Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 1II NỘI DUNG CHÍNH:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) theo hướng công nghiệp hoá,hiện đại hoá là con đường đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là hướng
đi tất yếu để phát triển kinh tế, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng lạc hậu,chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại Chúng ta sẽ đitìm hiểu cụ thể tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời gian vừaqua
1 Chuyển dịch cơ cấu ngành:
Cơ cấu ngành kinh tế vừa là cơ cấu quan trọng, vừa là cơ cấu mangtính phổ biến của thế giới Đối với Việt Nam, đất nước đi lên từ một nướcnông nghiệp, thì cơ cấu ngành kinh tế còn đặc biệt quan trọng đã có nhữngchuyển biến tích cực, đồng thời có những “zích zắc” cần phải được xem xéttổng thể Chuyển dịch tích cực về cơ cấu ngành kinh tế được thể hiện trênmột số mặt sau:
* Về cơ cấu các ngành lớn:
Có thể nêu lên ba nhận xét liên quan đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ba ngành kinh tế chủ chốt trong gần 20 năm qua trong thời kỳ đổi mới:
Trang 21 Để tạo nên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ này, ngành công
nghiệp (bao gồm cả xây dựng) và các phân ngành của nó đã có tốc độ tăng
trưởng nhanh, tạo nên sự chuyển dịch vượt trước Đặc biệt, ngành khai thác
mỏ đã có bước tiến nhanh với khai thác dầu khí, than được đẩy mạnh.Ngành dầu khí từ chỗ chưa khai thác dầu nay đã có sản lượng gần 20 triệutấn/năm (quy dầu) và ngành than tăng sản lượng lên hơn 3 lần, vượt 15triệu tấn và nhanh chóng đạt 20 tấn/năm Ngành điện cũng tăng trưởngmạnh, đi trước phục vụ sản xuất và dân sinh Từ mức sản lượng điện chưatới 9 tỷ KWh năm 1990, đến nay sản lượng điện đã tăng 4-5 lần Ngànhcông nghiệp chế biến phát triển mạnh, chiếm khoảng 80% giá trị sản lượngcông nghiệp Ngành dệt may và da giầy đã có bước phát triển vượt trội,đóng góp quan trọng vào mức tăng xuất khẩu Từ chỗ cả nước năm 1990chỉ sản xuất 100 tấn thép thì nay đã đạt hơn 2,5 triệu tấn thuộc mọi thànhphần kinh tế Ngành điện, điện tử cũng tiến bước mạnh mẽ Ngành vật liệuxây dựng đã sản xuất vượt 20 triệu tấn xi măng Ngành xây dựng đã cóbước phát triển mạnh, phục vụ xây dựng công nghiệp và dân dụng (cả đôthị khi đô thị hóa tăng nhanh và xây dựng nông thôn mới) Tóm lại, trongthời gian gần 20 năm qua, công nghiệp (bao gồm cả xây dựng) đã tăngthêm 11 điểm phần trăm trong cơ cấu GDP do liên tục tăng trưởng với tốc
độ cao trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đây là xuthế tất yếu, nhưng cần có sự điều chỉnh nhất định về cơ cấu bên trong củangành công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến theo hướng tăng nhanhhiệu quả
2 Ngành nông, lâm, ngư nghiệp vẫn phát triển nhanh so với tính chất
đặc thù của ngành này, góp phần quan trọng vào sự ổn định kinh tế xã hội,bảo đảm an ninh lương thực, tạo việc làm đa dạng và tiến hành công nghiệphóa, hiện đại hóa khu vực nông thôn Trong khi ngành lâm nghiệp tập trungvào nhiệm vụ giữ rừng nên sản lượng giảm thì ngành thủy sản đã có bướctiến vượt bậc, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu Ngành nông nghiệp cũng đa
Trang 3dạng hóa phát triển, không còn là ngành thuần nông, mà nay phát triển cảcây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày Tóm lại, ngành nông, lâm, ngưnghiệp mặc dù có tốc độ tăng trưởng khá cao so với quy luật chung củanông nghiệp, nhưng ngành này đã giảm tỷ trọng 16 điểm phần trăm, phảnánh tính tất yếu của quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu trong côngnghiệp hóa, phân công lại lao động xã hội.
