Chi Salacia L. có khoảng 150 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của 2 nửa bán cầu. Một số loài thuộc chi này như S. reticulata, S. oblonga, S. chinensis đã được sử dụng làm thuốc điều trị đái tháo đường từ hàng ngàn năm nay trong Y học cổ truyền Ayurveda. Nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học cao đã được phân lập từ các loài nói trên, trong đó hợp chất salacinol là một trong những hợp chất tự nhiên có hoạt tính ức chế glucosidase mạnh nhất được biết đến. Ở Việt Nam có 14 loài Salacia, phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền Trung và Nam bộ như: Nghệ An, Huế, Quảng Trị, Lâm Đồng, Kiên Giang... Nhưng chỉ có loài chóc máu S. chinensis được dùng theo kinh nghiệm làm thuốc và gần đây đã được nghiên cứu về thành phần hóa học, còn các loài khác hoàn toàn chưa được nghiên cứu. Để góp phần tìm hiểu khả năng khai thác các loài thuộc chi Salacia làm thuốc, chúng tôi đã thu thập được một số mẫu từ các loài Salacia khác nhau làm đối tượng nghiên cứu hóa học.
Trang 1TỔNG QUAN VỀ CÂY CHÓC MÁU SALACIA L.
1.1 Vài nét về chi Salacia L.
1.1.1 Đặc điểm thực vật học
Trên thế giới chi Salacia có khoảng 150 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của hai nửa bán cầu Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về thực vật học của chi này, tiêu biểu là các bộ thực vật chí như: thực vật chí Trung Quốc, Trung Quốc cao đẳng thực vật giám đồ.[9]
Riêng ở Việt Nam trong cuốn “danh lục các loài thực vật Việt Nam” có liệt kê 14
loài như: S.chinensis, S.cochichinensis, S.laotica, S.macrophylla… thuộc chi Salacia L
(họ Celatraceae) Chúng phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền Trung và Nam bộ như Nghệ
An, Huế, Quảng Trị, Lâm Đồng, Kiên Giang [9]
Các loài thuộc chi này là cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, thường có cành trên leo bám, có hoặc không có nhựa mủ Lá mọc đối hoặc vòng, có cuống, có hoặc không có lá kèm, lá kèm nhỏ, sớm rụng Phát hoa dạng xim, đơn giản, mọc ở nách lá hoặc ngoài nách lá, có lá bắp bền, hoa lưỡng tính hoặc đơn tính Cánh hoa màu trắng, xanh, vàng, vàng cam, nâu hoặc đỏ, xếp lợp Có đĩa mật ngoài nhị, quả hạch hình cầu hoặc thuôn dài, vỏ quả ngoài như da cà, vỏ quả giữa nhầy, quả có 2-3 ô, sớm tụ lại thành một ô do vách ngăn mất dần
Đa phần các loài thuộc chi có mùa hoa vào tháng 2-3 và mùa quả vào tháng 5
Hoa Quả
1
Trang 2Các loài Salacia L có thành phần hóa học đa dạng gồm nhiều nhóm chất như
terpenoid , các hợp chất phenol, tannin, đường tự do và các đường sunfat nội…Dưới đây
là thành phần hóa học của một số loài thuộc chi này đã được công bố
1.1.2.1 Terpenoid
Từ dịch chiết methanol 80% của thân cây S chinensis L có nguồn gốc ở Thái Lan,
Morikawa và cộng sự đã phân lập và xác định được cấu trúc hóa học của 3 triterpen
Trang 3Vào năm 2008, nhóm tác giả trên cũng đã phân lập và nhận dạng thêm 8 triterpen
có các bộ khung dammaran, lupan, oleanan từ lá của S chinensis đặt tên là foliasalacin
A1 (8), A2 (9), A3 (10), A4 (11), B1 (12), B2 (13), B3 (14) và C (15).[7] Từ phân đoạn
chiết ethyl axetat đã xác định thêm được 3 triterpen mới có khung D:B-friedobaccharan là
foliasalacin D1 (16), foliasalacin D2 (17) và foliasalacin D3 (18) cùng với 20 triterpen dã biết khác là 3β-hydroxy-20-oxo-30-nor-lupan (19), 29-nor-lupan-3,20-dion (20), 20(29)- lupen-3β,15α-diol (21), betulin (22), 20(29)-lupen-3-on-28-ol (23), axit betulinic (24), 20(29)-lupen-3β,30-diol (25), 30-hydroxy-20(29)-lupen-3-on (26), 3β,20-dihydroxylupan (27), friedelin (28), 4-epifriedelin (29), friedelan-3-on-29-ol (30), octandronol (31), 12β- hydroxy D:A-friedooleanan-3-on (32), axit oleanoic (33), erythrodiol (34), axit ursolic (35), uvaol (36), 19α-H-taraxastan-3β,20α-diol (37), isoursenol (38), 3- dehydrohancokinol (39).[11]
3
Trang 7Ở Việt Nam, nhóm tác giả Trần Thị Minh và cộng sự đã phân lập và xác định cấu trúc hóa học của 6 chất đó là các triterpen khung hopan, lupan và daucosterol từ cành của
S chinensis thu thập tại Thừa Thiên Huế và 13 chất từ cành và lá S chinensis thu thập tại
Quảng Bình, trong đó có 8 triterpen khung friedelan.[10]
7
Trang 10Từ cặn chiết benzen của thân cành Salacia reticulata Var β-dilandra,
Vuayakuma và cộng sự đã tách được các triterpenoid là iquesterm, pristimerin, dihydroxy-D.A friedooleanan-3-one, D.A-friedooleanan-3-one, 28-hydroxy- D.A-friedooleanan-3-one, 3-oxo-D.A-friedooleanan- 28-al, 3-oxo-D.A-friedooleanan-30-al, D.A-friedooleanan- 3, 21-dione, 30-hydroxy-D:A-friedooleanan- 3-one, 2lα-hydroxy-D.A-friedooleanan-3-one, 3-oxo- D: A-friedooleanan-30-oic acid, pristimerin và 2lα,30-
21α,26-dihydroxy-D A-friedooleanan-3-one (40) [14]
Cũng từ S.reticulata Bravani dhanabanasingham và cộng sự đã phân lập được các
triterpen khác từ phân đoạn n-hexan bao gồm: isoiguesterinol (41), 30-hydroxypristimerin (42), celastrol (43), pristimerin (44), tingenone (45), 22β-hydroxytingenone (46),
salacenonal (47), salaciquinone (48), isoiguesterin (49), netzahualcoyene (50) [15]
Trang 12dione (53), 6β,26-dihydroxy- D:A-friedo-oleanan-3-one (54), oleanan-3-one (55), and 6β,26-dihydroxyD:A-friedo-oleana-3,21dione (56) [17].
Trong lá và rễ của S.campestris có chứa triterpene chứa nhân friedelan và
quinonemethid
Lá của S campestris chứa hàm lượng friedelan cao nhất là 3-friedelanol (57) và
friedelin (58) chiếm tới hơn một nửa hàm lượng triterpen có trong đó Trước đó
quinonemethides không được phát hiện trong lá tuy nhiên nó lại được tìm thấy trong vỏ rễ
cây với các hợp chất có hàm lượng từng chất lên tới 0.2% Trong rễ của S.campestris 7
năm tuổi có chứa (59) (0.32%) và (60) (0.033%), và sự tăng lên của nồng độ các chất 22- hydroxymaytenin (61), 20- hydroxymaytenin (62), celastro (63) and netzahualcoyone (64) [5]
Trang 13Từ S beddomei các nhà khoa học cũng tìm thấy các triterpen khung lupan và
friedelan như friedelan-3-one, 15α-hydroxyfriedelan-3-one(65), l,3-dione (66), lβ,15α-dihydroxyfriedelan-3-one (67), salacianone (lup-20(29)-en-3,21- dione) (68), salacianol (21β-hydroxylup- 20(29)-en-3-one)(69), lup-20(29)-en-3-one (70), friedelan-3-one (71), 15α-hydroxyfriedelan-3-one (72), 15α-hydroxyfriedelane-l,3- dione (73), pristimerin và sitosterol [2], [3],[ 4]
15α-hydroxyfriedelane-13
Trang 14R 68: O 69: H, β-OH 70: H 2
Trang 15Như vậy, trong các loài thuộc chi Salacia.L thì các triterpen có khung cơ bản là
lupan, hopan, friedelan, taraxeran Các loài khác nhau, hay các cây cùng một loài nhưng được thu hái ở những vùng có địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau, được thu hái vào các thời điểm khác nhau sẽ chứa các triterpen khác nhau Đây là một đặc điểm rất thú vị khi nghiên cứu về các loài thuộc chi này
1.1.2.2 Các phenol
Ngoài triterpenoid, các hợp chất phenol cũng được tìm thấy trong các loài thuộc
chi Salacia L như mangiferin, quercetin, vitexin, isovitexin, epicatechin, epigallocatechin
từ S.chinensis
1.1.2.3 Các glycosid
Từ S chinensis Thái Lan, Yi Zhang và cộng sự đã phân lập và nhận dạng các glycosid,
trong đó có glycosid của Foliasalacinol.[12]
15
Trang 17Các hợp chất Salacinol và kotalanol được tìm thấy trong phần chiết nước từ rễ S reticulata và S.oblonga là các đường sunfat nội có khả nằng ức chế chống lại một vài
enzym chuyển hóa cacbohydrat (maltose, isomaltose, α-amylose và men khử aldose) [16]
