNNN thành các Công
ty cổ phần nhằm thực hiện các mục tiêu:
- Chuyển một phần sở hữu Nhà nớc sang sở hữu hỗn hợp
- Huy động vốn của toàn xã hội
- Tạo điều kiện để ngời lao động trở thành ngời chủ thực sự trong doanh nghiệp
- Thay đổi phơng thức quản lý trong doanh nghiệp
Nh vậy có thể thấy so với các nớc đã và đang tiến hành CPH trên thế giới,
ở nớc ta, chủ trơng CPH DNNN lại xuất phát từ đờng lối kinh tế và đặc điểmkinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay: chúng ta đang bố trí lại cơ cấu kinh tế vàchuyển đổi cơ chế quản lý cho phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản của Nhà nớc Đó là đặc điểm lớnnhất chi phối, quyết định mục đích nội dung và phơng thức CPH DNNN Vì vậy
về thực chất CPH ở nớc ta là nhằm sắp xếp lại DNNN cho hợp lý và hiệu quả,còn việc chuyển đổi sở hữu của Nhà nớc thành sở hữu của các cổ đông trongcông ty cổ phần chỉ là một trong những phơng tiện quan trọng để thực hiện mục
đích trên
2 Nội dung cổ phần hoá
Với mục tiêu nh trên, tiến trình CPH đã dành đợc sự quan tâm đặc biệt của
Đảng, Chính phủ và các ban ngành, chính quyền địa phơng Trong suốt gần 10
Trang 4năm thực hiện, nhiều văn bản pháp qui quy định chi tiết nội dung cổ phần hoáDNNN đã đợc ban hành nhằm đa công tác CPH phù hợp với từng giai đoạn Đặcbiệt Nghị định 44/CP(29/6/1998) của Chính phủ quy định chi tiết nội dung CPHbao gồm: đối tợng cổ phần hoá, hình thức cổ phần hoá, xác định giá trị doanhnghiệp, đối tợng mua cổ phần và phân tích đánh giá thực trạng doanh nghiệp.
2.1 Về đối tợng cổ phần hoá
Xuất phát từ thể chế chính trị, lịch sử, để phù hợp với hoàn cảnh và điềukiện kinh tế nớc ta, đối tợng thực hiện cổ phần hoá là những DNNN hội tụ đủ 3
điều kiện: có quy mô vừa và n; không thuộc diện Nhà nớc giữ 100% vốn đầu t;
có phơng án kinh doanh hiệu quả hoặc tuy trớc mắt có khó khăn nhng triền vọng tốt.
Trong 3 điều kiện này, điều kiện thứ 2 (doanh nghiệp không thuộc diệnNhà nớc giữ 100% vốn đầu t) đợc coi là quan trọng nhất bởi những DNNN giữ100% vốn đầu t là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nớc, là đòn bẩy kinh tế, đảmbảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, theo đúng định hớng XHCN
2.3 Trên cơ sở đã lựa chọn hình thức CPH, khâu tiếp theo đó là xác định giá trị doanh nghiệp:
Đây là một khâu quan trọng và thờng chiếm nhiều thời gian, công sứcnhất trong quá trình CPH Có 2 nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp đợc đa
ra, đó là:
Giá trị thực tế là giá toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời
điểm cổ phần hoá mà ngời mua, ngời bán cổ phần đều chấp nhận đợc Ngời mua
và ngời bán cổ phần sẽ thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, đôi bên cùng cólợi Tại các nớc có nền kinh tế phát triển, thoả thuận này diễn ra trên thị trờngchứng khoán, còn ở nớc ta thoả thuận có thể diễn ra thông qua các công ty môigiới, kiểm toán (đã diễn ra trên thị trờng chứng khoán nhng cha phổ biến) Trêncơ sở xác định đợc giá trị thực tế của doanh nghiệp, giá trị thực tế phần vốn Nhànớc tại doanh nghiệp sẽ là phần còn lại của giá trị thực tế sau khi đã trừ đi cáckhoản nợ phải trả
Trang 5Cơ sở xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp đó là số liệu trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp tại thời điểm CPH và giá trị thực tế của tài sản tại doanh nghiệp đợc xác định trên cơ sở hiện trạng về phẩm chất, tính năng kỹ thuật, nhu cầu sử dụng của ngời mua tài sản và giá thị trờng tại thời điểm CPH.
Nguyên tắc này đợc đặt ra để đảm bảo tính khách quan trong việc xác định giátrị doanh nghiệp
Thực tế việc CPH các doanh nghiệp cho thấy, các doanh nghiệp đăng kýCPH thờng có xu hớng định thấp giá trị doanh nghiệp, thông qua việc khai báokhông chính xác nh khai thấp giá trị TSCĐ của doanh nghiệp, khai không đúnglợng vốn…từ đó ảnh htừ đó ảnh hởng tiêu cực đến việc định giá trị doanh nghiệp và gâythiệt hại cho Nhà nớc Ngợc lại, hiện tợng cơ quan kiểm toán định giá cao hơngiá trị thực của doanh nghiệp lại có thể làm thiệt hại cho ngời mua cổ phần
2.4 Về việc xác định đối tợng mua cổ phần và cơ cấu phân chia cổ phần
Các đối tợng đợc phép mua cổ phần đó là: các tổ chức kinh tế, tổ chức xãhội, công dân Việt Nam, ngời nớc ngoài định c ở Việt Nam trong đó CBCNV tạicác DNNN là đối tợng đợc u tiên mua cổ phần
Về số lợng cổ phần đợc mua có quy định nh sau:
- Loại doanh nghiệp mà Nhà nớc giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt:Một pháp nhân đợc mua không quá 10%, một cá nhân đợc mua không quá 5%tổng số cổ phần của doanh nghiệp
- Loại doanh nghiệp mà Nhà nớc không nắm cổ phần chi phối, cổ phần
đặc biệt: Một pháp nhân đợc mua không quá 20%, một cá nhân đợc mua khôngquá 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp
- Loại DNNN không tham gia cổ phần: không hạn chế số lợng cổ phần lần
đầu mỗi pháp nhân và cá nhân đợc mua nhng phải đảm bảo số cổ đông tối thiểutheo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp
Trên đây là mức quy định cụ thể về đối tợng mua cũng nh mức mua cổphần, tuy nhiên nghị định 44/CP đã có sự điều chỉnh nhằm khuyến khích việcmua cổ phần Cụ thể là mọi ngời mua cổ phần sẽ đợc vay một cổ phiếu khi muamột cổ phiếu bằng tiền mặt Với ngời lao động, họ sẽ đợc Nhà nớc bán cổ phầnvới mức giá thấp hơn 30% so với giá bán cho các đối tợng khác, mỗi năm làmviệc tại doanh nghiệp đợc mua tối đa 10 cổ phần Đối với ngời lao động nghèotrong doanh nghiệp cổ phần hoá, ngoài việc đợc mua cổ phần u đãi họ còn đợchoãn trả tiền mua cổ phần trong 3 năm đầu mà vẫn đợc hởng cổ tức, số tiền này
sẽ trả dần trong 10 năm không phải trả lãi
II Đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống DNNN và sự cần thiết phải tiến hành CPH ở Việt Nam
1 Tình hình hoạt động của các DNNN tại Việt Nam hiện nay
Trang 6Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị ờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay, khu vực Kinh tế Nhà nớc phải giữ vaitrò chủ đạo nhằm chi phối nền kinh tế quốc dân cũng nh giúp đỡ các thành phầnkinh tế khác Song trên thực tế, hiệu quả hoạt động của khu vực Kinh tế Nhà nớcnói chung và hệ thống DNNN nói riêng còn tồn tại rất nhiều yếu kém.
tr-Trên địa bàn cả nớc hiện nay, chúng ta có khoảng 5800 DNNN nắm giữ88% tổng số vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế nhng hiệu quả kinhdoanh rất thấp Chỉ có trên 40% DNNN là hoạt động có hiệu quả, trong đó thực
sự làm ăn có lãi và lâu dài chỉ chiếm dới 30% Trên thực tế, DNNN nộp ngânsách chiếm 80-85% tổng doanh thu, nhng nếu trừ khấu hao cơ bản và thuế giánthu thì DNNN chỉ đóng góp đợc trên 30% ngân sách Nhà nớc Đặc biệt nếu tính
đủ chi phí và TSCĐ, đất tính theo giá thị trờng thì các DNNN hoàn toàn khôngtạo ra đợc tích luỹ
Đánh giá thực lực các DNNN trên 3 mặt: vốn - công nghệ-trình độ quản
lý, có thể thấy:
Vốn: Các doanh nghiệp luôn trong trạng thái đói vốn Tình trạng doanh
nghiệp phải ngừng hoạt động do thiếu vốn kinh doanh đã xuất hiện Tình trạngdoanh nghiệp không có vốn và không đủ khả năng huy động vốn để đổi mớicông nghệ đợc coi là phổ biến Trong khi đó, hiệu quả sử dụng vốn thấp kém,thất thoát vốn của Nhà nớc ngày càng trầm trọng Năm 1998 chỉ tính riêng số nợkhó đòi và lỗ luỹ kế của các DNNN đã lên đến 5.005 tỷ đồng Theo Tổng cụcQuản lý vốn và tài sản Nhà nớc tại doanh nghiệp, trong số gần 5800 DNNN, chỉ40,4% đợc đánh giá là hoạt động có hiệu quả (bảo toàn đợc vốn, trả đợc nợ, nộp
đủ thuế, trả lơng cho ngời lao động và có lãi); 44% số doanh nghiệp hoạt độngcha có hiệu quả, khó khăn tạm thời; còn 15,6% số doanh nghiệp hoạt độngkhông hiệu quả Tổng cộng, có tới trên 59,6% DNNN hoạt động kém hiệu quả
Công nghệ: Công nghệ của các DNNN lạc hậu so với trình độ chung của
khu vực và của thế giới (thờng từ 2-3 thế hệ, cá biệt có công nghệ lạc hậu tới 5-6thế hệ), 76% máy móc thiết bị thuộc thế hệ những năm 50-60 và chủ yếu doLiên Xô cũ và các nớc Đông Âu cung cấp Hiện nay có đến 54,3% DNNN trung
ơng và 74% DNNN địa phơng còn sản xuất ở trình độ thủ công, hiệu quả sửdụng trang thiết bị bình quân dới 50% công suất Đó chính là nguyên nhân làmcho khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trờng nội địa cũng nhquốc tế hết sức thấp kém Điều này thực sự là một nguy cơ đối với các doanhnghiệp Nhà nớc và với nền kinh tế trong quá trình hội nhập vào đời sống kinh tếkhu vực và thế giới
Trình độ, năng lực và bản lĩnh quản lý còn thấp so với yêu cầu Ta thấy
rằng, ở các doanh nghiệp Nhà nớc, quyền sở hữu không gắn với quyền quản lý
Trang 7vốn và tài sản Mặt khác, do những nguyên nhân lịch sử, do ảnh hởng của cơ chế
kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, các doanh nghiệp Nhà nớc có số lợnglao động lớn, cơ cấu lao động bất hợp lý, đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế vừathừa, vừa thiếu, vừa yếu Bên cạnh trách nhiệm về kinh tế, mối doanh nghiệp cònphải đảm trách nhiều chức năng xã hội nữa
Từ tình hình trên, có thể thấy khu vực kinh tế Nhà nớc không phải là điểmsáng nh chúng ta mong đợi, đặc biệt nó vẫn cha thực sự thể hiện tốt vai trò chủ
đạo vủa mình Do đó vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải có một loạt những giảipháp tiến hành đồng bộ Trong đó, CPH DNNN là một trong những biện pháp đ-
ợc Đảng và Nhà nớc đặt lên vị trí then chốt, hàng đầu
2 Sự cần thiết phải tiến hành CPH doanh nghiệp Nhà nớc
Xuất phát từ thực tế nêu trên, thực hiện CPH là một nhiệm vụ rất cần thiết
và quan trọng trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam, CPH sẽ giải quyết đợccác vấn đề sau:
- Thứ nhất: Thực hiện CPH là để giải quyết mâu thuẫn giữa quan hệ sản
xuất và lực lợng sản xuất CPH góp phần thực hiện chủ trơng đa dạng hoá cáchình thức sở hữu Trớc đây chúng ta xây dựng một cách cứng nhắc chế độ cônghữu, thể hiện ở một số lợng quá lớn các DNNN mà không nhận thấy quan hệ sảnxuất này không phù hợp với lực lợng sản xuất còn nhiều yếu kém, lạc hậu Vìvậy CPH sẽ giải quyết đợc mâu thuẫn này, giúp lực lợng sản xuất phát triển
- Thứ hai: Thực hiện CPH nhằm xã hội hoá lực lợng sản xuất, thu hút
thêm nguồn lực sản xuất Khi thực hiện CPH, ngời lao động sẽ gắn bó, có tráchnhiệm với công việc hơn, họ trở thành ngời chủ thực sự của doanh nghiệp Ngoài