3 Ngành dịch vụ đã có những bước phát triển mạnh, nhất là lĩnh vực
liên quan đến kết cấu hạ tầng kinh tế và phát triển đô thị, nhưng sự pháttriển không đều, nhất là trong những năm gần đây đã chuyển biến chậmhơn kinh tế nói chung, làm hạn chế sự tăng trưởng nền kinh tế Trongnhững năm đổi mới, ngành vận tải tăng sản lượng vận tải hàng hóa lên hơn
5 lần, trong đó khu vực tư nhân rất lớn mạnh hơn 10 lần trong thời kỳ đổimới và có sản lượng chiếm tới ¾ khối lượng hàng hóa vận chuyển Tómlại, trong gần 20 năm, ngành dịch vụ cũng có bước phát triển tương đối khánên đã tăng được 5 điểm phần trăm, góp phần nâng cao hiệu quả của nềnkinh tế
* Về cơ cấu các phân ngành : có thể nêu mấy nhận xét:
1 Trong lĩnh vực nông nghiệp, sản xuất thuần nông đã giảm 50% tỷ
trọng trong nền kinh tế, mặc dù đã chuyển mạnh từ sản xuất lương thựcsang cây công nghiệp (cả ngắn ngày và dài ngày), nhưng đất nước vẫn bảođảm an toàn lương thực, mỗi năm xuất khẩu được 3-4 triệu tấn gạo Tuynhiên, hiệu quả của vấn đề xuất gạo và một số cây công nghiệp cần đượctính toán kỹ hơn để có lợi ích lâu dài cho đất nước và cho người nông dân
2 Ngành lâm nghiệp đã chủ động điều chỉnh đúng hướng, chuyển sang
chăm sóc và tái tạo rừng, nâng cao độ che phủ Hiện nay, tỷ lệ che phủ đãđạt 38% Các ngành công nghiệp chế biến gỗ đã có chuyển biến sử dụng gỗhợp lý hơn, kể cả cho mục đích dân sinh hay xuất khẩu
3 Ngành thủy sản đã có sự chuyển biến vượt bậc, tăng với tốc độ trên
10% và gấp đôi tỷ trọng giá trị gia tăng trong nền kinh tế, tuy hiệu quả của
Trang 4ngành này cần có bước chuyển biến mạnh hơn Việc đầu tư cho thủy sảnphát triển bền vững vẫn là một vấn đề cần được xem xét thêm.
4 Ngành công nghiệp chế biến tuy chiếm khoảng 80% giá trị sản lượng
nhưng chỉ đóng góp 50% giá trị gia tăng của ngành CN-XD là do đã pháttriển mạnh các lĩnh vực gia công có giá trị gia tăng thấp Đây cũng là mộtnhược điểm quan trọng làm giảm hiệu quả và sức cạnh tranh trong điềukiện hội nhập Trong những năm tới, cần có chiến lược và chính sách cụthể để phát triển những lĩnh vực có tỷ lệ giá trị gia tăng cao hơn, có sứccạnh tranh lớn hơn
5 Ngành khai thác mỏ đã có sự chuyển biến vượt bậc với các ngành dầu
khí và than là mũi tiến vượt bậc Tuy nhiên, về lâu dài, vấn đề khai tháckhu vực I (từ đất đai) là vấn đề phải có phân tích để tìm hướng đi dài hạn
6 Ngành công nghiệp điện, nước, khí gas cũng có bước tiến nhanh đúng
hướng, tạo điều kiện cho phát triển sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân.Tuy nhiên, cơ cấu tiêu dùng vẫn còn là vấn đề cần xử lý (50% cho dândụng là chưa hợp lý về dài hạn, mặc dù quá trình đô thị hóa tăng nhanh)
7 Trong các ngành dịch vụ, vận tải và viễn thông chuyển dịch nhanh
nhất, tiếp đến là thương mại và dịch vụ tài chính Nhưng nhìn chung cònthiếu các ngành dịch vụ cao cấp Điều này sẽ ảnh hưởng mạnh đến chấtlượng và hiệu quả tăng trưởng trong quá trình đi sâu vào hội nhập
132,0
42,0
35,72,2
195,6
51,3
43,72,4
273,7
63,7
54,52,5
335,8
70,5
59,42,6
7,45
4,06
3,991,29
6,83
3,72
3,432,53
Trang 518,73,04,61,4
4,0
33,2
4,618,52,18,0
56,7
23,54,25,51,8
5,3
58,6
10,330,23,414,6
85,7
33,66,77,83,4
6,7
96,9
18,451,56,320,7
113,0
44,68,910,75,7
8,4
129,2
20,571,38,928,5
136,2
54,710,812,96,9
5,87
11,02
12,1810,9411,7510,27
6,97
6,717,546,7810,89
6,90
9,12
19,448,0910,238,09
7,17
6,527,836,259,84
Nguồn: Niên giám thống kê các năm.