1.1.3 Hoạt tính sinh học của một số hợp chất được phân lập từ Salacia L.
Theo các nghiên cứu đã được công bố, dịch chiết các loài thuộc chi Salacia L thể
hiện các tác dụng sinh học như: Tác dụng chống tăng đường huyết, tác dụng chống oxy hoá, tác dụng bảo vệ gan, tác dụng chống béo phì, tác dụng chống ung thư, tác dụng kháng khuẩn, độc tính và tác dụng không mong muốn Dưới đây là hoạt tính sinh học của
một số chất tiêu biểu:
Betulin hay 20(29)-lupen-3β,28-diol là hợp chất đặc trưng cho khung lupan, được
phân lập lần đầu tiên vào năm 1988 Đây là một triterpen có mặt trong nhiều loài thực vật thuộc các họ khác nhau Các nghiên cứu cho thấy Betulin có nhiều hoạt tính như hoạt tính gây độc tế bào trên 2 dòng tế bào HeLa và Hep-2 với cùng giá trị IC50 =40 µg/ml, hoạt tính chống HIV với IC50 =6,1 µg/ml, có tác dụng bảo vệ gan và làm giảm khả năng gây độc của CdCl2 ở nồng độ thấp 0,1 µg/ml Cơ chế có thể là do Betulin thúc đẩy sự tổng hợp các protein có tác dụng bảo vệ các tế bào khỏi ảnh hưởng của CdCl2
Theo những nghiên cứu của Trần Thị Minh và cộng sự, các hợp chất triterpen được
tách từ lá, cành cây chóc máu S.chinensis ở Việt Nam (Quảng Bình và Thừa Thiên Huế)
đã được thử nghiệm hoạt tính gây độc trên 4 dòng tế bào ung thư ở người là: ung thư vú (MCF-7), ung thư phổi (LU), ung thu gan (Hep G2), và ung thư biểu mô (KB) với chất
đối chứng là Elipticine Kết quả cho thấy chất 7α,21α-dihydroxyfriedelan-3-on phân lập
17
Trang 18từ cây chóc máu thu tại Quảng Bình có tác dụng ức chế 50% sự phát triển của 4 dòng tế bào ở các giá trị IC50 là MCF-7, IC50=27,35 µg/ml; LU, IC50=19,27 µg/ml; Hep-G2,
IC50=16,22 µg/ml; KB, IC50=16,86 µg/ml Trong khi đó axít 3,4- secofriedelan-3-oic
cũng được phân lập từ cây này thể hiện tác dụng ức chế 50% đối với 4 dòng tế bào thử nghiệm nhưng yếu hơn từ 4 đến 6 lần so với 7α,21α-dihydroxyfriedelan-3-on
Axít 28-hydroxy-3-oxo-30-lupanoic là một chất mới được phân lập từ cây chóc
máu thu tại Thừa Thiên Huế cũng có khả năng kìm hãm 50% sự phát triển của cả 4 dòng
tế bào thử nghiệm, trong đó dòng LU cho giá trị IC50= 25,77 µg/ml.[10]
Bảng 1 Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào
Bằng phương pháp chiết tách theo định hướng tác dụng sinh học, Yoshikawa M
và cs (Nhật Bản) đã phân lập và xác định được hai hợp chất có tác dụng ức chế α
-glucosidase mạnh là salacinol và kotalanol từ rễ hai loài Salacia này [13]
Tác dụng ức chế α-glucosidase trong ruột in vitro của salacinol và kotalanol đã
được thử nghiệm so sánh với thuốc ức chế α-glucosidase đang có trên thị trường là acarbose và voglibose (Bảng 2)[1] Kết quả cho thấy hoạt tính ức chế maltase của salacinol và kotalanol hơi kém hơn acarbose, hoạt tính ức chế sucrase mạnh hơn acarbose, còn hoạt tính ức chế isomaltase thì mạnh hơn acarbose nhiều lần (salacinol gấp gần 170
Trang 19Salacinol Kotalanol Acarbose Voglibose
CH 3
+ I
-1-deoxy-4-thio-D-arabinofuranose
Các thử nghiệm in vivo trên chuột cống trắng cho thấy salacinol có tác dụng ức chế
mức tăng glucose huyết trên chuột dùng maltose và sucrose mạnh hơn acarbose Đối với chuột dùng maltose, liều uống có tác dụng hạ glucose huyết sau khi ăn có ý nghĩa đối với salacinol là 25mg/kg, với acarbose là 200mg/kg Khi dùng sucrose, salacinol với các liều 1,25 - 2,5 – 5,0mg/kg đã thể hiện tác dụng hạ glucose huyết có ý nghĩa tương đương với acarbose ở liều 10mg/kg
19
Trang 20Bảng 3 Tác dụng ức chế tăng glucose huyết của salacinol và acarbose trên chuột cống
trắng ăn maltose hoặc sucrose (H Matsuda và cs., 2002)
Liều n Nồng độ đường huyết (mg/dl)
Trang 21Từ thân loài S prinoides DC (tên đồng danh với S chinensis) các tác giả Mỹ
(US Patent 5691386 năm 1997) đã phân lập được hợp chất en-2-on Hợp chất này đã được chứng minh trên mô hình thực nghiệm ở chuột bị ĐTĐ
3β,30-dihydroxylup-20(29)-do biến đổi gen là có tác dụng gây hạ đường huyết tương đương với thuốc hoá dược metformin
HO
HO O
dihydroxylup-
20(29)-en-2-on
250 8 - 72,6 P > 0,05 - 127,6 P = 0,0066
Ngoài hai hợp chất chứa S có hoạt tính ức chế α-glucosidase mạnh nói trên, trong
số các chất phân lập được từ S reticulata, mangiferin đã được chứng minh có hoạt tính ức chế các enzym sucrase, isomaltase và aldose reductase in vitro với các trị số IC50 tương ứng là 87, 216 và 1,4µg/ml [6],
21
Trang 22O HO
OH
OH
OH O
Glc
Mangiferin
Như vậy, có 3 loài thuộc chi Salacia là S reticulata, S oblonga, S chinensis đã
được chứng minh có tác dụng chống tăng đường huyết theo cơ chế ức chế α-glucosidase
và đã được các nhà khoa học Nhật Bản nghiên cứu sâu về thành phần hoá học Các chất salacinol, kotalanol, 3β,30-dihydroxylup-20(29)-en-2-on, magiferin đã được chứng minh
là hoạt chất chính gây ra tác dụng này
Các hợp chất salason A (1), B (2), C (3), một norfriedelan- triterpen là salaquinon
A (4) và eudesman- sesquiterpen là salasol A (5) đã được thử nghiệm có tác dụng ức chế
men khử aldose lên thủy tinh thể của chuột
1.2 Salacia cochinchinensis Lour.
1.2.1 Đặc điểm loài Salacia cochinchinensis Loureiro theo "Thực vật chí Trung Quốc"
Cây bụi, cao tới 2m; cành con gần 4 cạnh, bị ép, sau chuyển sang tròn, màu xám nâu, có hoặc khong có bì khổng nhỏ Cuống lá dài 4-5mm, có rãnh; phiến lá hình mác thuôn, 9-11x3-4 cm, chất giấy hay chất da mỏng, gân bên 6 -7 cặp, gân mạng không rõ Chùm ở nách lá, nhiều hoa; cuống hoa dài 6-10 mm, gốc có nhiều vảy nhỏ đa cột Hoa màu lục nhạt; đài hình tam giác rộng, mép có chất mạng Nhị 3; chỉ nhị phẳng, giống như lưỡi, đính ở mép đĩa, gập xuống; túi bao phẫn tõe ra Bầu 3 ô, chìm trong đĩa, mỗi ô 2 noãn, Quả mọng, đường kính tới 2cm, vỏ quả ngoài nạc khi tươi, 1-3 hạt Hạt hình tam giác
1.2.2 Đặc điểm của Salacia cochinchinensis Lour thu hái được
Trong số các loài Salacia thu thập được ở Việt Nam, loài S cochinchinensis có
vùng phân bố rộng nhất, với số lượng cá thể tương đối, dễ bắt gặp trong tự nhiên Đặc biệt
Trang 23Chùm ở nách lá, nhiều hoa; cuống hoa dài 6-10 mm, gốc có nhiều vảy nhỏ đa cột Hoa màu lục nhạt; đài hình tam giác rộng, mép có chất mạng Nhị 3; chỉ nhị phẳng, giống như lưỡi, đính ở mép đĩa, gập xuống; túi bao phẫn tõe ra Thân bò Mặt trong vỏ rễ màu đỏ nghệ Lát cắt ngang qua rễ có nhiều vòng tròn đồng tâm Vỏ rễ bong tróc
Ảnh chụp hoa của loài Salacia cochinchinensis dưới kính hiển vi soi nổi
a) Bộ nhụy nhị, b) Bầu cắt dọc, c) Bầu cắt ngang
23
Trang 24Ảnh chụp quả của loài Salacia cochinchinensis
a’) Quả, b’) Quả cắt dọc, c’) Quả cắt ngang
Hình 2 Hình ảnh cây, hoa và quả loài Salacia cochinchinensis L.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hisachi Matsuda et al, Antidiabetogenic constituent from several natural medicines, Pure Appl.Chem., 74(7), 2002, 1301-1308.
2 Hisham, G.Jayakumar,Y Fujimoto and N Hara (1995), Salacianone and salacianol, two triterpenes from Salacia beddomei , Phytochemistry, Vol 40, No.4,
pp.1227-1231
3 Hisham, G.Jayakumar,Y Fujimoto and N Hara (1995), 20,29-Epoxysalacianone and 6β-hydroxysalacianone, two lupane triterepenes from Salacia beddomei,
Trang 255 Joaquim Corsino, Paulo Roberto F de Carvalho Massuo Jorge Kato, Leandro Ribeiro Latorre, Olga Maria M F Oliveira, Angela Regina Araújo, Vanderlan da S
Bolzani, Suzelei C França, Ana Maria S Pereira and Maysa Furlan (2000), Biosynthesis
of friedelane and quinonemethide triterpenoids is compartmentalized in Maytenus aquifolium and Salacia campestris, Phytochemistry, Vol 55, pp.741-748
6 Masayuki Masuda, Norihisa Nishida, Hiroshi Shimoda ,Miki Takada, Yuzo
Kawahara, and Hisashi Matsuda (2001), Polyphenol constituents from Salacia Species: Quantitative Analysis of Mangiferin with α – Glucosidase and Aldose Reductase Inhibitory Activities, Yakugaku Zasshi, Vol 121(5),pp 371-378.
7 Masayuki Yoshikawa, Yi Zhang, Tao Wang, Seikou Nakamura and Hisashi
Matsuda, New Triterpene Constituents, Foliasalacins A 1 —A 4 , B 1 —B 3 , and C, from the Leaves of Salacia chinensis, Chem Pharm bull, Vol 56(7), pp 915-920.
8 Morikawa, Toshio, Kishi, Akinobu: Pongpiriyadacha, Yutana; Matsuda, Hisasha;
Yoshikawa Masayuki (2003), Structure of New friedelane- Type Triterpene and Eudesmane-Type Sequiterpene and Andose Reductase Inhibititor from Salacia chinensis,
Journal of Natural Products, Vol, 66(9), pp 1191-1196
9 Nguyễn Tiến Bân và cs., Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập II, nxb Nông
nghiệp, 2003, 1131-1133
10 Trần thị Minh , luận án tiến sĩ 2010
11 Yi Zhang, Seikou Nakamura, Tao Wang, Hisashi Matsuda and Masayuki
Yoshikawa (2008), The absolute stereostructures of three rare D:B-friedobaccharane skeleton triterpenes from the leaves of Salacia chinensis,Tetrahedron, Vol 64, pp 7347-
7352
12 Yi Zhang, Seikou Nakamura, Yutana Pongpiriyadacha, Hisashi Matsuda and
Masayuki Yoshikawa, Absolute Structures of New Megastigmane Glycosides, Foliasalaciosides E 1 , E 2 , E 3 , F, G, H, and I from the Leaves of Salacia chinensis, Chem Pharm bull, Vol 56 (4), pp 547-553.
13 Yoshikawa M et al, Absolute sterostructure of potent α-glucosidase inhibitor, salacinol, with unique thiosugar sunfonium sunfate inner salt structure from Salacia reticulata, Bioog Med Chem., 10(5), 2002, 1547-1554.
25