ra, phơng thức quản lý đợc thay đổi, doanh nghiệp sẽ trở nên năng động, tự chủhơn trong sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sản xuất
- Thứ ba: Bên cạnh đó, CPH là một yếu tố thúc đẩy sự hình thành và phát
triển thị trờng chứng khoán, đa nền kinh tế hội nhập với kinh tế khu vực và trênthế giới
- Thứ t: Thực hiện CPH là một trong những giải pháp quan trọng nhằm
huy động các nguồn lực trong và ngoài nớc vào phát triển kinh tế Với việc huy
động đợc các nguồn lực, các công ty cổ phần có điều kiện mở rộng sản xuất kinhdoanh, đầu t đổi mới công nghệ, nâng cao đợc khả năng cạnh tranh trên thị tr-ờng, tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Thứ năm: Cổ phần hoá tác động tích cực đến đổi mới quản lý ở cả tầm vĩ
mô và vi mô Chuyển từ DNNN sang công ty cổ phần không những chỉ là sựthay đổi về sở hữu, mà còn là sự thay đổi căn bản trong công tác quản lý ở cảphạm vi doanh nghiệp và ở cả phạm vi nền kinh tế quốc dân
Trang 8- Thứ sáu: Cổ phần hoá là một giải pháp quan trọng để cơ cấu lại nền kinh
tế trong quá trình đổi mới
Nh vậy, đứng trớc thực trạng hoạt động yếu kém của hệ thống DNNN,CPH với những u điểm và mục tiêu của mình đã chứng tỏ đó là một chủ trơng
đúng đắn, phù hợp với quá trình đổi mới, phù hợp với giai đoạn quá độ đi lênCHXH ở nớc ta
Trang 9Phần B: Thực trạng cổ phần hoá - Những kết quả ban
đầu và những khó khăn cần tháo gỡ
I Tiến trình thực hiện cổ phần hoá trong những năm vừa qua
1 Giai đoạn thí điểm (1992 - 1996)
Ngày 8/6/1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng (nay là Thủ tớng Chính phủ)
đã ban hành Quyết định số 202/CT về thí điểm chuyển một số doanh nghiệp Nhànớc thành công ty cổ phần Sau đó, ngày 4/3/1993 Thủ tớng Chính phủ ban hànhtiếp Chỉ thị số 84/TTg về việc xúc tiến thực hiện thí điểm CPH doanh nghiệpNhà nớc và các giải pháp đa dạng hoá hình thức sở hữu đối với doanh nghiệpNhà nớc
Quyết định số 202/CT đã chọn 7 doanh nghiệp Nhà nớc làm thí điểm,
đồng thời giao nhiệm vụ cho mỗi Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thành phố trựcthuộc TW chọn từ 1 đến 2 doanh nghiệp để tổ chức thí điểm chuyển thành công
ty cổ phần
Sau 4 năm triển khai thực hiện Quyết định số 202/CT và Chỉ thị số 84/TTg(1992-1996) cả nớc chỉ CPH đợc 5 doanh nghiệp bao gồm: 3 DN trung ơng và 2
DN địa phơng Đó là các doanh nghiệp:
- Công ty Đại lý Liên hiệp vận chuyển thuộc Bộ GTVT - ngày thực hiệnCPH : 1/7/1993
- Công ty Cơ điện lạnh thuộc UBND Tp Hồ Chí Minh - ngày thực hiệnCPH: 1/10/1993
- Xí nghiệp Giày Hiệp An thuộc Bộ Công nghiệp - ngày thực hiện CPH:1/10/1994
- Xí nghiệp Chế biến hàng xuất khẩu thuộc UBND tỉnh Long An - ngàythực hiện CPH: 1/7/1995
- Xí nghiệp Chế biến thức ăn gia súc thuộc Bộ Nông nghiệp & phát triểnnông thôn - ngày thực hiện CPH: 1/7/1995
2 Giai đoạn mở rộng (5/1996 - 6/1998)
Trên cơ sở đánh giá kết quả triển khai thí điểm cổ phần hoá, ngày
7/5/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/CP về chuyển một số doanh
nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần Nghị định này đã xác định rõ mục tiêu,
đối tợng thực hiện cổ phần hoá, quy định cụ thể nguyên tắc xác định giá trịdoanh nghiệp, chế độ u đãi đối với doanh nghiệp và ngời lao động trong doanhnghiệp chuyển thành công ty cổ phần…từ đó ảnh hNhờ đó tốc độ CPH đã tăng lên rõ rệt
Kể từ khi Nghị định 28/CP đợc ban hành đến hết tháng 5/1998 đã có 25 doanh nghiệp Nhà nớc chuyển thành công ty cổ phần Nh vậy tính gộp từ năm
1992 đến tháng 5/1998 cả nớc đã có 30 doanh nghiệp đã hoàn thành cổ phần hoávới số vốn điều lệ ban đầu là: 281 tỷ đồng (bình quân 9,6 tỷ đồng/công ty) và
Trang 10gần 6000 lao động Không chỉ tăng lên về số lợng, diện CPH cũng đã mở rộnghơn, đã có 3 Bộ và 9 Tỉnh, Thành phố có doanh nghiệp CPH Trong số các doanhnghiệp đã CPH, có 12 doanh nghiệp đã hoạt động từ một năm trở lên theo Luậtcông ty Những doanh nghiệp trớc khi cổ phần hoá gặp khó khăn, nh xí nghiệpMộc Hà nội, xí nghiệp Đóng tàu thuyền Bình Định, xí nghiệp Giày Hiệp An…từ đó ảnh h,mặc dù không đợc Nhà nớc hỗ trợ vốn, nhng đã cố gắng khắc phục khó khăn vàphát triển sản xuất-kinh doanh liên tục hàng năm.
Để hỗ trợ cho công tác CPH , trong thời gian này, các cấp các ngành đãtriển khai việc củng cố tổ chức, bổ sung thành viên vào Ban chỉ đạo CPH ở địaphơng và thành lập các ban chỉ đạo CPH Chính phủ, trung ơng Đảng, Tổng liên
đoàn lao động Việt Nam
3 Giai đoạn thực hiện theo Nghị định 44/CP đến nay
Trong giai đoạn này, nhờ những chuyển biến thuận lợi về cơ sở pháp lý
mà nổi bật là sự ra đời của Nghị định 44/CP ngày 29/6/1998 và việc thành lậpBan đổi mới quản lý doanh nghiệp TW, con số các doanh nghiệp CPH đã tăngnhanh so với các thời kỳ trớc
Sau hơn 2 năm thực hiện CPH doanh nghiệp Nhà nớc theo Nghị định số
44/CP, từ tháng 6/1998 đến hết tháng 8/2000 cả nớc đã cổ phần hoá 430 doanh nghiệp đa tổng số doanh nghiệp Nhà nớc đã thực hiện cổ phần hoá lên 460 doanh nghiệp.
Trong số những doanh nghiệp đã CPH, những doanh nghiệp thuộc lĩnh
vực Công nghiệp và Xây dựng chiếm khoảng 44,2%; Dịch vụ thơng mại chiếm 39,2%; Giao thông vận tải chiếm 9,5%; Nông nghiệp chiếm 4,1% và thuỷ sản chiếm 2% Hầu hết các doanh nghiệp đã CPH đều tơng đối nhỏ, những công ty
có tổng số vốn lớn hơn 10 tỷ đồng chiếm khoảng 12%, trong khi các doanhnghiệp có vốn nhỏ hơn 5 tỷ đồng chiếm đến hơn 50% Vốn trung bình của cácdoanh nghiệp đã CPH chỉ vào khoảng 3,1 tỷ đồng Đa số các doanh nghiệp thựchiện CPH theo hình thức thứ 2 nghĩa là bán một phần giá trị vốn của Nhà nớcnắm giữ trong doanh nghiệp
Tính tới thời điểm 31/12/1999, trong số các địa phơng thực hiện CPH, HàNội là thành phố có số doanh nghiệp cổ phần hoá nhiều nhất, gồm 70 doanhnghiệp trong tổng số 210 doanh nghiệp thuộc các tỉnh, thành phố thực hiện cổphần hoá, tiếp theo là TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định và Thanh Hoá
Các doanh nghiệp sau khi chuyển thành công ty cổ phần đều hoạt động cóhiệu quả cao hơn về nhiều mặt, kể cả những doanh nghiệp mới CPH Một sốdoanh nghiệp trớc CPH gặp nhiều khó khăn thì sau CPH các doanh nghiệp này
đã có những tiến bộ rõ rệt, bảo đảm việc làm, tăng thu nhập cho ngời lao động
Trang 11Nh vậy, trên thực tế, Nghị định 44/CP đợc ban hành đã tạo ra một hànhlang pháp lý khá thông thoáng, khuyến khích cả doanh nghiệp và ngời lao độngtham gia cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc.
Tuy nhiên, tiến trình cổ phần hoá trong thời gian qua còn chậm so với yêucầu sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nớc Sáu tháng cuối năm 1998, kế hoạch đặt ra
là CPH 150 doanh nghiệp, thực hiện chỉ là 100 doanh nghiệp đợc CPH (đạt66,6%) Năm 1999, kế hoạch đặt ra là CPH 450 doanh nghiệp, nhng chỉ thựchiện đợc 250 doanh nghiệp (đạt 55,5%)
Để thực hiện nhanh và có hiệu quả công tác cổ phần hoá doanh nghiệpNhà nớc, phải giải quyết nhiều vấn đề, từ nhận thức t tuởng, cơ chế chính sách
đến tổ chức thực hiện, từ doanh nghiệp đến các cơ quan quản lý Nhà nớc
II Những kết quả ban đầu mà cổ phần hoá DNNN đem lại
1 Hiệu quả của cổ phần hoá
Đối với doanh nghiệp
Nhìn chung, doanh nghiệp là đối tợng đợc lợi nhiều nhất từ chính sách cổphần hoá Hầu hết các doanh nghiệp khi chuyển sang công ty cổ phần đều hoạt
động có hiệu quả hơn trớc xét tổng thể trên các mặt doanh thu, lợi nhuận, nộpngân sách, tích luỹ vốn…từ đó ảnh hNhiều doanh nghiệp đã thoát ra khỏi tình trạng nợ nần,phá sản, khắc phục đợc những hạn chế do cơ chế quản lý cũ nh nạn tham nhũng,lãng phí trong sản xuất, sự thiếu trách nhiệm trong lao động, quản lý trì trệ, yếukém…từ đó ảnh h
Kết quả hoạt động của 15 doanh nghiệp đã đợc CPH trớc năm 1998 là rấtkhả quan Những lợi ích mà CPH mang lại cho doanh nghiệp đợc thể hiện rất rõqua những con số sau:
Báo cáo hoạt động năm 1999 của 20 doanh nghiệp đã CPH có thời gianhoạt động trên 1 năm cũng cho thấy những số liệu rất khả quan, cụ thể nh sau:
Doanh thu tăng bình quân gần 2 lần: Điển hình công ty cổ phần Cơ điện
lạnh năm 1999 đạt 178 tỷ đồng, gấp gần 4 lần so với trớc khi CPH; công ty cổphần bông Bạch Tuyết năm 1999 đạt 86 tỷ đồng, gấp 1,5 lần so với trớc khiCPH
Lợi nhuận tăng bình quân hơn 2 lần, cổ tức bình quân đạt 1-2%/tháng Vốn tăng gần 2,5 lần (bao gồm cả tích luỹ từ lợi nhuận và thu hút thêm
vốn đầu t từ bên ngoài) : Nổi bật là công ty cổ phần chế biến hàng xuất khẩuLong An vốn tăng 5 lần; công ty cổ phần Việt Phong vốn tăng 2,4 lần…từ đó ảnh h
Ngoài những lợi ích kinh tế kể trên, khi CPH DNNN còn có thêm nhữnglợi ích khác góp phần tích cực vào việc năng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh:
- Thứ nhất: Năng lực sx - kd của doanh nghiệp tăng lên nhờ đợc bổ sung
nguồn vốn lu động và đầu t đổi mới công nghệ Về nguyên tắc, tất cả số tiền bán
Trang 12cổ phiếu, sau khi trừ đi các chi phí sẽ đợc điều chuyển để bổ sung vốn, mở rộngsản xuất kinh doanh.
- Thứ hai: Doanh nghiệp có quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh Sự
chuyển đổi này đã hạn chế thấp nhất những can thiệp thô bạo, phi kinh tế của cáccơ quan công quyền, hạn chế các chỉ đạo vốn có của một DNNN
- Thứ ba: Doanh nghiệp đã có đợc một cách quản lý mới mang tính dân
chủ Với việc CPH, doanh nghiệp đã chuyển từ DNNN sang công ty cổ phần,cũng có nghĩa là xác định vai trò chủ nhân tập thể Hội đồng quản trị sẽ thực sựlàm chủ công ty với động lực lợi nhuận, vì lợi ích của các cổ đông (trong đó cóchính mình), thay mặt các cổ đông và đợc các cổ đông bầu lên chứ không phải aikhác
Đối với Nhà nớc
Lợi ích đầu tiên mà Nhà nớc thu đợc từ chính sách CPH là phần thuế thu
đợc từ các công ty cổ phần tăng hơn so với khi còn là DNNN, tất cả các CTCP
đều đóng thuế đầy đủ, năm sau cao hơn năm trớc từ 30-35%, nộp ngân sách tăngbình quân 2 lần so với trớc khi CPH : cụ thể nh CTCP cơ điện lạnh tăng gần 3lần, CTCP sơn Bạch Tuyết tăng 2,7 lần…từ đó ảnh h
Theo số liệu của 17 công ty cổ phần, Nhà nớc đã thu đợc 377.244 triệu
đồng từ các nguồn sau:
Tiền thu về bán cổ phần: 30.207 triệu đồng
Phần lợi tức của Nhà nớc tại các CTCP: 6.905 triệu đồng
Lãi tiền vay mua chịu cổ phần của CBCNV: 522 triệu đồng
Về huy động vốn: Tại thời điểm CPH trớc 31/12/1999, 370 doanh nghiệpCPH có giá trị phần vốn Nhà nớc là 1.349 tỷ đồng, qua thực hiện CPH đã thu hútthêm 1.432 tỷ đồng, đồng thời Nhà nớc cũng đã thu lại đợc 714 tỷ đồng để đầu tvào các DNNN và giải quyết một số chính sách cho ngời lao động trong DNNNthực hiện CPH
Phần vốn Nhà nớc tại các doanh nghiệp CPH khi xác định lại, nhìn chung
đều tăng từ 10-50% so với giá trị ghi trên sổ sách Nh vậy, khi CPH vốn Nhà nớckhông bị mất đi, đợc bảo toàn mà còn tăng thêm
Ngoài những lợi ích trên, từ kết quả cổ phần hoá, hàng năm Nhà nớckhông còn tốn một khoản ngân sách lớn để bù đắp cho các DNNN thua lỗ, cáncân thu chi của Nhà nớc đợc cân bằng hơn Hệ thống các cơ quan quản lý Nhà n-
ớc đợc hoàn chỉnh và gắn với mục tiêu của nền kinh tế Chính cơ chế tạo chuyênmôn hoá dẫn đến sự thay đổi về trình độ quản lý đạt mức cao Nhà nớc có điềukiện quản lý nền kinh tế thông qua các chính sách vĩ mô
Cổ phần hoá đã đặt cơ sở cho thị trờng vốn ra đời bằng việc ra mắt Uỷ banchứng khoán quốc gia và Trung tâm giao dịch chứng khoán vừa qua, làm cơ sở
Trang 13để Nhà nớc kiểm soát lạm phát Lợng tiền lu thông trong xã hội trong tơng laigần sẽ chuyển một phần vào thị trơng vốn, thực hiện tái đầu t trên diện rộng hoặctập trung vốn giải quyết các công trình trọng điểm của Nhà nớc.
2 Đối với ngời lao động
Có thể nói, nhờ CPH mà ngời lao động đã trở thành ngời chủ thực sự củadoanh nghiệp xét theo cổ phần mà họ sở hữu Qua CPH các DNNN, tất cả ngòilao động trong doanh nghiệp bằng các nguồn vốn tự có, quỹ phúc lợi của doanhnghiệp đợc phân bổ và cả vốn riêng của cá nhân, đều có thể tham gia mua cổphần tại công ty, xí nghiệp đợc cổ phần hoá
Với việc góp vốn này, ngời lao động , từ công nhân trực tiếp sản xuất đến
vị giám đốc, đều có thể trở thành ngời chủ thực sự đối với doanh nghiệp, đợctham gia trực tiếp hay gián tiếp vào việc lập phơng hớng kế hoạch, chiến lợc kinhdoanh của doanh nghiệp với quyết tâm và ý chí chung là gặt hái đợc hiệu quảcao nhất, tốt nhất
Trong thực tế, các doanh nghiệp Nhà nớc đợc CPH bảo đảm việc làm vàthu nhập của ngời lao động ổn định và có chiều hớng tăng lên Do mở rộng sảnxuất, số lao động ở các DN này tăng bình quân 12% Thu nhập của ngời lao