Sự chuyển dịch này đạt được do đã tạo ra được quy mô kinh tế mới
và tốc độ tăng trưởng lớn trong các ngành công nghiệp và dịch vụ Chẳnghạn, trong khi công nghiệp và xây dựng tăng giá trị gia tăng trên dưới 10%/năm, gấp 1,5 lần tốc độ chung Trong 17 năm qua, ngành mỏ đã có giá trịgia tăng tăng trưởng với tốc độ gần 20%/năm, tạo nên sự vượt trội củangành này trong cơ cấu kinh tế, từ 1,84% lên 9,43%GDP Tất cả các ngànhcông nghiệp khác và xây dựng cũng đều tăng trên 10%/năm giá trị gia tăng
đã tạo nên tỷ trọng vượt trội của công nghiệp và xây dựng Đối với ngànhnông, lâm, ngư, do thủy sản tăng giá trị sản lượng và cả theo giá trị gia tăng
Trang 6gấp đôi nông nghiệp nên đã tạo ra sự chuyển dịch có hiệu quả Các ngànhdịch vụ cũng tăng khá, tạo ra sự chuyển dịch tích cực Ngành dịch vụ mặc
dù có lúc có tốc độ tăng cao hơn chút ít so với tốc độ GDP, có những phânngành quan trọng có mức tăng trưởng khá cao, tạo nên chuyển dịch trongngành này, nhưng nhìn chung mấy năm gần đây chuyển biến chậm
Trong sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cũng đã nổi lên một số vấn
đề cần xử lý:
1 Ngành nông nghiệp nói chung tăng chậm do những nguyên nhân
khách quan, nhưng sự chuyển dịch cơ cấu lao động chưa tương ứng, việcđầu tư cũng chưa phù hợp; đầu tư thủy lợi chiếm đến 70% vốn cho nôngnghiệp, nhưng các lĩnh vực khác chưa được chú ý tương xứng Ngành thủysản tuy có sự tăng trưởng vượt bậc, nhưng sự đầu tư cho lĩnh vực khuyếnngư, thủy lợi cho ngư nghiệp, đầu tư cho khâu giống và chế biến tiêu thụsản phẩm cũng chưa thật cân đối Kết quả là năng suất lao động và hiệu quả
bị giảm sút mạnh, sản lượng tăng nhanh nhưng giá trị gia tăng lại tăngchậm, do tiêu hao vật chất tăng rất cao
2 Ngành công nghiệp chế biến tuy tăng nhanh giá trị sản lượng, nhưng
phần giá trị gia tăng lại tăng trưởng chưa tương xứng do phát triển nhiềungành có tiêu hao vật chất lớn, nhất là các ngành gia công, hoặc không chủđộng được nguồn nguyên liệu như sắt thép, dệt may, da giầy, v.v Quátrình này vẫn tiếp tục diễn ra mặc dù trong từng ngành hàng, sản phẩm đã
có những cố gắng để giảm chi phí sản xuất Như vậy, chính chính sách cơcấu ngành và phân ngành chưa hợp lý nên chưa đóng góp nhiều vào tăngtrưởng công nghiệp
3 Ngành dịch vụ đang tăng chậm hơn tăng trưởng kinh tế nói chung dochưa phát triển mạnh các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng lớn, chất lượngcao như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm… Việc đầu tư cơ sở hạ tầng cónhiều lợi ích, nhưng nhiệm vụ về hoàn thiện kết cấu hạ tầng vào năm 2010còn rất nặng nề và chưa được phản ánh rõ trong chuyển dịch cơ cấu đầu tư
Trang 72 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế:
Cơ cấu các thành phần kinh tế ngày càng được chuyển dịch theohướng phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơchế thị trường có sự quản lý của nhà nước, trong đó kinh tế tư nhân đượcphát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong nhữngngành nghề mà pháp luật không cấm Từ những định hướng đó, khungpháp lý ngày càng được đổi mới, tạo thuận lợi cho việc chuyển dần từ nềnkinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, sang nền kinh tế thịtrường, nhằm giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng các nguồn lực
có hiệu quả, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế
Cơ cấu thành phần kinh tế thời gian qua đã đạt được một số kết quảtích cực: Tỷ trọng trong GDP của kinh tế Nhà nước giảm từ 40,2% năm
1995 xuống còn 38% năm 2006 và xuống thấp hơn trong năm 2007 Kinh
tế tập thể giảm tương ứng từ 10,1% xuống dưới 6,8% Kinh tế cá thể giảm
từ 35,9% xuống dưới 29% Kinh tế tư nhân trước năm 1990 hầu như chua
có gì, nay đạt khoảng 17%
Tỷ trọng của kinh tế ngoài nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài trong tổng số vốn đàu tư xã hội, trong tổng giá trị sản xuất côngnghiệp, trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng,trong tổng kim ngạch xuất khẩu, trong tổng số lao động đang làm việc…còn cao tăng nhanh và cao hơn nữa Trong tổng giá trị sản xuất côngnghiêp(tính thực tế), tỷ trọng của kinh tế tư nhân tăng từ 14.2% năm 2000lên trên 20% nawm2007, tỷ trọng của nền kinh tế có vốn đàu tư nước ngoài
đã tăng tương đương từ 41.3% lên gần 46%, vượt xa tỷ trọng doanh nghiệpnhà nước Trong tổng kim ngạch xuất khẩu, khu vực có vốn đầu tư nướcngoài hiện chiếm 57,5% Trong tổng số vốn đầu tư phát triển, tỷ trọng vốn
Trang 8của khu vực nhà nước(kể cả nguồn vốn ODA) đã giảm từ 59,8% năm 2001xuống còn 43,3% năm 2007, khu cực nhà nước tăng từ 22,9% lên 40,7%,khu vực có vốn đàu tư nước ngoài tăng 14,2% (2005) lên 16%(2007)
Khi sửa đổi Luật doanh nghiệp (năm 2000), các doanh nghiệp tưnhân đã có điều kiện thuận lợi để phát triển Bộ luật này đã thể chế hóaquyền tự do kinh doanh của các cá nhân trong tất cả các ngành nghề màpháp luật không cấm, dỡ bỏ những rào cản về hành chính đang làm trở ngạiđến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp như cấp giấy phép, thủtục, các loại phí… Tính trong giai đoạn 2000-2004, đã có 73.000 doanhnghiệp tư nhân đăng ký mới, tăng 3,75 lần so với giai đoạn 1991-1999 Chođến năm 2004, đã có 150.000 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động theoLuật doanh nghiệp, với tổng số vốn điều lệ là 182.000 tỷ đồng Từ năm
1991 đến năm 2003, tỷ trọng của khu vực kinh tế tư nhân trong GDP đãtăng từ 3,1% lên 4,1%, kinh tế ngoài quốc doanh khác từ 4,4% lên 4,5%,kinh tế cá thể giảm từ 35,9% xuống 31,2%, và kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài tăng từ 6,4% lên 14% Từ 1/7/2006, Luật Doanh nghiệp 2005 (ápdụng chung cho cả doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài) đã cóhiệu lực, hứa hẹn sự lớn mạnh của các doanh nghiệp bởi sự bình đẳng trongquyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sởhữu
Trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, những chính sách và biệnpháp điều chỉnh, sắp xếp lại doanh nghiệp, đặc biệt là những biện pháp vềquản lý tài chính của công ty nhà nước, quản lý các nguồn vốn nhà nướcđầu tư vào doanh nghiệp, hay việc chuyển các công ty nhà nước thành công
ty cổ phần theo tinh thần cải cách mạnh mẽ hơn nữa các doanh nghiệp nhànước, ngày càng được coi trọng nhằm nâng cao tính hiệu quả cho khu vựckinh tế quốc doanh Với chính sách xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần, tỷ trọng của khu vực kinh tế nhà nước có xu hướng giảm đi, từ
Trang 940,1% GDP năm 1991 xuống còn 38,3% năm 2003, kinh tế tập thể giảm từ10,2% xuống 7,9% trong thời gian tương ứng Trong các năm 2002-2003,
có 1.655 doanh nghiệp nhà nước được đưa vào chương trình sắp xếp và đổimới, năm 2004 là 882 doanh nghiệp và năm 2005 dự kiến sẽ là 413 doanhnghiệp Cụ thể từng thành phần kinh tế:
Thành phần kinh tế nhà nước
Kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, ngân hàngnhà nước, các quỹ dự trữ quốc gia, các quỹ bảo hiểm nhà nước và các tàisản thuộc sở hữu nhà nước có thể đưa vào vòng chu chuyển kinh tế
Kinh tế nhà nước dựa trên chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sảnxuất (sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước) Kinh tế nhà nước giữ vai tròchủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là nhân tố mở đường cho sự phát triểnkinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điềutiết vĩ mô nền kinh tế
Các doanh nghiệp nhà nước, bộ phận quan trọng nhất của kinh tế nhànước giữ vai trò then chốt, phải đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật và công nghệ, nêu gương về năngsuất, chất lượng, hiệu quảkinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật
Để làm được như vậy, trong 5 năm tới phải cơ bản hoàn thành việccủng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạtđộng của các doanh nghiệp hiện có, đồng thời phát triển các doanh nghiệpnhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành, một
số lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng Việc sắp xếp lại các doanhnghiệp nhà nước được thực hiện theo hướng sau:
Trang 10* Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sơ các công ty nhà nước,
có sự tham gia của các thành phần kinh tế Khẩn trương cải thiện tình hìnhtài chính và lao động của các doanh nghiệp nhà nước, củng cố và hiện đạihóa một bước các tổng công ty nhà nước
* Thực hiện tốt chủ trương cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu đối với cácdoanh nghiệp nhà nước không cần 100% vốn
* Giao, bán, khoán, cho thuê… các doanh nghiệp loại nhỏ mà nhà nướckhông cần nắm giữ
* Sáp nhập, giải thể, cho phá sản những doanh nghiệp hoạt động khônghiệu quả và không thực hiện được các biện pháp trên
* Về mặt quản lý, nhà nước phải phân biệt về quyền của chủ sở hữu vàquyền kinh doanh của doanh nghiệp Thực hiện chế độ quản lý công ty đốivới doanh nghiệp dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ sở hữu
là nhà nước và công ty cổ phần có vốn nhà nước Giao cho hội đồng quảntrị doanh nghiệp quyền đại diện trực tiếp chủ sở hữu với quyền tự chủ sảnxuất kinh doanh; quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quanquản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
* Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước để tạođộng lực phát triển và nâng cao hiệu quả theo hướng xóa bao cấp, thực hiệncạnh tranh bình đẳng trên
thị trường, tự chịu trách nhiệm về sản xuất kinh doanh, nộp đủ thuế và cólãi Thực hiện tốt quy chế dân chủ trong doanh nghiệp, có cơ chế kiểm tra,kiểm soát, thanh tra của nhà nước đối với doanh nghiệp
Thành phần kinh tế tập thể
Trang 11Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đóhợp tác xã là nòng cốt, có thể dựa trên sở hữu tập thể, cũng có thể quyền sởhữu hợp pháp vẫn thuộc về các thành viên, nhưng quyền sử dụng lại mangtính chất tập thể Kinh tế tập thể là hình thức liên kết tự nguyện, rộng rãicủa người lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ vàvừa không giới hạn về quy mô, lĩnh vực và địa bàn, có thể kinh doanh tổnghợp đa ngành hoặc chuyên ngành.
Nhà nước giúp hợp tác xã đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học, côngnghệ, thông tin, mở rộng thị trường, xây dựng các quỹ phát triển hỗ trợ hợptác, giải quyết nợ tồn đọng Khuyến khích việc tích lũy, phát triển có hiệuquả vốn tập thể trong hợp tác xã
Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ
Kinh tế cá thể, tiểu chủ ở nông thôn và thành thị hoạt động kinhdoanh dựa vào vốn và sức lao động của người sở hữu là chủ yếu Thế mạnhcủa thành phần kinh tế này là phát huy nhanh có hiệu quả tiền vốn, sức laođộng, tay nghề, sản phẩm truyền thống… vì thế nó có vai trò rất quan trọngtrong sự phát triển Do những ưu thế đó, Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ
về vốn, kỹ thuật, công nghệ, tài chính, tiêu thụ sản phẩm… để nó pháttriển Khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinhcho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn
Thành phần kinh tế tư bản tư nhân
Kinh tế tư bản tư nhân bao gồm các đơn vị kinh tế mà vốn do mộthoặc một số nhà tư bản trong và ngoài nước đầu tư để sản xuất kinh doanh.Nét nổi bật của thành phần kinh tế này là sở hữu tư nhân hoặc sở hữu hỗnhợp và lao động làm thuê, nó được tổ chức dưới hình thức doanh nghiệp tưnhân, công ty đối nhân, công ty đối vốn Tính đến cuối năm 2001 nền kinh
Trang 12tế nước ta có 24.387 doanh nghiệp tư nhân Các doanh nghiệp kinh tế tưbản tư nhân không những đóng góp và huy động ngày càng nhiều cácnguồn vốn trong xã hội đầu tư vào sản xuất, kinh doanh mà còn qua đó giữvai trò quan trọng trong việc tạo thêm việc làm, xóa đói giảm nghèo, cảithiện đời sống và hoạt động nhân đạo Với vị thế ấy, Đảng ta chủ trươngkhuyến khích phát triển rộng rãi kinh tế tư bản tư nhân trong các ngànhnghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm Tạo môi trường kinhdoanh về chính sách, pháp lý để phát triển trên những định hướng ưu tiêncủa nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài Khuyến khích tư bản tư nhânchuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động Đẩymạnh liên doanh liên kết với các thành phần kinh tế khác.
Thành phần kinh tế tư bản nhà nước
Kinh tế tư bản nhà nước bao gồm tất cả các hình thức hợp tác, liêndoanh giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư bản trong nước cũng như nướcngoài, nhằm khai thác các nguồn lực cho phát triển và đặt dưới sự điềuchỉnh của pháp luật Việt Nam Kinh tế tư bản nhà nước là sản phẩm từ sựcan thiệp thông minh của Nhà nước vào hoạt động của các tổ chức, đơn vịkinh tế tư bản Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy, kinh tế tư bản nhà nướcthực sự là cầu nối giữa sản xuất nhỏ và sản xuất lớn, là “nhịp cầu trunggian” đi lên xã hội chủ nghĩa Nó có vai trò quan trọng trong việc động viêntiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý của các nhà
tư bản, vì lợi ích của bản thân họ cũng như của công cuộc xây dựng và pháttriển của đất nước ta Do đó, Đảng ta chủ trương phát triển đa dạng cáchình thức tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh
tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước và ngoài nước
Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài