Bởi vì do yếu tố cạnh tranh cũng như nhu cầu tăng doanh số bán ra, các doanh nghiệp luôn phải chấp nhận bán hàng theo phương thức tín dụng, cho nên các khoản phải thu là một tất yếu được
Trang 1Lời Mở Đầu
Hiện nay, vốn là vấn đề quang trọng và rất cần thiết đối với quá trình sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp.Bỡi lẽ, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành sản xuất kinh doanh điều trước tiên là phải có một lượng vốn nhất định để đầu
tư xây dựng nhà xưởng mua nguyên vật liệu, trả công,nộp thuế vốn cố định là nền tảng cho sự hình thành và phát triển các hoạt động doanh nghiệp, vốn lưu động là nhân tố trực tiếp quyết định đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng là một doanh nghiệp nhà nước ra đời dã hơn chục năm, trong điều kiện cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay đòi hỏi công ty ngày càng năng động sáng tạo trong quá trình kinh doanh cũng như việc sử dụng và khai thác hiệu quả nguồn vốn lưu động phục vụ cho quá trình kinh doanh của mình Tuy nhiên,tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động tại công ty trong những năm qua chưa được tốt thể hiện ở khả năng thanh toán, mức doanh lợi vốn lưu động còn thấp tye lệ khoản phải thu còn cao mặc khác lượng vốn chủ sở hữu đầu tư vào tài sản lưu động còn quá ít nên kinh doanh phải vay vốn ngân hàng, chi phí lãi vay khá cao
Trong quá trình thực tập tại công ty, kết hợp với kiến thức được trạng bị ở trường em thực hiện chuyên đề thực tập với đề tài “Phân tích tình hình quản lý và
sử dụng vốn lưu động tại Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng”
Chuyên đề gồm ba phần chính:
PHẦN I: Những Vấn Đề Lý Luận Cơ Bản Về Quản Lý Và Sử Dụng Vốn Lưu Động
Trang 2PHẦN II: Phân Tích Tình Hình Quản Lý Và Sử Dụng Vốn Lưu Động Tại Công
Đà Nẵng, ngày 10 tháng 05 năm 2003
Sinh viên thực hiện
Lê Văn Giới
PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
I/ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1/ Khái niệm vốn lưu động
Để tiến hành sản xuất kinh doanh trong nền sản xuất hàng hoá tiền tệ ngoài tư liệu lao động, các doanh nghiệp cũng cần phải có đối tượng lao động và sức lao động Nghĩa là ngoài những tư liệu lao động đã có (máy móc thiết bị nhà xưởng ), doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn đủ lớn để mua sắm đối tượng lao động và trả lương cho nhân viên, lương vốn này gọi là vốn lưu động Như vậy vốn lưu động của doanh nghiệp là khoản đầu tư vào tài sản nắgn hạn như: tiền mặt, các khỏan đầu tư
Trang 3tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu hàng tồn kho và tài sản lưu động khác, có khả năng chuyển đổi thành tiền trong vòng một năm
Vốn lưu động ròng là phần chênh lệch giữa tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn với
nợ ngắn hạn, chỉ số cân bằng này thể hiện cách thức Sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
2/ Kết cấu vốn lưu động
Đối tượng lao động trong một doanh nghiệp được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau ở nhiều khâu khác nhau trong cả một chu kỳ sản xuất, ở khâu dự trữ, đó
là những vật tư, nguyên vật liệu, dự trữ cho sản xuất và kinh doanh, ở khâu sản xuất
đó là những vật tư, bán thành phẩm, sản phẩm đang trong quá trình sản xuất ở khâu lưu động đó là thành phẩm vốn bằng tiền
Do đó vốn lưu động của doanh nghiệp dùng để mua sắm đối tượng lao động cũng
có kết cấu phức tạp và được chia thành những bộ phận chính sau:
a/ Tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn
Tiền là lượng tiền mà doanh nghiệp có được do ngân sách cấp, do tự có, hoặc do bổ sung từ lợi nhuận của doanh nghiệp hoặc do đi vay Nó tồn tại dưới hình thức tiền mặt, tiền quỹ và tiền gữi Ngân hàng và nó có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp thuận lợi và liên tục trong quá trình sản xuất kinh doanh
và trong quá trình mua bán hàng hoá
Đầu tư tài chính ngắn hạn: là việc doanh nghiệp bỏ vốn để mua các chứng khoán có giá trị đầu tư góp vốn liên doanh, đầu tư bất động sản có thể thu hồi trong thời hạn
Trang 4không quá 1 năm hoặc một chu kỳ kinh doanh (như tín phiếu kho bạc, ký phiếu Ngân hàng , cổ phần háo của những Công ty khác)
b/ Hàng tồn kho:
Hàng tồn kho của doanh nghiệp lưu động tài sản mà doanh nghiệp dự trữ để sản xuất hoặc bán ra sau này hàng tồn kho của doanh nghiệp thường bao gồm nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế hàng hoá thành phẩm hayb một số công cụ dụng cụ dùng cho sản xuất kinh doanh Tất cả các doanh nghiệp đều có hàng tồn kho bởi vì quá trình sản xuất kinh doanh luôn biến động vì phải chịu sự tác động của yếu tố môi trường bên ngoài cũng như bên trong doanh nghiệp do vậy để quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục và bình thường, tránh sự thiếu hụt và ứ đọng vốn không hợp lý thì doanh nghiệp cần phải có lượng hàng tồn kho nhất định
c/ Các khỏan phải thu:
Trong các khoản phải thu thì khoản trhu khách hàng là quan trọng nhất và chiếm
tỷ lệ đáng kể, do đó ta chỉ nghiên cứu phải thu khách hàng
Khoản phải thu khách hàng là một bộ phận thuộc TSLĐ của doanh nghiệp phát sinh
do doanh nghiệp bán chịu hàng hoá hoặc dịch vụ cho khách hàng của mình Bởi vì
do yếu tố cạnh tranh cũng như nhu cầu tăng doanh số bán ra, các doanh nghiệp luôn phải chấp nhận bán hàng theo phương thức tín dụng, cho nên các khoản phải thu là một tất yếu được xác định trong vốn lưu động của doanh nghiệp bán hàng theo phương thức tín dụng được các doanh nghiệp sử dụng như là điều kiện thanh toán, điều kiện bán hàng với khách hàng đồng thời nó cũng là công cụ của doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh
Trang 5d/ Tài sản lưu động khác
Vốn lưu động của doanh nghiệp ngoài những thành phần chính trên còn tồn tại trong các khoản khác như: các khoản tạm ứng, tạm chi tạm gữi theo những nguyên tắc riêng mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thu hồi thanh toán và xử lý
3/ Vai trò của vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động của doanh nghiệp trong cùng một lúc được phân bổ trên khắp các giai đoạn và tồn tại dưới những hình thức khác nhau, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra và diễn ra một cách liên tục không bị gián đoạn Do đó ta có thể nói nói rằng : vốn lưu động là điều kiện cần
và đủ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do vai trò vô cùng to lớn này nên việc sử dụng vốn lao động trong doanh nghiệp là một công việc đòi hỏi
sự tính toán chính xác và hợp lý giữa các khâu, các giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh thì mới có thể phát huy hết tác dụng và mang lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp
Mặc khác trong doanh nghiệp, sự vận động của vốn phản ánh sự vận động của vật
tư mà chủ yếu là vốn lưu động, do đó vốn lưu động còn là công cụ phản ánh và kiểm tra qui trình vận động của vật tư Nghĩa là trong doanh nghiệp vốn lưu động nhiều hay ít thể hiện số lượng vật tư hay hàng hoá dự trữ ở các khâu nhiều hay ít, hoặc là vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm thi phản ánh vật tư được sử dụng
có tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở các khâu trong sản xuất và lưu động sản phẩm có hợp lý hay không Vì vậy qua tình hình luân chuyển vốn lao động, chúng
Trang 6ta có thể kiểm tra một cách tòan diện đối với việc cung ứng, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp
Tóm lại: vốn lưu động ó vai của trò vô cùng quan trọng quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp, việc khai thác sử dụng nguồn vốn này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nếu khai thác xu hướng và hợp lý thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được nâng cao và ngược lại Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh của mình cần phải định hướng đúng đắng qui mô cơ cấu của lượng vốn này, đồng thời phân bổ hợp lý thiếu hụt vốn hay
dư thừa dẫn đến lãng phí Có như vậy, sẽ phát huy hết các tác dụng của vốn lưu động trong cơ cấu nguồn vốn kinh doanh
II/ NỘI DUNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
1/ Dự toán vốn lưu động
a/ Sự cần thiết phải dự toán vốn lưu động
Trước mỗi kỳ kinh doanh, mỗi doanh nghiệp luôn dự tính khối lượng sản phẩm sản xuất theo nhu cầu thị trường và năng lực sản xuất của doanh nghiệp, theo đó để quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty được tiến hành đúng kế hoạch, đúng sản lượng đồng thời diễn ra một cách liên tục và hiệu quả thì doanh nghiệp không thể không dự toán trước nguồn vốn lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Do vậy, việc dự toán vốn lưu động của doanh nghiệp là một việc làm vô cùng cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu đọng của doanh nghiệp, tiết kiệm tránh lãng phí vốn và đảm bảo nguồn vốn cho doanh nghiệp thường xuyên
Trang 7Việc dự toán vốn lưu động là công việc cần thiết trong công tác quản lý sử dụng vốn lưu động, tuy nhiên để dự toán vốn lưu động hợp lý và phù hợp với yêu cầu thực tế của kỳ sản xuất kinh doanh khi dự toán vốn lưu động Các doanh nghiệp phải sử dụng một chỉ tiêu có cơ sở khoa học, đồng thời lựa chọn và áp dụng các phương pháp thích hợp với điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp nếy dự toán nhu cầu vốn lưu động quá cao sẽ gây nên tình trạng ứ động vật tư, hàng hoá, lãng phí vốn, vòng quay vốn chậm và phát sinh nhiều chi phí không hợp lý như chi phí bảo quản, sử dụng vốn làm giá thành sản phẩm tăng cao ảnh hưởng không tốt đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp ngược lại nếu dự toán nhu cầu vốn lưu động quá thấp se xgây nên tình trạng trì tuệ trong sản xuất kinh doanh hayt trong thanh toán sẽ làm cho uy tín của doanh nghiệp giảm đi và có thể dẫn đến tình trạng ngừng sản xuất
b/ Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng vốn lưu động
Lượng vốn lưu động cần thiết cho mỗi doanh nghiệp sẽ khác nhau, điều này ảnh hướng đến rất nhiều nhân tố, như qui mô, uy tiïn của doanh nghiệp , quan hệ của doanh nghiệp trong kinh doanh, đặc điểm của ngành mà doanh nghiệp đang kinh doanh và điều kiện kinh tế chính trị của mõi quốc gia
c/ Một số nguyên tắc khi xác định nhu cầu vốn lưu động
+ Khi xác định nhu cầu vốn lưu động phải xuất phát từ sản xuất, từ tình hình thực tế của doanh nghiệp để đảm bảo cho nhu cầu sản xuất một cách hợp lý Bởi vì một doanh nghiệp vào những giai đoạn kinh doanh khác nhau, ở những thời kỳ khác nhau do điều kiện sản xuất kinh doanh thay đỏi thì nhu cầu vốn sẽ thay đổi
Trang 8+ Trong quá trình xác định nhu cầu vốn lưu động cần phải đìeu tra, phân tích tình hình thực tế của các khâu dự trữ, sản xuất và lưu thông phát hiện những vấn đề tồn đọng để có thể xử lý kịp thời những lãng phí về vốn, để lfm sqao có thể sử dụng vốn một cách tiết kiệm nhất, cố gắng giảm bớt số lượng vốn chiếm dùng để có thể đảm bảo nhu cầu cho sản xuất với nhu cầu và thấp nhất
+ Xuất phát từ những tốu thiểu cần thiết của cacs kế hoạch sản xuất, kế hoạch cung cấp vật tư kỹ thuật, kế hoạch giá thành, kế hoạch tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở đó tổ chức huy động đủ nguồn vốn để đảm bảo cho việc thực hiện tốt các kế hoạch nói trên và đề ra các giải pháp tiết kiệm các nguồn vốn Từ đó tổng hợp nhu cầu vốn và cân đối giữa các bộ phận kế hoạch, nhằm cân đối giữa các bộ phận cấu thành nguồn vốn của doanh nghiệp
+ Nguyên tắc thiết thực và quan trọng hơn nữa là cần phải có được sự tham gia đóng góp ý kiến của các đơn vị trực thuộc như các phân xưởng, phòng ban, cán bộ phục vụ, cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, trong công tác xác định nhu cầu vốn lưu động Bởi vì vốn lao động có tác động trong phạm vi rộng và hẹp suốt trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, nếu không như vậy việc kiểm toán vốn lưu động của doanh nghiệp sẽ thiếu cơ sở thực tế, kém, tính chính xác và không được hợp lý ở các bộ phận, các khâu trong sản xuất kinh doanh
d/ Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động
Có thể nói không có một nhu cầu vốn chung trong doanh nghiệp, ở mỗi doanh nghiệp tùy thuộc theo đặc điểm sản xuất kinh doanh, tìu thêo hoàn cảnh cụ thể mà
Trang 9lựa chọn phương pháp xác định thích hợp với qui sản xuất kinh doanh của mình Có các phương pháp xác định nhu cầu như sau:
• Phương pháp hồi quy:
Phương pháp này được xây dựng trên lý thuyết tương quan toán học Nội dung của phương pháp này là tập hợp các tài liêu trong thực tế về vốn lưu động và doanh thu tiêu thụ sản phẩm qua nhiều năm đê xác định tính quy luật về mối quan hệ biến động giữa chúng từ đó suy ra nhu cầu vốn lưu động ở thời điểm cần biết
Phương pháp này có ưu điểm là để thực hiện , nhưng cũng phát sinh nhiều nhược điểm đó là:
+ Thời điểm cần xác định nhu cầu vốn lưu động càng xa thì càng kém chính xác + Số liệu được sử dụng là số liệu lịch sử của thực tế kinh doanh nào chứa đựng nên chứa đựng nhiều yếu tố bất hợp lý, để làm sai lệch thông tin
+ Có những kghoản vốn lưu động không trực tiếp, chịu sự ảnh hưởng của việc tăng doanh thu nên dẫn đến kết quả dự đoán kém chính xác
• Phương pháp tỷ lệ
Là phương pháp ước tính nhiệm vụ vốn lưu động bằng tỷ lệ (%) lên doanh thu, nghĩa là căn cứ vào tỷ lệ % giữa vốn lưu động và doanh thu của năm trước để xác định mức vốn lưu động năm nay thông qua số doanh thu kế hoạch, nhưng chỉ dự đoán đối với những khoản vốn chịu sự biến động trực tiếp của doanh thu
Phương pháp này tương đối dể làm và đơn giản nhưng nó chỉ thấy được sự biến động của vốn thông qua doanh thu nên không thể đảm bảo tính chính xác được
• Phương pháp trực tiếp
Trang 10Căn cứ vào quá trình sản xuất kinh doanh ta có thể chia vốn lưu động ra làm ba loại lớn
+ Vốn lưu động nằm trong khâu dự trữ sản xuất:
Gồm các khoản vốn nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng, vật rẻ tiền, mau hỏng, bao bì
+ Vốn nằm trong khâu sản xuất
Gồm các khoản vốn sản xuất đang chế tạo bán thành phẩm tự chế chi phí đội phân
bổ
+ Vốn lưu tông: bao gồm vốn thành phẩm, hàng hoá, tiền tệ
Trên cơ sở phân tích như vậy, áp dụng các công thức, chỉ tiêu thích hợp để dự đoán vốn tại các khâu, sau đó tổng hợp lại ta có nhu cầu vốn lao động cần thiết cho cả quá trình sản xuất kinh doanh
2/ Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý và sử dụng vốn lưu động
a/ Thông số khả năng thanh toán
Bao gồm các chỉ tiêu đánh giá khả năng của doanh nghiệp, đó là:
* Khả năng thanh toán hiện hành = TSLĐ + Đầu tư ngắn hạn
Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa toàn bộ tài sản có thời gian chu chuyển ngắn của doanh nghiệp với nợ ngắn hạn, chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp càng cao, tuy nhiên kinh phí cho thấy chỉ tiêu khoảng bằng 2 là vừa phải, vì quá lớn cũng chưa hẵn tốt vì hiệu quả sử dụng tài sản không tốt
Trang 11* Khả năng thanh toán nhanh = TSLĐ * ĐTNH- Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Vì hàng tồn kho là tài sản dự trữ thường xuyên cho kinh doanh và giá trị cũng như thời gina hóan chuyển thành tiền là không chắc chắn nhất trong các loại tài sản lưu động, nên khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp phải trừ đi bộ phận này
* Khả năng thanh toán tức thời = Tiền
Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này chỉ xem xét đến các khoản mà doanh nghiệp có thể sử dụng để thanh toán một cách nhanh nhất đó là vốn bằng tiền của doanh nghiệp
b/ Thông số khả năng hoạt động:
Là tất cả các chỉ tiêu đánh gía khả năng hoạt động của vốn lưu động và các bộ phận cấu thành nên vốn lưu động
Thông số về hàng tồn kho
+ Số vòng quay
hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán (ngày/vòng)
Số dư bình quân hàng tồn kho + Số ngày 1 vòng quay hàng tồn kho = Số dư bình qụân hàng tồn kho x 360(ngày/vòng)
Giá vốn hàng bán Thông số về khoản phải thu khách hàng
+ Số vòng quay
khoản phải thu = Doanh thu (vòng/kỳ )
Trang 12Số dư bình quân nợ phải thu + Số ngày 1 vòng quay nợ phải thu = Số dư bình qụân nơ phải thu x 360(ngày /vòng)
Doanh thu Tốc độ lưu chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp
+ Số vòng quay
vốn lưu động = Doanh thu thuần (vòng/kỳ )
Vốn lưu động bình quân + Số ngày 1 vòng quay vốn lưu động = Số dư bình qụân nơ phải thu x 360(ngày /vòng)
Doanh thu thuần + Hệ số đảm nhận của vốn lưu động = Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Doanh thu thuần Thông số về khả năng sinh lợi của vốn lưu động
+ Mức doanh lợi của vốn lưu động = Lợi nhuận sau thuế x 100%
Vốn lưu động bình quân trong kỳ 3/ Các cơ sở quản lý và sử dụng vốn lưu động
Với thành phần cơ bản là hàng tồn kho, các khoản phải thu và tiền mặt nên việc quản lý và sử dụng vốn lưu động chính là quản lý và sử dụng hàng tồn kho, các khoản phải thu và tiền mặt, do dó ta sẽ đi nghiên cứu từng bộ phận cấu thành này a/ Quản lý vốn bằng tiền:
Trang 13Trong mọi doanh nghiệp luông tồn tại một lượng vốn bằng tiền nhất định, và nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp sở dĩ tiền có vai trò quan trọng là
vì nó tồn tại trong doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho 3 hoạt động của doanh nghiệp
đó là: hoạt động, mua sắm, thanh toán, hoạt động dự phòng và hoạt động đầu tư Hoạt động mua sắm thanh toán là một việc sử dụng tiền để mua sắm hàng hoá, vật liệu và thanh toán các khoản chi phí cần thiết đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động liên tục, lương tiền phục vụ cho hoạt động này là việc sử dụng tiền đê mua sắm hàng hoá, vật liệu và thanh toán các chi phí cần thiết đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động liên tục Lượng tiền phục vụ cho hoạt động này của doanh nghiệp
là lượng tiền chiếm phần lớn và các vai trò chỉ đảo đối với hoạt động của doanh nghiệp
Hoạt động dự phòng là việc dự trữ tiền nhằm mục đích thanh toán ác khoản có tính chất bất thường mà doanh nghiệp không lường trước được Tuy vậy, trong thực tế các doanh nghiệp ít chú ý đến lượng tiền dành cho hoạt động này
Hoạt động đầu tư là việc sử dụng tiền để đầu tư nhằm mục đích sinh lời, thông thường việc tính lũy tiền chjo đầu tư ở các doanh nghiệp là rất ít và điều này tùy thuộc vào cá tính của nhà đầu tư
Để việc quản lý sử dụng tiền có hiệu quả các doanh nghiệp cần phải dự toán chính xác nhu cầu vốn bằng tiền Việc dự toán vốn bừng tiền chủ yếu dựa vào nhu cầu của
ba hoạt động trên của doanh nghiệp ngoài ra cần có nhắc đến sự cân bằng trong cơ cấu tiền cho hợp lý giữa các hoạt động, cân nhắc đến sự cần thiết và tiền của cá hoạt
Trang 14động, có vậy thì việc quản lý tiền của doanh nghiệp mới tránh được lãngg phí và có hiệu quả
Ngoài ra để giảm đến mức thấm nhất việc đầu tư về tiền tại doanh nghiệp nhằn tránh lãngh phí ta cần phải giảm sự lâuna chuyển về tiền Luân chuyển là việc các khoản vốn lưu hành từ nơi này đến nơi khác cách xa Việc luan chuyển tiền từ khách hàng đến doanh nghiệp như vậy sẽ bị kéo dài và làm tiền đến chậm với doanh nghiệp hơn, sự luân chuyển của tiền là do các nguyên nhân : do chuyển tiền
đi và thời gian chuyển tiền cần thiết để thực hiện nghiệp vụ Ngân hàng, ngoài ra còn phải chịu phí Ngân hàng Để tránh tình trạng này các doanh nghiệp hiện nay đều phải có mã số tài khoản riêng, thông qua hệ thống Ngân hàng thương mại các quan hệ thanh toán, giữa doanh nghiệp với khách hàng sẽ được rút ngắn thời gian
từ đó tạo thuận thuận lợi cho doanh nghiệp và khách hàng tiền công việc kinh doanh
b/ Quản lý và sử dụng hàng tồn kho
Vì giá trị hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị TSLĐ, mặc khác hàng tồn kho có mặt hầu hết trong các công đoạn mua, sản xuất và bán, bảo đảm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, được diễn ra liên tục và có hiệu quả nên việc quản lý hàng tồn kho và đưa ra quyết định đầu tư hàng tồn kho là một công việc rất quan trọng của doanh nghiệp
Tuy vậy, việc dự trữ hàng tồn kho luôn phải tốn kém chi phí liên quan đến việc dự trữ hàng tồn kho đó là chi phí đặt hàng và chi phí lưu giữ hàng Chi phí đặt hàng lưu động những chi phí cố định cho mỗi lần mua hàng chi phí này baqo gồm: chi
Trang 15phí giấy tờ, chi phí vận chuyển, chi phí giao dịch và một số chi phí khác còn chi phí lưu giữ hàng tồn kho nghĩa lưu động những chi phí tăng giảm phụ thuộc vào lượng hàng tồn kho nhiều hay ít với việc dự trữ hàng tồn kho luôn ẩn chứa 2 loại chi phí trên và mục đích của việc ưl hàng tồn kho là cân bằng hai loại chi phí: chi phí lưu giữ và chi phí đặt hàng để làm sao cho tổng chi phí tồn kho là thấp nhất, do đó ta cần phải tìm ra mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả, đó chính là mô hình EOQ,
mô hình này có nội dung như sau:
- Gọi Q là lượng hàng tồn kho cho mỗi lần đặt hàng Tại thời diểm đầu kỳ lượng hàng tồn kho là Q và cuối kỳ là O nên lượng hàng tồn kho bình quân trong kỳ là:
Gọi C là chi phí lưu giữ cho mỗi đơn vị hàng tồn, khi đó tổng chi phí hàng tồn kho là:
- Gọi S là lượng hàng tiêu thụ trong kỳ nên số lần đặt hàng trong kỳ là:
- Gọi O là chi phí cho mỗi lần đặt hàng thì tổng chi phí đặt hàng trong kỳ là
- Gọi T : là tổng chi phí tồn kho, khi đó
- Gọi Q* là lượng hàng dự trữ tối ưu, nghĩa là tại Q* thì lượng hàng tòn kho cho chi phí thấp nhất, khi đó:
Q*2 =
Như vậy, với lượng hàng dự trữ Q* ở công thức (1) thì sẽ cho chi phí tồn kho là thấp nhất lưu động mức tồn kho là tối ưu
Trang 16Mô hình tồn kho Q* trên đây chỉ mang tính chất hướng dẫn và vẫn còn là lý thuyết, việc quản lý và quyết định đầu tư hàng tồn kho còn tùy thuộc vào điều kiện thực tế của mõi doanh nghiệp do vậy trong từng điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp mà xây dựng những mô hình quản lý tồn kho có hiệu quả trên cơ sở của mô hình tồn EOQ
c/ Quản lý các khoản phải thu
Trong khâu tiêu thụ của doanh nghiệp, vì yếu tố cạnh tranh cũng như tăng doanh số bán các doanh nghiệp luôn phải chấp nhận bán hàng theo phương thức tín dụng , nên các khoản phải thu là một tất yếu được xác định trong vốn lưu động
Việc quản lý các khoản phải thu nhằm xác định thời hạn tín dụng đối với khách hàng một cách hiệu quả nhất trên cơ sở nghiên cứu , đánh giá khả năng tài chính của khách hàng Tiêu chuẩn tín dụng đưa ra luôn chứa động 2 mặt: rủi ro và tính sinh lời, rủi ro là việc khách hàng không thể trả được tiền và tính sinh lời đó là sự gia tăng được doanh số bán, từ đó gia tăng doanh thu và lợi nhuận, từ điều kiện tín dụng đó
Từ các nguyên nhân trên, ta có thể dthấy được vai trò to lớn đối với việc quản lý các khoản phải thu mà cụ thể là việc xây dựng và dưa ra Chính sách tin hiệu quả phù hợp với từng khách hàng Công việc chíh yếu trong việc hìh thành Chính sách tín dụng là việc phân tích đánh giá vị thế tín dụng của khách hàng, việc phân tích đánh giá tín dụng được tiến hành dựa trên một số đặc tính của khách hàng như sau: + Tư cách tín dụng:
Trang 17Là tư cách riêng hay thái độ tự nguyện đối với các nghĩa vụ trả nợ và được đánh giá trên cơ sở dữ liệu về những lần mua chịu trước đó
Trang 18lại lợi nhuận cao hơn thì doanh nghiệp nên thay đổi, bằng không thì nên giữ nguyên
Ngoài việc thiết lập Chính sách tín dụng việc quản lý khopản ơ thu còn xem xét đến việc thường xuyên đôn đốc và áp dụng các biện pháp cần thiết để nhăìm thu hồi nợ Đồng thời cần phải quan tâm đến việc mở sổ theo dõi chi tiết tất cả các khoản công
nợ phải thu trong và ngoài doanh nghiệp, thường xuyên theo dõi và định kỳ phải đói chiếu, tổng hợp, phân tích tình hình công nợ phải thu Đặc biệt là các khoản nợ quá hạn và các khoản ợ phải đòi
d/ Quản lý và sử dụng khoản phải trả
Khoản phải trả hay mua chịu là một vấn đề quan trọng trong quản lý và sử dụng vốn lưu động, bởi vì đây là một khoản tài trợ cần thiết rất mềm dẻo phát sinh liên tục tiền quá trình kinh doanh của doanh nghiệp các khoản tài trợ này càng quan trọng hơn đói với cscs doanh nghiệp nhỏ tìm kiếm nguồn tài trợ ở các nơi khác nên dựa nhiều vào mau chịu
Việc mua chịu có thể nói là con dao hai lưỡi đói với doanh nghiệp nó vừa là người tín dụng để tài trợ việc mua hàng, vừa là phương thức cung ứng nhu cầu để tài trợ việc bán chịu cho khách hàng, do vậy doanh nghiệp doanh nghiệp tận dụng việc mua chịu như một nguồn tài trợ, đồng thời phải giảm tối thiểu vốn của mình nằm tiền các khoản phải thu bằng các biện pháp bằng cách quản lý hiệu quả
Thông thường có 3 hình thức mua hàng thường xảy ra tiền quá trình kinh doanh của mỗi doanh nghiệp đó là:
- Mua hàng trả tiền ngay
Trang 19- Mua hàng trả tiền khi giao hàng
- Mua hàng trả tiền sau khi giao hàng
Tiền quản lý và sử dụng tối ưu khoản phải trả, ta chỉ chú trọng đến việc mua hàng trả tiền sau vì tiền hình thức này cũng nảy sinh hai vấn đề là : trả tiền đúng hạn không có sự giảm giá và trả tiền trước thời hạn có sự giảm giá Điều quan trọng của mỗi doanh nghiệp là nghiên cứu kỹ điều kiện giảm giá khi trả tiền cân nhắc kỹ lưởng của lợi ích việc được hưởng giảm giá và chi phí cho việc trả tiền trước thời hạn
Việc quản lý và sử dụng các khoản phải trả là công việc quan trọng và bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, chẳng hạn doanh nghiệp có khả năng tài chính mạnh,
có uy tín thì công việc quản lý và sử dụng các khoản phải trả dể dàng và thuận lợi, còn ngược lại rất khó khăn Nhưng nói chung yếu tố quen biết, làm ăn lâu dài giữa các doanh nghiệp với nhau được ổn định thì thuận lợi cho các doanh nghiệp tiền việc quản lý va sử dụng các khoản phải trả
4/ Phương hướng tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động
a/ Ý nghgiã của việc tăng tốc độ vốn lưu động
Việc tăng tốc độü luân chuyển vốn lưu động có một số ý nghĩa thiết thực sau đây: + Tiết kiệm được vốn lưu động tiền luân chuyển giảm bớt số vốn lưu động chiếm dùng, tránh lãng phí do rúy ngắn thời gian vốn lưu động tiền các lĩn vực dự trữ sản xuất, và lưu thông
+ Số vốn lưu động cần thiết của mỗi doanh nghiệp nhiều hay ít tiền điều kiện sản xuất kinh doanh không đổi phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Trang 20Do đó, thông qua việc tăng tốc luân chuyển vốn lưu động, doanh nghiệp có thể giảm bớt số vốn lưu động chiếm dụng nhưng ẫn đảm bảo được quy mô sản xuất kinh doanh như cũ, hoặc có thể với số vốn như cũ, doanh nghiệp có thể mở rộng được quy mô sản xuất kinh doanh mà không cần tăng thêm vốn
+ Việc tốc độ luân chuyển vốn lưu động tăng nhanh còn ảnh hưởng tích cực đến việc hạ tháp giá thành và chi phí lưu thông, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đủ vốn thỏa mãn nhu cầu sản xuất và hoàn thành nghĩa vụ, nộp các khoản phải nộp cho ngân sách Nhà nước, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong cả nước b/ Phướng hướng và biện pháp tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Để tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, cầìn phải thực hiện các phương hướng
và biện pháp sau đây:
- Tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động khâu dự trữ sản xuất bằng cách: chọn điểm cung cấp hợp lý để rút ngắn số ngày hàng đi trên đường, só ngày cung cấp cách nhau, căn cứ vào nhu cầu vốn lưu động đã xác định trước và tình hình cung cấp vật
tư tổ chức hợp lý việc mua sắm, dự trữ vật liệu nhằm rút bớt số lượng dự trữ luân chuyển thường ngày, kịp thời phát hiện và giải quyết những vật tư ứ đọng để giảm vốn ở khâu này
- Tăng tốc độ luân chuyển vốn trong khâu bằng cách áp dụng công nghệ sản xuất kinh doanh hiện đại để rút ngắn chu kỳ sản xuất, tiết kiệm chi phí sản xuất để hạ giá thành sản phẩm để giảm vốn lưu động
- Tăng tốc độ luân chuyển vốn tiền khâu lưu thông bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuất, làm tốt công tác tiếp thị để rút ngắn số ngày dựk trữ thàh phẩm
Trang 21ở kho, thực hiện được kế hoạch trung tâm Đồng thời, theo dõi tình hình thanh toán nhằm rút ngắn số ngày sản xuất vận chuyển và thanh toán thu tiền hàng kịp thời, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở khâu lưu thông này
PHẦN II: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY
A.ĐẶT ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG CỦA CÔNG TY HỮU NGHỊ ĐÀ NẴNG: I.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY:
1.Quá trình hình thành và phát triển:
Tiền thân của Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng là xí nghiệp tẩy nhuộm in hoađược thành lập vào ngày 02- 03- 1977,đến năm 1982 sáp nhập với xí nghiệp dệt Hòa Khánh và xí nghiệp gia công Dệt QN-ĐN hợp thành xí nghiệp liên hợp Dệt Quãng Nam Đà Nẵng.Vào tháng 10 năm 1986,do sắp xếp lại sản xuất ,xí nghiệp liên hợp Dệt QN- ĐN tách ra thành hai đơn vị xí nghiệp Dệt Hòa Khánh và nhà máy Dệt nhuộm Quãng Nam Đà Nẵng
Đến 1992,trước bối cảnh ngành dệt may và giày cuả tỉnh QNĐN đang đứng trước những khó khăn nghiêm trọng do thay đổi về thị trường(thị trường ngành dệt may lúc bây giờ chủ yếu là các nước Liên Xô cũ) và thay đổi về cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường,nhà máy Dệt nhuộm QNĐN cùng với hai xí nghiệp Dệt kim và xí nghiệp Giày da của tỉnh đang co nguy cơ tan rã.Trước tình hình này,UBND Tỉnh QNĐN đã có chủ trương sắp xếp lại ngành Dệt may và giày để duy trì sản xuất Từ đó công ty Hữu Nghị ra đời theo quyết định số
Trang 222994/QĐ-UB ngày 24/10/1992 trên cơ sở hợp nhất hai xí nghiệp Dệt và xí nghiệp May
Ngay từ khi mới thành lập,công ty phải giải quyết hàng loạt những khó khăn về công ăn việc làm cho hơn 700 lao động,về chiến lược sản phẩm chưa định hình,thị trường chưa có bên cạnh đó thiết bị nhà xưởng quá lạc hậu và cũ nát.Qua nhiều lần khảo sát,nghiên cứu thị trường lãnh đạo công ty đã xác định đưọc mặt hàng trước mắt là vỏ chăn xuất khẩu sang thị trường Nhật để tận dụng các cơ sở may và dệt hiện có,đồng thời xác định chiến lược sản phẩm với mặt hàng cơ bản và lâu dải
là giày vải và giày thể thao xuất khẩu sang thị trường Châu Âu thông qua các công
ty của Hàn Quốc.Từ đó công ty tập trung vào việc đầu tư dây chuyền sản xuất giày vải(năm 1993,1994) và dây chuyền giày thể thao(năm 1995) trên tinh thần tự tổ chức nghiên cứu,học hỏi để tiến hành đào tạo đội ngũ công nhân và cán bộ kỹ thuật với sự hướng dẫn của các chuyên gia Hàn Quốc
Sau khi đầu tư dây chuyền sản xuất,trong khoảng thời gian hơn 3 năm,tập thể cán bộ CNV tronh toàn công ty với sự hỗ trợ của tỉnh,các ngân hàng trong tỉnh,công
ty đã từng bước khắc phục những hậu quả tồn tại của 3 xí nghiệp trước đây và đi vào tổ chức sản xuất,giải quyết đưọc việc làm cho hơn 2500 lao động.Đến nay,công
ty có được một số thị trường và khách hàng ổn định với doanh thu và kim ngạch xuất khẩu qua các năm như sau:
- Năm 1999 : 119,30 (tỷ đồng) (8,71 triệu USD)
- Năm 2000 : 171,31 (tỷ đồng) (12,06 triệu USD)
- Năm 2001 : 210,22 (tỷ đồng) (14,52 triệu USD)
Trang 23- Năm 2002 : 181,54 (tỷ đồng) (12,19 triệu USD)
Với những cố gắng vượt bậc,công ty đã đứng vững được trong nền kinh tế thị trường, từng bước trưởng thành và lớn mạnh, uy tín sản phẩm của công ty vượt ra khỏi quốc gia và được nhiều nước trên thế giới đánh giá cao như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, các nước Châu Âu công ty ngày càng có nhiều khách hàng nước ngoài đến ký kết hợp đồng và quan hệ mua bán
2 Nhiệm vụ và quyền hạn của công ty:
- Mở rộng sản xuất kinh doanh có hiệu quả,tự bù đắp chi phí,bảo toàn và phát triển vốn,có nghĩa vụ nộp ngân sách đầy đủ và tập trung năng lực sản xuất địa phương,ứng dụng khoa học công nghệ
b/ Quyền hạn:
- Là đơn vị kinh tế cơ sở, là đơn vị sản xuất kinh doanh hàng hóa có kế hoạch nhằm đáp ứnh nhu cầu thị trường ngày càng tăng, có tư cách pháp nhân và hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ kinh doanh, được quyền xuất nhập khẩu trực tiếp
Trang 24- Được quyền mở rộng,chủ động mọi hình thức kinh doanh, liên kết với các cơ quan nghiên cứu, các tập thể cá nhân hay tổ chức khoa học để có thể áp dụng các công nghệ mới
- Chủ động xác định các nguồn vốn để thực hiện các chương trình sản xuất kinh doanh,dược liên hoàn liên kết với các sản xuất kinh doanh khác,đưọc quyền vay, mua bán ngoại tệ tại Ngân hàng ngoại thương,được huy động cổ phần,vay ở các Ngân hàng nước ngoài và cán bộ công nhân viên trong công ty,
- Có quyền tự cân đối năng lực sản xuất,hoàn thiện cơ cấu sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm
- Có quyền tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh có hiệu qủa nhất,tự chủ động xây dựng phương án sản xuất kinh doanh
II ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC SẢN XUẤT ,QUẢN LÝ VÀ QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ TẠI CÔNG TY:
1/ Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh:
a/ Lĩnh vực kinh doanh:
Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng là một doanh nghiệp sản xuất,sản phẩm chính của công
ty gồm có:giày vải xuất khẩu và giày thể thao xuất khẩu.Tại công ty,hoạt động tổ chức sản xuất được thực hiện tại các xí nghiệp trực thuộc,cụ thể gồm hai xí nghiệp như sau:
+ Xí nghiệp I: Sản xuất giày vải các loại,ngoài ra còn tổ chức khấu tẩy nhuộm các loại vải theo yêu cầu của thị trường
+ Xí nghiệp II: Sản xuất giày thể thao các loại
Trang 25Ngoài ra,công ty còn có một số xí nghiệp được bố trí rãi ráctại địa bàn thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quãng Nam
b/ Quy mô kinh doanh:(cơ sở vật chất kỹ thuật)
Đối với công ty,máy móc thiết bị là điều kiện cần thiết để hoạt động sản xuất.Trong năm qua,tình hình máy móc thiết bị của công ty như sau:
Tên máy móc thiết bị Số lượng Số ca Công suất
(sp/máy/ca) Công suất máy sử dụng Hiệu suất
(%)
I.Xí nghiệp may 300
1.May may một kim
2.May may hai kim
Trang 26III.Xí nghiệp nhuộm
1.Máy tẩy nhuộm zig
2.Máy đốt lông
3.Dây chuyền lăng
4.Máy nhuộm liên tục
5.Máy sấy 8
Ngoài ra,công ty còn một số cơ sở hạ tầng và trang bị một số lượng lớn thiết bị văn phòng ở bộ phận quản lý: hệ thống máy vi tính,máy lạnh,máy photocopy,điện thoại
2/ Đặt điểm tổ chức bộ máy quản lý tại công ty :
a.Sơ đồ tổ chức quản lý của công ty :
Bộ máy tổ chức quản lý của công ty được biểu diễn dưới dạng sơ đồ như sau:
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY:
b Đặt điểm tổ chức quản lý :
Công ty tổ chức quản lý theo kiểu trực tuyến chức năng, đứng đầu công ty là ban giám đốc công ty lãnh đạo trực tiếp đến từng xí nghiệp Giúp việc cho ban giám đôc
có phòng ban chức năng
*Ban giám đốc công ty gồm có một giám đốc và hai phó giám đốc:
- Giám đốc công ty là người phụ trách chung ,chịu trách nhiệm chỉ huy toàn
bộ hoạt động của công ty, phụ trách công tác đầu tư quy hoạch phát triển công ty và công tác tổ chức
Trang 27- Phó giám đốc 1: được giám đốc ủy quyền ký kết các văn bản hợp đồng kinh
tế và trực tiếp chỉ huy sản xuất kinh doanh bộ phận giày thể thao
- Phó giám đốc 2: được giám đốc ủy quyền ký kết các văn bản hợp đồng kinh
tế và trực tiếp chỉ huy bộ phận giày vaỉ
*Các phòng ban chức năng: đây là khối nghiệp vụ của công ty gồm có 4 phòng nghiệp vụ đảm nhận công tác điều hành và quản lý theo sự phân công chuyên môn.Chịu sự lãnh đạo trực tiếp của ban giám đốc Nhiệm vụ cụ thể của các phòng ban như sau:
-Phòng tổ chức- hành chính- bảo vệ:
+ Tham mưu cho giám đốc công ty trong lĩnh vực công tác tổ chức, nhấn sự, chế
độ đối với người lao động, xếp lương và theo dõi diễn biến lương- tính lương, tính thưởng cho cán bộ công nhân viên
+Tham gia nghiên cứu sắp xếp,cải tiến bội máy quản lý phù hợp với điều kiện hoạt độnh sản xuất kinh doanh của công ty,tham gia xây dựng kế hoạch lao động,tiền lương trong hệ thống kế hoạt sản xuất - kỹ thuật- tài chính
+Phụ trách công tác đào tạo tuyển dụng lao động, công tác phòng cháy chữa cháy,bão lụt,quân sự,tự vệ,an toàn lao động, phụ trách công tác quản trị đời sống tiếp khách
- Phòng sản xuất kinh doanh:
+ Điều tra, nghiên cứu nhu cầu thị trường, tiếp cận thị trường, xây dựng kế hoạch sản phẩm sản xuất dài hạn,lập kế hoạch giá thành, dự toán chi phí sản xuất
Trang 28+ Tham gia đàm phán ký kết hợp đồng kinh tế, tổ chức thanh lý hợp đồng và quản
lý hợp đồng
+ Cung ứng nguyên, nhiên, vật liệu cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm + Tổng hợp thống kê,báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh theo định kỳ hoặc bất thường cho giám đốc
+Tham gia bảo vệ kế hoạch sản xuất,tài chính hàng năm trước cấp trên công ty +Thiết lập các sổ sách kế toàn và chứng từ kế toán theo pháp định
+Lập các báo cáo tài chính theo định kỳ
3.Đặt điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm:
Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty Hữu Nghị là quy trình sản xuất kiểu liên tục,đặt điểm quy trình công nghệ được tóm tắt dưới sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ TÓM TẮT QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ:
4 Đặt điểm tiêu thụ và thi trường tiêu thụ:
Trang 29Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng tổ chức sản xuất theo hợp đồng mua bán, gia công với khách hàng trong và ngoài nước,chủ yếu là khách hàng nước ngoài,nên việc tiêu thụ phụ thuộc vào thị trường nước ngoài- phụ thuộc vào việc nghiên cứu thị trường nước ngoài để tham gia ký kết các hợp đồng sản xuất Nhìn chung phương thức tiêu thụ chủ yếu của công ty là phương thức bán buôn qua kho(dưới hai hình thức là trực tiếp tại kho và chuyển hàng thanh toán sau) Những mặt hàng sản xuất của công ty chủ yếu là tiêu thụ ở các nước sau đây:
- Thị trường Châu Âu
- Thị trường Nhật Bản
- Thị trường Nam Triều Tiên
Các sản phẩm không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu,công ty tổ chức tiêu thụ trên thị trường trong TP Đà Nẵng và trong cả nước bao gồm miền Trung và các tỉnh phía Bắc
III ĐẶT ĐIỂM TỔ CHỨC CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TẠI CÔNG TY:
1.Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán ở Công ty:
Quan hệ chỉ đạo
Quan hệ công việc
2/ Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán:
Căn cứ vào đặt điểm, quy mô sản xuất kinh doanh của công ty,số lượng các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh,cơ câú tổ chức bộ máy kế toán công ty được biên chế như sau: + Kế toán trưởng: là người kiêm chức trưởng phòng kế toán, chịu trách nhiệm trước pháp luật và giám đốc việc chỉ đạo thực hiện, tổ chức công tác kế toán Nhiệm
Trang 30vụ của kế toán trưởng là tổ chức bộ máy kế toán nhằm thực hiện một cách đầy đủ chắc năng của kế toán Đồng thời,tổ chức hoạt động tài chính từ khâu huy động đến khâu sử dụng vốn một cách có hiệu quả Kế toán trưởng có quyền chỉ đạo thực hiện
và kiểm tra công tác chuyên môn, ký duyệt hay từ chối ký duyệt các tài liệu kế toán
và có quyền yêu cầu các bộ phận khác cùng phối hợp thực hiện những công tác có liên quan
+ Kế toán tổng hợp: Giữ chức vụ phó phòng kế toán,tổng hợp liệu của toàn công
ty về tình hình xuất nhập vật tư hàng hóa,về các loại vốn,các quỹ.Xác định kết quả lãi lỗ,các khoản phải nộp cho ngân sách nhà nước,các khoản thanh toán cho ngân hàng.Thực hiện việc chép sổ cái lập báo cáo tài chính vào cuối quý và kiểm tra tính chính xác của các báo cáo
+ Kế toán vật tư : Có nhiệm vụ tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp tình hình tăng giảm số lượng,chất lượng,tình hình nhập xuất,dự trữ nguyên vật liệu,công cụ dụng cụ lao động
+ Kế toán Ngân hàng-tiền mặt:Tổ chức, ghi chép, phản ánh chính xác đầy đủ tình hình tiền gửi ngân hàng,giám đốc việc chấp hành chế độ thanh toán bằng tiền gửi ngân hàng.Phản ánh tình hình thu chi tiền mặt một cách kịp thời thường xuyên, giám sát chặt chẽ việc thu chi và quản lý tiền mặt
+ Kế toán công nợ mua hàng: Có nhiệm vụ tổ chức, ghi chép, phản ánh tổng hợp
số liệu về tình hình thanh toán các khoản công nợ mua hàng của công ty
Trang 31+ Kế toán thành phẩm - Tiêu thụ và công nợ bán hàng: Có nhiệm vụ ghi chép, phản ánh giá thành sản phẩm, tình hình tiêu thụ và tổng hợp số liệu về các khoản nợ phải thu phát sinh trong quá trình bán hàng trong kỳ
3.Hình thức sổ sách kế toán áp dụng tại công ty:
Hiện nay công ty đang áp dụng hình thức “Chứng từ ghi sổ”, tuy nhiên để phù hợp với yêu cầu qủan lý, công ty không áp dụng nguyên mẩu hình thức này mà
có thay đổi, cụ thể là các chứng từ gốc được tập hợp phát sinh bên có của tài khoản, sau đó lập chứng từ ghi sổ Trình tự ghi chéúp có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau: Ghi hàng ngày Ghi cuối quý
Ghi cuối tháng Quan hệ đối chiếu
IV.ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NGUỒN LỰC,TÌNH HÌNH KINH DOANH CỦA CÔNG TY:
1.Đánh giá nguồn lực vốn và nguồn vốn của Công ty:
Đây chính là công việc xem xét sự biến động của vốn, cơ cấu vốn, nhằm tìm hiểu khả năng tài chính cũng như việc quản lý và huy động nguồn vốn của Công ty,
vì vậy công ty có khả năng tài chính mạnh, khả năng quản lý vốn tốt, đặt biệt là vốn lưu động sẽ là lợi thế lớn trong cạnh tranh và sẽ có khả năng phát triển tốt.Sự biến động về vốn và nguồn vốn của công ty trong năm 2002 được thể hiện trong bản cân đối kế toán sau:
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
Ngày 31/12/2002
Trang 32(ĐVT: Đồng)
Chỉ tiêu Đầu năm
2002 Cuối năm
2002 Chênh lệch (%) Theo quy mô chung
Mức (%) Đầu năm Cuối năm
Trang 33*Nhận xét:
*Tài sản:
-Tổng tài sản cuối năm so với đầu năm tăng 0,52(%) tương ứng với mức tăng là 1.028.268.071(đ), nguyên nhân chính là do bộ phận tài sản cố định tăng 844.261.497(đ) tương ứng với tỉ lệ tăng là 2,13(%) rong bộ phận TSCĐ & ĐTDH thì bộ phận TSCĐ tăng 7.427.844.556(đ) tương ứng với tỷ lệ tăng 22,97(%), trong khi bộ phận chi phí XDCB dở dang giảm đáng kể là 6.574.626.040(đ) tương ứng với tỷ lệ giảm là 92,26(%).Về bộ phận TSCĐ & ĐTNH thì cuôi năm 2002 so với -
Về bố trí cơ cấu tài sản:Tỷ trọng TSLĐ trong tổng tài sản năm 2001 là 80,01(%) và đến năm 2002 tỷ trọng này đã giảm nhẹ nhưng vẫn còn khá cao là 79,68(%) trong khi tỷ trọng TSCĐ & ĐTDH cuối năm 2002 so với đầu năm tăng nhẹ là 0,33(%), từ19,99(%) lên 20,32(%), tỷ trọng này tăng chủ yếu do tỷ trọng TSCĐ tăng lên đáng kể là 3.65(%) (20,00(%) -16,35(%))
*Nguồn vốn:
- Để tài trợ cho quy mô tài sản tăng lên 1.028.268.071(đ) công ty đã gia tăng chủ yếu bộ phận nguồn vốn chủ sở hưũ là 867.064.705(đ), trong khi đó khoảng nợ phải trả chỉ tăng rất ít là 161.203.366(đ) tương ứng 0,09 (%)
- Xét về tình hình phân bổ nguồn vốn: Tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu cuối năm tăng so với đầu năm là 0,39(%) (7,5(%)-7,11(%)), trong khi nợ phải trả chỉ tăng 0,09(%).Tuy nhiên, trong khoản nợ phải trả thì khoản nợ ngắn hạn tăng cao là 2,2(%) và khoản nợ dài hạn thì giảm khá nhiều 2,59(%) Công ty đã dùng khoản nợ
Trang 34ngắn hạn để tài trợ cho các khoản nợ dài hạn đến hạn của công ty, qua đó nhận thấy tính tự chủ về tài chính của công ty la ìrất thấp
Tóm lại, trong năm 2002 công ty đã tăng quy mô tài sản nhưng rất ít và chủ yếu là TSCĐ, việc gia tăng này chủ yếu được tài trợ chủ yếu là nguồn vốn chủ sở hưũ.Việc bố trí cơ cấu vốn của công ty là một doanh nghiệp sản xuất như vậy là chưa hợp lý, tỷ trọng TSCĐ & ĐTNH còn chiếm quá lớn, trong năm 2002 công ty
đã tăng tỷ trọng TSCĐ & ĐTDH nhưng vẫn còn thấp
2 Đánh giá chung về tình hình doanh thu của Công ty :
Tình hình doanh thu của công ty qua 2 năm 2001 và 2002 được thể hiện trên bảng sau:
(ĐVT: đồng)
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Chênh lệch
Mức (%) I.Tổng doanh thu
1.Dthu xuất khâủ
2.Dthu nội địa
3.Dthu vải+vật tư
4.Dthu cửa hàng GTSP
5.Dthu gia công 210.222.965.101
Hoạt động kinh doanh của st trong năm 2002 so với năm 2001 không được tiến triển tốt, thị trường giày vải trong năm 2002 gặp khó khăn lớn, sản lượng giảm, do
đó qua bảng trên ta thấy doanh thu năm 2002 giảm so với năm 2001 là
Trang 3528.683.585.646(đ) tương ứng với tỷ lệ giảm là 13,64(%).Trong đó, chủ yếu là
doanh thu xuất khẩu đã giảm đáng kể là 25.457.033.037(đ), bởi vì công ty kinh
doanh thông qua xuất khẩu là chủ yếu, ngoài ra còn sự giảm sút đáng kể của doanh
thu vải+vật tư là 3.155.401.154(đ)
3.Đánh giá sơ lược về kết quả kinh doanh của Công ty :
Kết quả kinh doanh của công ty là thành quả cuối cùng mà công ty đạt được,
thông qua kết quả này ta có thể biết được công ty kinh doanh lãi hay lỗ.Để thấy
được hiệu quả của hoạt động kinh doanh taị công ty,ta hãy xem xét bảng sau:
(Xem trang bên)
Qua bảng trên, ta thấy doanh thu trong năm 2002 giảm đáng kể so với năm
2001 là 28.683.585.646(đ) tương ứng với tỷ lệ giảm 13,64(%),nguyên nhân là do
trong năm 2002 thị trường giày vải gặp khó khăn lớn, sản lượng giảm sút, tài sản
lưu động cũng không tăng đáng kể.Vì sản lượng giảm nên giá vốn hàng hóa năm
2002 cũng giảm đáng kể so với năm 2001 là 2.603.513.063(đ) Trong năm 2002, chi
phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp giảm đáng kể đặc biệt là chi phí bán
hàng giảm 3.290.844.664(đ) tương ứng với tỷ lệ 53,83(%) làm cho lợi nhuận thuần
từ HĐKD của doanh nghiệp năm 2002 tăng lên 10.728.055.075(đ) vượt năm 2001
1.861.895.446(đ) với tỷ lệ tăng 21(%) (ĐVT:Đồng)
Chỉ têu Năm 2001 Năm 2002 Chênh lệch
Mức Tỷ lệ(%) 1.Doanh thu thuần
Trang 36và ngược lại tăng hơn so với năm 2001 Trong năm 2002, chi phí cho hoạt động tài chính tăng quá cao đã làm cho lợi nhuận trước thuế không tăng cao như mong muốn, Công ty cần tìm những nguồn tài trợ có chi phí thấp để cải thiện hơn nữa kết quả kinh doanh của mình
Trang 37B.PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY HỮU NGHỊ ĐÀ NẴNG:
Trong công ty ,vốn lưu động là một thành phần vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh doanh được thể hiện dưới dạng các khoản đầu tư của doanh nghiệp vào tài sản lưu động như tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản lưu động khác Để hoạt động sản xuất kinh doanh được phát triển tốt thì công ty phải đảm bảo được hiệu quả của việc sử dụng vốn lưu động, bằng cách xác định được cơ cấu tài sản hợp lý, cấu trúc nguồn vốn thích hợp, xác định được nhu cầu vốn lưu động ở mỗi kỳ phải tương đối chính xác
Để đánh giá hiệu qủa sử dụng vốn lưu động tại công ty như thế nào, ta sẽ dựa vào thông tin trên bảng tổng kết tài sản và báo cáo thu nhập
1.Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
a.Thông số khả năng thanh toán:
Thực trạng chung cho các doanh nghiệp hiện nay là thiếu vốn kinh doanh trầm trọng, thậm chí ngay cả khi họ sử dụng toàn bộ vốn lưu động tự có, kết hợp khai thác triệt để các nguồn vốn khác như nguồn vốn xây dựng cơ bản, quỹ hay thu nhập chưa phân phối vẫn chưa đảm bảo cân đối cho nhu cầu vốn cho kinh doanh và công
ty Hữu Nghị cũng không nằm ngoài thực trạng đó
Để đáp ứng cho nhu cầu vốn kinh doanh, hầu hết các doanh nghiệp phải huy động từ nguồn tài trợ khác, chủ yếu vay ngắn hạn ngân hàng và tận dụng các khoản phải trả Tuy nhiên, việc sử dụng các nguồn tài trợ này buộc các doanh nghiệp phải
Trang 38liên tục đối đầu với các khoản nợ đến hạn Để thấy được công ty có khả năng hoàn trả được các khoản nợ đến hạn hay không ta cần xem xét một số chỉ tiêu sau:
* Khả năng thanh toán hiện hành:
Thông số này cho biết khả năng thanh toán nợ ngắn hạn bằng tài sản lưu động của công ty như thế nào Từ số liệu trên bảng cân đối kế toán năm 2002 của công ty, ta có được các hệ số thanh toán hiện hành như sau:
Qua số liệu trên cho thấy khả năng thanh toán hiện hành của công ty cuối năm giảm hơn so với đầu năm 2002 là 0,03, điều này cho biết rằng khả năng thanh toán hiện hành của công ty cuối năm thấp hơn đầu năm , biểu hiện tình trạng tài chính không được tốt của công ty trong năm 2002
Nguyên nhân chủ yếu của việc chỉ tiêu này cuối năm thấp hơn đầu năm là do tốc độ tăng của nợ ngắn hạn cao hơn tốc độ tăng của tài sản lưu động, việc tăng nợ ngắn hạn của công ty chủ yếu là do tăng khoản vay ngắn hạn từ 115,33 tỷ lên 119,27 tỷ, việc này thể hiện tình trạng tài chính không lành mạnh của công ty
Ngoài ra,chúng ta còn nhận thấy rằng khả năng thanh toán hiện hành của công ty còn rất thấp so với mức có thể chấp nhận được Bởi thông thường, căn cứ
để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp được cho là bình thường khi chỉ
số này bằng 2 Qua đó cho thấy công ty đang trong tình trạng rủi ro về tài chính là khá cao khi khả năng thanh toán của công ty chỉ là 0,99 và 0,96(năm 2002)
* Khả năng thanh toán nhanh:
Khả năng thanh toán nhanh
Trang 39Thông số này thể hiện khả năng của các loại tài sản lưu động hoán chuyển nhanh thành tiền dùng để thanh toán nợ ngắn hạn, số liệu được tính như sau:
Thông số khả năng thanh toán nhanh của công ty vào cuối năm tăng cao hơn so với đầu năm là 0,02, chủ yếu là do các khoản phải thu tăng cao hơn so với đầu năm trong khi lượng tiền giảm không đáng kể và chiếm tỷ trọng nhỏ, trong khi nợ ngắn hạn có tăng nhưng tốc độ nhưng không cao bằng các khoản phải thu
Nhìn vào số liệu hai chỉ tiêu trên, ta còn thấy tình hình tài chính bất lợi đang diễn
ra, trong khi các khoản phải thu vào cuối năm tăng hơn so với đầu năm, nghĩa là vốn công ty đang bị khách hàng chiếm dụng tăng lên thì vào cuối năm 2002 công ty phải gia tăng nợ ngắn hạn mà đúng hơn là vay ngắn hạn
Ngoài ra, nhà quản lý còn quan tâm đến các khoản có thể sử dụng để thanh toán nhanh nhất các khoản nợ ngắn hạn, đó là vốn bằng tiền Ta hãy xem xét các chỉ tiêu khả năng thanh toán tức thời trong năm 2002:
Dựa vào số liệu trên ta nhận thấy ngay khả năng thanh toán bằng tiền vào của công ty vào cuối năm thấp hơn so với đầu năm 2002 là 0,0012, do nguyên nhân là lượng tiền măỵ giảm nhẹ trong khi khoản nợ ngắn hạn lại tăng Mặc khác,chỉ số trên còn cho thấy khả năng thanh toán nợ ngắn hạn bằng tiền mặt của doanh nghiệp còn rất kém
Các thông số trên đây có ý nghĩa riêng biệt của nó,nó chỉ đưa ra kết quả sơ bộ về khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của công ty một cách chung chung,chưa đầy đủ,trong nhiều trường hợp sẽ không có ý nghĩa vì để phân tích khả năng thanh toán ta cần xem xét tốc độ chuyển đổi của các khoản nợ phải thu, hàng