động làm việc tai các công ty cổ phần tăng bình quân hằng năm gần 20% (cha kểthu nhập từ cổ tức) Điển hình trong năm 1999, ngời lao động tại công ty cổ phần
đại lý liên hiệp vận chuyển có thu nhập 4 triệu đồng/ngời/tháng bằng gần 3 lần
so với trớc khi CPH; công ty cổ phần Ong mật TP.HCM đạt 1,3 triệu ời/tháng bằng 2,6 lần so với trớc khi CPH…từ đó ảnh h
đồng/ng-Việc đầu t vào các công ty cổ phần, nói chung ngời lao động đã thu đợclợi tức cao hơn gửi tiết kiệm và vốn của họ trong công ty tăng gấp 1,5-2 lần sovới lúc mới mua cổ phiếu Do lãi cao đã bổ sung thêm vào vốn, đến nay giá trị cổphần ngời lao động sở hữu bình quân tăng gấp 2-3 lần, đặc biệt có những công tytăng tới 4-5 lần nh CTCP Cơ điện lạnh và CTCP Đại lý liên hiệp vận chuyển
Là chủ nhân thực sự trong CTCP, ngòi lao động đã nâng cao tính chủ
động, ý thức kỷ luật, tinh thần tự giác, tiết kiệm trong lao động sản xuất, gópphần làm hiệu quả hoạt động của DN ngày một nâng cao, mang lại lợi ích thiếtthực cho bản thân mình, công ty, Nhà nớc và xã hội
3 Đánh giá nguyên nhân
Với những kết quả nêu trên, chúng ta có cơ sở để khẳng định chính sáchCPH một bộ phận DNNN là phù hợp và đúng đắn trong giai đoạn hiện nay Cổphần hoá đã thực sự đem lại nhiều lợi ích cụ thể không chỉ cho doanh nghiệp màcòn cho cả Nhà nớc và bản thân ngời lao động Những thành công đó có thể xuấtphát từ những nguyên nhân sau
Trang 143.1 Đảng và Nhà nớc đã nhận thức đợc vai trò và sự cần thiết phải tiến hành
cổ phần hoá một bộ phận DNNN
Để khắc phục tình trạng khủng hoảng của nền kinh tế nớc ta giai đoạn
1980 - 1990, Đảng và Chính phủ đã có chủ trơng đổi mới kinh tế nhằm đa nềnkinh tế thoát ra khỏi tình trạng trì trệ, nghèo nàn, lạc hậu Một trong những giảipháp đợc Đảng và Nhà nớc lựa chọn là CPH một bộ phận DNNN nhằm sắp xếplại các DNNN, nâng cao vị thế chủ đạo của khu vực kinh tế Nhà nớc Đảng ta đãmạnh dạn tiến hành thí điểm và sau gần 10 năm thực hiện đã thu đợc những kếtquả rất khả quan
3.2 Đảng và Nhà nớc đã bớc đầu quan tâm, chỉ đạo tiến trình CPH
Đảng và Nhà nớc ta đã dành rất nhiều quan tâm cho công tác cổ phần hoá,thể hiện qua việc theo dõi sát sao tiến trình thực hiện, không ngừng đúc kết kinhnghiệm và khắc phục hạn chế, ban hành kịp thời nhiều văn bản pháp quy hớngdẫn, tạo điều kiện cho công tác CPH, gần đây nhất là nghị định 44/CP(29/6/1998), các Quyết định 145/TTg(28/6/1999), 177/TTg(30/8/1999) Nộidung của Nghị định 44/CP là một bớc tiến lớn so với các văn bản trớc đây, thểhiện một cách nhìn mới của Đảng và Nhà nớc ta về vấn đề CPH Nghị định 44 ra
đời đã tạo một bớc phát triển mới trong tiến trình thực hiện CPH , hoàn thiện và
đẩy nhanh tốc độ CPH …từ đó ảnh hlàm cho CPH đạt hiệu quả cao hơn
3.3 Nội dung CPH là đúng đắn, mục tiêu CPH đặt ra là cụ thể, mang tính khả thi, lợi ích mà CPH mang lại là cụ thể, khách quan và gắn với bản thân doanh nghiệp và ngời lao động.
Có thể nói, CPH đã nh một luồng gió mới thổi sinh khí vào khu vực Kinh
tế Nhà nớc, mang lại sức sống cho khu vực kinh tế này, từ đó mang lại hiẹu quảcho Nhà nớc, doanh nghiệp và ngời lao động
Cổ phần hóa thực sự tạo động lực cho đầu t phát triển kinh tế Thông quaCPH thu hút đợc một lợng lớn nguồn vốn trong dân c, tạo tiền đề mở cửa cho thịtrờng vốn trong nớc, nâng cao hiệu quả đầu t phát triển sản xuất
3.4 CPH đã thực sự nâng cao quyền làm chủ của ngời lao động trong doanh nghiệp, gắn lợi ích của ngời lao động với lợi ích của doanh nghiệp, từ
đó thúc đẩy họ hăng say sản xuất, trách nhiệm với công việc, góp phần nâng cao hiệu quả sx - kd.