Luận văn, khóa luận tốt nghiệp, báo cáo là sản phẩm kiến thức, là công trình khoa học đầu tay của sinh viên, đúc kết những kiến thức của cả quá trình nghiên cứu và học tập một chuyên đề, chuyên ngành cụ thể. Tổng hợp các đồ án, khóa luận, tiểu luận, chuyên đề và luận văn tốt nghiệp đại học về các chuyên ngành: Kinh tế, Tài Chính Ngân Hàng, Công nghệ thông tin, Khoa học kỹ thuật, Khoa học xã hội, Y dược, Nông Lâm Ngữ... dành cho sinh viên tham khảo. Kho đề tài hay và mới lạ giúp sinh viên chuyên ngành định hướng và lựa chọn cho mình một đề tài phù hợp, thực hiện viết báo cáo luận văn và bảo vệ thành công đồ án của mình.
Trang 1
TRUONG DAIHOC KINH TE THANH PHO HO CHI MINH
KHOA THUONG MAI- DU LIC —- MARKETING
Nghiên cứu tình hình xuất khẩu của hàng Da giày ViệtNam
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kim ngạch xuất khẩu ngành
hàng da giày trong tương lai
Trang 2
Mục lục
1 Tình hình xuất khẩu của Việt Nam 2005— 7 tháng 2010
1.1 Tình hình cán cân thương mại VN Giai đoạn 2005- 7 tháng 2010 1.11 Đánhgi Xuất khâu: - S5 =2 1.12 Đánh gñ nhập khâu và cán cân thương mại:
1.13 Phân tích tỉnh hình xuất khâu một số ngành hàng
In nh H,
In c5 Ô 1.1.3.4 in o6
1.1.3.5 ?)ẽc 6
2 Tình hình xuất khẩu ngành da giày Việt Nam: s25 =s< 2.1 — Sản phẩm da khác S. <2-22S22222222EZ-EEEEEE=irsretre 2.2 _ Thị trường xuất khâu của ngành da giày Việt Nam
2.2.1 Cácthịtrường xuất khẩu chủ lực: < =+
2.2.1.1.1 Đặc điểm thị trường
2.2.1.1.2 Tình hình xuất khẩu da giày sang thị trường EU
2.2.1.2 HN
2.2.1.2.1 Đặc điểm thị trường giày dép Mỹ -
2.2.1.2.2 Tình hình xuất khẩu da giày sang Mỹ
2.2.1.3 Thị trường khác - ~ 5
GVHD: Ths Ngô Thị Hải Xuân Nhóm thực hiện: nhóm 8
- 7 Page |2
.12
12
13
14
15
16
18
21
„23 -Ö 23
„26
26
29
34
34
34 39
Trang 32.2.1.4
2.2.2 _ Tầm nhìn đến 2020 của ngành đa giảày s25
3 Tình hình sản xuất của ngành đa giày Việt Nam =.-.-
3.1 _ Năng lực sản xuất của ngành da giày Việt Nam
3.2 _ Tình hình các doanh nghiệp trong ngành da giày Việt Nam
3.3 Lợi thế so sánh đối với các đối thủ cạnh tranh
TC, so
3.4.1 Điểmyếu
3.4.1.1 3.4.1.2 3.4.1.3 3.4.1.4 3.4.1.5 3.4.1.6 Thị tường nộ 1 đỊa -
Về mẫu thiết kế, kiểu dáng giày: -= -+ se Về nguồn nguyên liệu : - 222-222 222zeZ-erre re Về công nghệ sản xuất 222-2252 2c+zeZ-esre re l0 3n
Tỉ lệ trong chuỗi gia tăng giá trị thấp
Thương hiệu da giày Việt Nam chưa được khẳng định:
3.42 Điểm mạnh =-«s- 3.4.2.1 Lợi thế nhân công giá rẻ so với các đối thủ khác
3.4.2.2 3.4.3 CƠ hỘi ~ Ăn rưe 3.4.3.1 3.4.3.2 3.4.3.3 3.4.3.4 3.4.3.5 GVHD: Ths Ngô Thị Hải Xuân Công tác xúc tiến thương mại tỐt: - -. -< .-
Cơ hôi từ việc Hội Nhập S 752 Ă 5S cà Cơ hôi từ nhu cầu tiêu đùng
- 45 -Ö 47 49 49 52 53 37 37 37 37 59 60
61 61 -„ 62 62 62 -„ 63 63 63 Cơ hội học tập kinh nghiệm của các doanh nghiệp nước ngoài: 64 Cơ hội từ các thị trường đặc b‡ệt từ thị trường Đông Á: 64
Cơ hội tăng thị phần: s -¿
Nhóm thực hiện: nhóm 8
64
Page |3
Trang 4
4.1
3.4.4.1 Nguy cơ từ đối thủ cạnh tranh Trưng Quốc 6Š
3.4.4.2 Nguy cơ từ việc bị loại ra khỏidanh sách các nước hưởng GSP
của EU 65
3.4.4.3 Nguy cơ thiếu nhân công cho sự phát trên bền vững 6
3.4.4.4 Nguy cơ rào cản kỹ thuật - s57 5< se sese=eec«ee ÔỐ
3.4.4.5 Nguy cơ bị kiện bán phá giá -.-ecsceetrezrre~eeee Ố
4 Kién nghị mộtsó giải pháp thúc đây xuất khẩu da giày và phát triển bền
8//190/1801 0075 ố.ố 08 4.1.1 Mởhội chợ trong nưỚC 5 sec «se sreeeeseeese ÔỔ
4.12 Quy hoạch lạingành da giày Việt Nam S -.~ +- ØØ
4.1.3 Hình thành các trung tâm pháttriỂn < -:~c -<.- 9
4.1.4 Hỗ trợ tuyển dụng nhân công .- -:<cc-e=-++:cese=.< TỦ
4.2
4.2.1 Đa dạng hóa thị trường và sản phẩm:
Giải pháp đối với Doanh Nghiệp -:<cc-e=-+s:<ccc=.cscecc 12
-e 12
4.2.2 Nang dan tỷ lệ nguyên liệu nội địa: - -~ccc-<.- 72
4.2.3 Chuẩn bị cho các đơn hàng "vàng" - s cccc<-cereexc=e 72
4.2.4 Đẩy mạnh công tác tiếp thị và hệ thống phân phối sản phẩm 73
4.2.5 Khắc phục tình trạng thiếu Nhân lực -.-=.- 73
4.2.6 Giải pháp cho thỊtrường EŨ ~ 5s Ă<<<<c=sese=seee=ee Z
4.2.7 Gai phap cho Châu Phi -s- Ă sex + se srseeeseeeree VÔ
4.2.8 Giải pháp cho thịtrường Mỹ «sec srseeseeeree
GVHD: Ths Ngo Thi Hai Xuan Nhom thuc hién: nhom 8
Page |4
Trang 5
4.2.9 Nhóm giải pháp phát trên bền vững -. -5 5:5
4.2.9.1 Giảipháp Thương HiỆu 57s 5< Ă Sex sẽ se se
4.2.9.2 Giảipháp đối với các rào cản thương mại, kỹ thuật 79
Page |5
4.2.9.3 Xây dựng một hệ thống cảnh báo về kiện bán phá giá 79
GVHD: Ths Ngo Thi Hai Xuan Nhom thuc hién: nhom 8
Trang 6
LỜI MỞ ĐÀU
Ngành công nghiệp da giầy luôn được đánh giá là một trong ba ngành hang có
giá trị xuất khâu cao nhất, chỉ đứng sau ngành dầu khí và dệt may của nước ta Page |6
Kim ngách xuất khâu của ngành đạt tốc độ phát triển cao, chiếm khoảng 10%
trong tông kim ngạch xuất khẩu quốc gia Hiện nay, Việt Nam được xếp thứ 4
trên thế giới sau Trung Quốc, Đài Loan va Italia Tuy nhién, xuất phát từ nội tại
san xuất nhiều năm qua,ngành da gầy Việt Nam còn nhiều tồn tại chưa khắc
phục được Tuy là l nước có kim ngạch xuất khâu lớn,nhưng các doanh nghiệp
ngành đa giầy chủ yếu sản xuât và xuất khẩu theo phương thức gñ công, không
chủ động được vùng nguyên liệu,bị hạn chế về vốn và công nghệ Khoảng 60%
nguyên vật liệu và hóa chất của ngành văn phải đinhập khẩu từ nước ngoài
Bên cạnh đó,cạnh tranh về giá luôn diễn ra gay gắt giữa các nước san xuất và
xuất khẩu Ølày trên thế giới mà điển hình là các nước Châu Á, nơi có tiềm năng
lớn nhất về công nghiệp sản xuấ giày Trung Quốc xuất khẩu những sản phẩm
có giá trị thấp được hưởng nhiều ưu đãi từ các nước thành viên WTO Hiện nay,
dù Việt Nam đã là thành viên của W TO, xong ngành da giầy Việt Nam vẫn chị
sức ép cạnh tranh rất lớn từ các đối thủ mạnh như Trung Quốc, Ấn Độ,
Indonexia, Thái Ian, do họ có ưu thế về vốn, công nghệ đặc biệt là chủ động
về 'nguồn nguyên liệu
Đối với thị trường nội địa, sản phẩm giầy đép do các doanh nghiệp trong nước
sản xuất đang phải canh tranh gay gắt với giầy da nhập lậu từ Trung Quốc
Ngoài ra, còn có sự cạnh tranh g Ta các doanh nghiệp trong nước với các doanh
nghệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam So với các doanh nghiệp trong
nước, các doanh nghiệp có vôn đầu tư nước ngoài có ưu thê hơn về vôn, kinh
nghiệm quản lý sản xuất và kỹ thuật công nghệ Vì vầy, các sản phẩm của họ
có lợi thế cạnh tranh hơn so với các sản phẩm của các doanh nghỆp trong nước
về chất lượng, g lá trị
Do đó, vân đề câp thết của các doanh nghiệp giầy da Việt Nam là nâng Cao sức
cạnh tranh để có thể tồn tại va phat triển trong môi trường cạnh tranh quốc tế
Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải xây dựng những chiến lược phát triển sản
phẩm có chất lượng cao, tạo dựng uy tín, thương hiệu trong tâm trí người tiêu
dung, phát triển hệ thống thiết kế mẫu mã, đổi mới công nghệ sản xuất, chủ
động trong việc tẾp cận nguồn nguyên liệu cho sản xuất kinh doanh vv Nhà
nước và doanh nghiệp cần hợp tác với nhau trong kế hoạch hành động lâu dài dé
có thể giải quyết các vấn đề nan giải của ngành trong thời kỳ hội nhập kinh tế
toàn cầu để nâng cao khả năng cạnh tranh, khả năng tồn tại trên thị trường quốc
tê
Bài nghiên cưu này sẽ đưa ra những cái nhìn tổng quan, phân tích tìm m
nguyên nhân, đánh giá tiềm năng các thị trường của ngành da giày Việt Nam từ
GVHD: Ths Ngô Thị Hải Xuân Nhóm thực hiện: nhóm 8
Trang 7
đó đưa ra giải pháp khắc phục những bắt cập khó khăn và giải pháp cho sự phát
triên bên vững của ngành da gày Việt Nam
1 Tình hình xuất khẩu của Việt Nam 2005 — 7 tháng 2010
11 Tình hình cán cân thương mại VN Giai đoạn 2005-7 tháng 2010 Page |7
tháng
2010
(SỐ liệu tập hợp từ Tổng Cục Thống Kê Việt Nam)
GVHD: Ths Ngô Thị Hải Xuân Nhóm thực hiện: nhóm 8
Trang 8Biểu đồ tình hình Xuất Nhập Khẩu và Cán cân
thương mại giai đoạn từ 2005 đến 7 tháng 2010
ø Tỗng xuất khẩu hàng hóa øTỗng Nhập khâu hàng hóa øCáncânthương mại
1.1.1 Đánhgiá Xuất khẩu:
Theo số liệu tổng hợp từ Tổng Cục Thống Kê Việt Nam kết hợp với biểu đồ
tương ứng, ta có thể thấy được lượng xuất khẩu qua các năm đều có sự gia tăng
ve gia tn Tir nam 2005 dén 2008, tong kim ngach xuất khẩu của Việt Nam đã
tăng với tốc độ khoảng 21%/năm đưa kim ngạch xuất khâu từ 32447 triệu USD
năm 2005 kn 62689 triệu USD năm 2008 đó là vì trong giai đoạn này, cơ cấu
hàng hoá xuất khