1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hóa ở Việt Nam (tk XVI- XVIII)

9 4,1K 63
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hóa ở Việt Nam (thế kỉ XVI- XVIII)
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 58,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hóa ở Việt Nam (tk XVI- XVIII)

Trang 1

Sự ra đời Và phát triển của kinh tế hàng hoá Việt nam

( Thế kỉ XVI-XVIII )

*********

Trong giai đoạn từ thế kỉ XVI-XVIII, nền kinh tế hàng hoá Việt Nam không chỉ bị tác động bởi những biến động kinh tế ở trong nớc mà còn chịu

ảnh hởng không nhỏ của tình hình quốc tế Thế kỉ XV, t bản thế giới phát triển kéo theo đó là sự phát triển của nền kinh tế t bản chủ nghĩa Vấn đề quan trọng

đợc đặt ra lúc bấy giờ là thị trờng để trao đổi buôn bán, thị trờng mà ở đó có thể tìm thấy những nguyên liệu mới mà Phơng Tây không có Chính do nhu cầu mở rộng hoạt động thơng mại và nhờ vào những tiến bộ kĩ thuật của ngành hàng hải, từ cuối thế kỉ XV, ở Phơng Tây đã diễn ra nhiều cuộc phát kiến địa

lý sang Phơng Đông với hi vọng sẽ kiếm đợc nhiều vàng bạc và của cải Có thể

kể đến 3 cuộc phát kiến địa lý lớn đó là cuộc hành trình của Vaxcô đơ Gama, Crixtôp Côlông và Vêxpuxơ Amêrigô, của Magienlan…

Sau các cuộc phát kiến đó đã diễn ra nhiều cuộc di chuyển c dân trên qui mô lớn, thơng nhân vội vã giành giật thị trờng và các nguồn nguyên liệu ở các địa bàn mới vì thế ngời Phơng Tây ngày càng hiểu rõ hơn về về Phơng

Đông và muốn mở rộng quan hệ buôn bán với Phơng Đông trong đó có Việt Nam Thêm vào đó là hoạt động thơng thuyền Châu á đặc biệt là Trung Quốc

và Nhật Bản ngày càng nhộn nhịp đã tạo nên một thời kì đợc gọi là “thơng mại Biển Đông ” Việt Nam cũng tham gia vào hoạt động trao đổi buôn bán này và

đã thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá Việt Nam phát triển

Trong bối cảnh khu vực hết sức thuận lợi cùng với những thành tích trong kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, khai mỏ, nội thơng… đã khiến cho nền kinh tế hàng hoá Việt Nam ra đời và đạt đợc nhiều thành tựu

* Sản xuất thủ công nghiệp

cho lập ra các quan xởng Đàng Ngoài, ở Thăng Long, chúa Trịnh lập ra nhiều xởng lớn chuyên sản xuất vũ khí cho quân đội, làm đồ trang sức cho cung

đình, may trang phục cho vua chúa Từ năm 1760, Nhà nớc cho phép các chấn

mở xởng đúc tiền Đàng Trong, chúa Nguyễn đặc biệt chú ý các công xởng

đúc súng và đóng thuyền Nhng do lực lợng lao động trong các quan xởng đều

là những thợ thủ công giỏi đợc trng tập từ các địa phơng theo chế độ công tợng

Trang 2

nên sản phẩm làm ra chỉ phục vụ nhu cầu rất hạn chế của chính quyền nên ít

có tác động đến sự phát triển kinh tế trong kì nớc Bộ phận chủ yếu làm nên diện mạo hng khởi của kinh tế hàng hoá thời này là các nghề thủ công trong dân gian…

- Nghề làm gốm:

Nhiều làng chuyên làm gốm đã đợc hình thành từ những thế kỉ trớc và cho đến thời kì này nhiều làng gốm nh Bát Tràng, Chu Đậu, Thổ Hà ở Đàng Ngoài và Mý Thiện, Lộc Thiện ở Đàng Trong đã trở thành những trung tâm sản xuất lớn Sản phẩm làm ra chẳng những đợc lu thông trên cả nớc mà với chất lợng khá cao còn là một mặt hàng xuất khẩu đợc nớc ngoài a chuộng

- Nghề kéo tơ, dệt lụa:

Đàng Ngoài, Yên Thái, Nghi Tàm, Bởi, Trúc Bạch và các làng phụ cận

nh Thiên Mỗ, ỷ La, Hạ Hội là những nơi nổi tiếng về mặt hàng này Tơ lụa trở thành một mặt hàng xuất khẩu quan trọng Từ năm 1637, ngời Hà Lan đã mua tơ ở Đàng Ngoài với số lợng lớn:

Năm 1644: 645 tạ

Năm 1645: 920 tạ ( 800 tạ đem bán ở Nhật và 120 tạ trở về Châu Âu Ngời Bồ Đào Nha hàng năm cũng đặt hàng vạn lạng bạc cho chúa Trịnh

để mua tơ

Đàng Trong, nghề kéo tơ dệt lụa phát triển cả về số lợng và chất lợng Thơng nhân Paovorơ đánh giá rất cao về mặt hàng này: “ Tơ của họ rất đẹp

họ có thể cung cấp nhiều hơn nữa nếu Đàng Trong có thị trờng tiêu thụ ”

Tơ lụa khi ấy là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị nên ở Đàng Ngoài chính quyền và quan lại cũng tham gia vào công việc buôn bán Tuy nhiên, hàng của chúa không đẹp nhng lại buộc thơng nhân mua đắt với giá cao gấp 2 lần Phơng thức mua bán này chính là một trong những nguyên nhân làm cho ngoại thơng Đàng Ngoài sớm lụi tàn

- Trồng mía làm đờng:

Là một nghề truyền thống có từ thời Bắc Thuộc, nghề này phát triển rộng rãi trong thế kỉ XVII-XVIII, đặc biệt là ở vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi Đờng cũng là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng lúc bấy giờ, theo Paovrơ: “trớc kia, họ chỉ làm đủ dùng trong xứ, nhng vì các lái buôn Trung Quốc đem lại cho họ nguồn tiêu thụ nên họ đã tăng các lò nấu đờng nên đến mức có thể đủ hàng cho 80 chiếc thuyền”

Trang 3

Năm 1637, tàu Hà Lan đã cập cảng Hội An mua gần 2.000 cân đờng chở về Batavia Các nghề thủ công khác nh làm giấy, rèn sắt, đúc đồng, dệt chiếu, làm nón, chạm khắc mỹ nghệ…đều có những bớc phát triển Một số nghề mới cũng xuất hiện trong thời kì này Đàng Ngoài hai làng Liễu Tràng và Hồng Lục ( Hải Dơng ) đã phát triển thành trung tâm khắc ván in và bia đá nổi tiếng Đàng Trong xuất hiện một số nghề du từ Phơng Tây Một ngời tên là Nguyễn Văn Tú ở Đăng Xơng –Thừa Thiên sau khi du học 2 năm ở Hà Lan

đã học đợc nghề chế tạo đồng hồ Tuy nhiên, sản phẩm chỉ dừng lại ở mức phục vụ cho nhu cầu của giới quí tộc

- Nghề khai mỏ:

Trong các thế kỉ XVII-XVIII, nghề khai khoáng phát triển khá rầm rộ Các mỏ vàng, bạc, đồng, kẽm đều hình thành các công trờng khai thác nhng phát triển mạnh nhất là ở các vùng mỏ có đồng Phan Huy Chú từng có nhận xét về tình hình khai mỏ ở Đàng ngoài nh sau: “lợi về hầm mỏ phần nhiều ở các Tứ Xuyên, Hng, Thái, Lạng, Vàng, bạc, đồng, thiếc thật là vô tận Chi dụng trong nớc sở dĩ đợc đầy đủ là do thuế của các mỏ không thiếu”…Từ thời

Lê Trung Hng, khi nghề khai mỏ phát triển mạnh mẽ, chúa Trịnh đã cho các chủ thầu Trung Quốc tổ chức khai thác, nhân công chủ yếu là ngời Trung Quốc Một số quan lại ngời Việt cũng xin Nhà nớc cho phép bỏ vốn ra bao thầu khai thác Khoáng sản khai thác đợc đem ra bán trên thị trờng trong nớc

và xuất khẩu

Đàng Trong không có nhiều khoáng sản nên nghề này kém phát triển

Đến thế kỉ XVIII mới hình thành một số công trờng khai thác vàng và quặng sắt, chủ yếu là ở Quảng Nam Đến cuối thế kỉ XVIII xuất hịên một số công tr-ờng khai thác lớn Giang Huyền một ngời giàu có đã bỏ tiền ra mua cả một quả núi ở Thu Bồn Hàng năm, số vàng đào đợc chở đến Hội An bán cho tàu

n-ớc ngoài lên đến gần 1.000 thoi

Nghề khai khoáng trong thế kỉ XVII-XVIII trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, đã xuất hiện nhiều công trờng thủ công

* Tình hình nội thơng

cạnh các chợ làng đã xuất hiện các chợ tổng, chợ huyện họp theo phiên Có những làng nghề có chợ riêng chuyên bán sản phẩm làm ra: chợ Đại Bái bán

đồ đồng, chợ Thổ Hà Bát Tràng chuyên bán đồ sành sứ, chợ Vân Chàng, Nho

Trang 4

Lâm chuyên bán đồ rèn sắt Cùng với các chợ địa phơng đã có những chợ lớn Nhà nớc đứng ra thu thuế

Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế hàng hoá trong thời kì này đã làm

h-ng khởi bộ mặt của các đô thị Đàh-ng Ngoài, hai đô thị đợc coi là lớn và hoạt

động thơng mại sầm uất là Thăng Long và Phố Hiến Thăng Long khi ấy còn

có tên gọi là Kẻ Chợ - từ 36 phố phờng thời Lê đã trở thành trung tâm chính trị

và thơng mại quan trọng Theo giáo sĩ Marini, ở Thăng Long vào năm 1666:

“có 62 khu phố mà mỗi khu rộng bằng một thành phố nhỏ của nớc ý Các phố

đều đầy thợ thủ công và thơng nhân ” Cuối thế kỉ XVII, Baroon nhận xét : “ thành phố Kẻ Chợ có thể so sánh với các thành phố ở Châu á nhng lại đông hơn ….các con đờng rộng bấy giờ đều trở thành chật chội đến nỗi chen qua

đám đông ngời độ 100 bớc trong khoảng nửa tiếng đồng hồ là một điều sung s-ớng” Năm 1736, một sứ thần Trung Quốc khi đi chơi phố đã hứng khởi làm thơ :

“ Ngày dài thuyền chở, xe dong

Bán buôn lũ lợt, trập trùng chen đua”

Thành phố đứng thứ 2 ở đàng ngoài khi đó là Phố Hiến Nhờ có vị trí giao thông thuận lợi, vùng đất này đã phát triển thành một trung tâm trung chuyển thơng mại lớn trong các thế kỉ XVI-XVII Phố Hiến có 12 phờng trong

đó có 8 phờng sản xuất các mặt hàng thủ công nghiệp Phố Hiến cũng là nơi ngời nớc ngoài đến làm ăn sinh sống nhiều nhất đặc biệt là ngời Trung Quốc Ngời Hà Lan, Anh, Pháp cũng đã từng xin phép đợc lập điếm tại đây Với vai trò trung chuyển thơng mại, sự hng thịnh của Phố Hiến phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển thơng mại từ các nơi khác trong nớc và tình hình ngoại thơng

Ngoài những trung tâm thơng mại lớn còn cần phải kể đến hiện tợng những tụ điểm buôn bán mang dáng dấp đô thị đợc mọc lên ở rất nhiều nơi nh Kì Lừa, Đồng Đăng ( Lạng Sơn ), Vân Đồn, Vạn Nịnh (Quảng Ninh)…

Đàng Trong, bên cạnh mạng lới chợ nhỏ dày đặc, mỗi phủ thờng có 4-5 chợ lớn Đặc biệt ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ đã xuất hiện những tụ điểm công-nông-thơng-tín ở những vị trí giao thông thuận lợi vừa buôn bán vừa dịch

vụ gọi là Thị Tứ đã góp phần đáng kể vào việc phát triển hàng hoá ở nông thôn Đô thị sầm uất nhất là thơng cảng Hội An ( vốn là một hải cảng quan trọng của Champa) từ lâu đã trở thành nơi giao lu buôn bán mang tính quốc tế

Đến thế kỉ XVI, khi hoạt động thơng mại trên biển Đông trở nên nhộn nhịp,

Trang 5

nhiều tầu buôn nớc ngoài đã đến đây buôn bán Hội An thực sự trở thành một thơng cảng quốc tế vào đầu thế kỉ XVII Theo nhà s Thích Đại Sán đến Hội An vào năm 1695 thì : “Hội An là một mã đầu lớn, nơi tụ họp của khách hàng các nớc…”

Một hiện tợng đáng lu ý trong thời gian này là sự xuất hiện các luồng lu thông buôn bán rộng lớn giữa các vùng Có những luồng chuyên buôn bán

ng-ợc xuôi từ đồng bằng lên miền núi và ngng-ợc lại Có những luồng chuyên lu thông hàng hoá giữa các trung tâm thơng mại lớn nh Thăng Long, Phố Hiến, Hội An Do kinh tế hàng hoá phát triển đã xuất hiện một làng nghề chuyên đi buôn nh làng Đa Ngu - chuyên buôn thuốc Bắc, làng Phủ Lu chuyên buôn bán the, lụa

Chính quyền Lê-Trịnh không mấy thiện cảm với nghề buôn, khi thấy hoạt động này sôi động nhận định: “bọn hào phú và những kẻ tiểu dân…đua nhau làm nghề ngọn, ít kẻ chuyên chú vào nghề nông…Từ năm 1664 đến năm

1743 chúa Trịnh đã lần lợt cho triệt bỏ các sở tuần ty, bến đò Đó là một trong những nguyên nhân cản trở sự phát triển của thơng nghiệp

* Tình hình ngoại thơng

Nội thơng phát triển đã thúc đẩy ngoại thơng phát triển Với hơn 3000

km bờ biển với nhiều hải cảng tốt, tàu biển có thể neo đậu, thêm vào đó hoạt

động thợng mại trên biển Đông diễn ra sôi động, tàu buôn nhiều nớc đã đến buôn bán với nớc ta Ngoài các nớc đã có quan hệ buôn bán với ta từ trớc nh Trung Quốc, Mã Lai, Giava, Xiêm, thời kì này xuất hiện thêm những khách

quan hệ buôn bán với Trung Quốc và Nhật Bản là mật thiết hơn cả

- Với thơng nhân Trung Quốc:

Trung Quốc vốn là bạn hàng truyền thống của Đại Việt nhng trong khoảng thế kỉ XIV-XV do chính sách cấm vận của nhà Minh, thuyền buôn Trung Quốc bị hạn chế ra nớc ngoài nên việc buôn bán với nhà Minh gần nh bị ngừng trệ Đến thế kỉ XVII khi Minh Mục Tông bãi bỏ lệnh cấm vận, hoạt

động của các thơng nhân Trung Quốc lại trở nên nhộn nhịp Đàng Ngoài, thuyền buôn Trung Quốc thờng cập cảng Vân Đồn ( Quảng Ninh) rồi đến phố Hiến ( Hng Yên) hoặc đến Vị Hoàng ( Nam Định ) Đàng Trong, chủ yếu họ

đến buôn bán tại các cảng Hội An ( Quảng Nam ), Nớc Mặn (Bình Định), Bến Nghé ( Gia Định ) Hoạt động thơng mại của ngời Trung Quốc trở nên đặc biệt

Trang 6

sôi động Lúc này các thuyền buôn Trung Quốc không chỉ giữ quan hệ buôn bán hai chiều giữa Trung Quốc với các nớc Đông Nam á mà còn là cầu nối giữa các cảng thị ở vùng Đông á và Đông Nam á Theo số liệu thống kê, trong khoảng thời gian từ năm 1651 đến năm 1724, số lợt chuyến các tàu buôn lớn là 251 chuyến…Cuối thế kỉ XVII-đầu thế kỉ XVIII, nhiều ngời Hoa đã ở hẳn các cảng thị của Đại Việt Riêng ở Hội An đã có đến 6.000 Hoa kiều Khi việc buôn bán với các nớc khác bắt đầu sa sút, các thơng nhân Hoa Kiều vẫn tiếp tục buôn bán với Đại Việt

- Với Nhật Bản:

Ngay từ cuối thế kỉ XVI đã có các thuyền buôn Nhật Bản đến buôn bán tại các cảng Đàng Trong Tuy nhiên, thời kì buôn bán thịnh đạt nhất của Nhật

đối với cả Đàng Trong và Đàng Ngoài là ba mơi năm đầu thế kỉ XVII Số thuyền đợc cấp giấy phép chính thức đến buôn bán ở Đại Việt từ năm 1604

đến 1635 là 120 chiếc thuyền Tuy nhiên, do chính sách cởi mở và u ái của chính quyền Đàng Trong, ngời Nhật chủ yếu đến buôn bán ở Hội An Tại đây ngời Nhật đợc phép lập phố riêng của mình Theo một nhà nghiên cứu Nhật Bản, trong tổng số kim ngạch xuất-nhập khẩu của Nhật Bản qua hai trung tâm thơng mại lớn là Hirađô và Nagadaki đến trớc năm 1640 là chiếm 10% Mặt hàng chủ yếu ngời Nhật thờng chở đến là bạc, đồng, khí giới Họ mua về chủ yếu là tơ tằm, hơng liệu và đồ gốm sứ Sau khi Mạc Phủ ban hành lệnh Toả Quốc(sakoku), hạn chế ngoại thơng, Nhật Bản vẫn tiếp tục buôn bán với Đại Việt thông qua các tàu buôn Trung quốc và Hà Lan

- Với các tàu buôn Bồ Đào Nha:

Thơng nhân Bồ Đào Nha là những khách buôn đến sớm nhất từ Phơng Tây Bồ Đào Nha là một trong những nớc Châu Âu có nền hàng hải phát triển sớm và mạnh Năm 1498, Vaxcô đơ Gama đã tìm ra con đờng từ Lixbon đến

ấn Độ Năm 1521, phái đoàn Magienlan đã thực hiện thành công một chuyến

đi lịch sử vòng quanh thế giới bằng đờng biển Những phát kiến này đã sớm đa ngời Bồ Đào Nha đến Châu á, trong đó có Việt Nam Từ trung tâm truyền giáo và căn cứ thơng mại Ma Cao các thơng nhân Bồ Đào Nha đã tìm đến buôn bán ở Hội An Hàng hoá buôn bán là diêm sinh, cánh kiến, đồ sành sứ… Ngời Bồ Đào Nha không đạt thơng điếm thờng trực mà thông qua các môi giới ngời Hoa hay ngời Nhật để gom hàng, hàng hoá chở đi từ Hội An là yến sào, tơ sống, gỗ quí, đờng

Trang 7

Sang thế kỉ XVII, việc buôn bán của ngời Bồ Đào Nha gặp nhiều cạnh tranh từ phía ngời Hà Lan, cho nên từ giữa thế kỉ XVII ngời Bồ Đào Nha chuyển hớng buôn bán ra Đàng Ngoài

- Với các tàu buôn Hà Lan:

Năm 1602, tại Amxtecđam, một công ty lớn chuyên buôn bán với

Ph-ơng Đông mang tên Công ty Đông ấn Hà Lan (VOC) đợc thành lập Họ nhanh chóng giành đợc u thế trong hoạt động thơng mại trên biển Đông Chúa Nguyễn Phúc Nguyên là ngời chủ động tìm cách thiết lập quan hệ với VOC nhng phải đến năm 1633, quan hệ mới chính thức đợc thiết lập Năm 1636, Hà Lan xin phép mở một thơng điếm ở Hội An Các thơng nhân đợc phép mang hàng hoá lên Kẻ Chợ để buôn bán Thuyền trởng Karen Hactơxinh đợc vua Lê Thánh Tông nhận làm con nuôi Cùng năm ấy, Hà Lan thiết lập thơng điếm ở Phố Hiến và ít lâu sau họ lại đợc phép mở thơng điếm thứ hai ở Thăng Long

Năm 1641, nhân sự kiện hai chiếc tàu Hà Lan bị đắm gần Cù Lao Chàm, hàng hoá bị tịch thu, thuỷ thủ còn sống sót bị bắt, quan hệ giữa chúa Nguyễn với VOC trở nên căng thẳng, thơng điếm của họ ở Hội An phải đóng cửa Thấy việc buôn bán với Đàng Trong gặp nhiều khó khăn, ngời Hà Lan tăng cờng quan hệ với chúa Trịnh và gây sức ép quân sự với chúa Nguyễn Đến cuối thế

kỉ XVII, việc buôn bán của ngời Hà Lan ở Đàng Ngoài giảm sút

- Với các tàu buôn Anh:

Từ đầu thế kỉ XVII, ngời Anh tìm cách mở rộng ảnh hởng của mình sang khu vực Đông Nam á Lúc bấy giờ, do bị các thơng nhân nớc ngoài chèn

ép, các tầu buôn của Anh không thu đợc kết quả trong hoạt động buôn bán

Đến năm 1673, họ mới đợc chúa Trịnh cho phép lập thơng điếm ở Phố Hiến Sau mời năm hoạt động không hiệu quả, họ xin chuyển cơ quan đại diện của mình lên Kẻ Chợ Ngời Anh thờng đem bán len dạ, hàng xa xỉ, các hoả khí Hàng hoá thì đắt đỏ mà chúa Trịnh và quan lại mua hàng mà không trả tiền ngay nên đến năm 1697, ngời Anh đóng cửa thơng điếm của họ ở Thăng Long Năm 1695, tàu Đenphin chở đầy hàng hoá đến Hội An xin đợc buôn bán và

mở thơng điếm nhng chúa Nguyễn tỏ ra thờ ờ với đề nghị này và chỉ quan tâm

đến việc ngời Anh có thể cung cấp đại bác cho Đàng Trong hay không, ép

ng-ời Anh bán hàng với giá rẻ

- Với các tàu buôn của Pháp:

Trang 8

Trong số các nớc ở Châu âu, Pháp đến Việt Nam khá muộn Năm 1681, Pháp lập thơng điếm ở Phố Hiến nhng chẳng bao lâu ngời Pháp dừng buôn bán với Đàng Ngoài Pháp cố ý nhòm ngó đảo Côn Lôn nhng trớc bài học thất bại của ngời Anh họ rất thận trọng Năm 1748, triều đình Pháp đã cử Poavrơ một thơng nhân kiêm giáo sĩ đến điều tra tình hình, sau chuyến đi đó Poavrơ trình lên một bản báo cáo đánh giá tiêu cực về khả năng buôn bán với Đàng Trong Các tàu buôn của Pháp không đến đó buôn bán nữa

Hoạt động thơng mại quốc tế trong khu vực bớc vào thời kì sôi động đã

ảnh hởng đến diên mạo kinh tế-xã hội của Đại Việt Kinh tế hàng hoá phát triển đạt đợc nhiều thành tựu lớn Nhiều hoạt động thơng nghiệp nhộn nhịp diễn ra trong nớc cũng nh với các tàu buôn nớc ngoài đã cuốn hút nhiều tầng lớp xã hội vào buôn bán Tuy nhiên, nền kinh tế hàng hoá đã lụi tàn vào cuối thế kỉ XVIII Nguyên nhân dẫn đến sự lụi tàn này là do sự yếu kém của nền kinh tế hàng hoá ở Việt Nam Mặt khác, các chính sách của nhà nớc áp dụng trong trao đổi buôn bán với ngời nớc ngoài còn nhiều điều cha hợp lý nh việc

ép mua hàng với giá rẻ, mua hàng nhng không trả tiền ngay đã tạo ra những ấn tợng không tốt đối với các đoàn buôn đến từ các nớc khác Điều đó đã góp phần làm cho thị trờng trao đổi buôn bán ở Việt Nam không còn sức hấp dẫn

để lôi cuốn các đoàn buôn nữa Một nguyên nhân nữa đó là do điêu kiện tự nhiên ở Việt Nam khác nhiều so với các nớc ở Phơng Tây nên các thơng gia

đến làm ăn và sinh sống ở Việt Nam khó thích nghi nên sau một thời gian đến Việt Nam buôn bán thì họ sẽ quay trở về nớc hoặc đi nơi khác làm ăn Tất cả nhng nguyên nhân kể trên đã góp phần làm cho nền kinh tế hàng hoá ở Việt Nam sớm lụi tàn vào cuối thế kỉ XVIII

MụC LụC

* Sản xuất thủ công nghiệp 2

- Nghề làm gốm: 2

- Nghề kéo tơ, dệt lụa: 2

Trang 9

- Trồng mía làm đờng: 3

- Nghề khai mỏ: 3

* Tình hình nội thơng 4

* Tình hình ngoại thơng 6

- Với thơng nhân Trung Quốc: 7

- Với Nhật Bản: 7

- Với các tàu buôn Bồ Đào Nha: 8

- Với các tàu buôn Hà Lan: 8

- Với các tàu buôn Anh: 9

- Với các tàu buôn của Pháp: 9

Ngày đăng: 20/03/2013, 08:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w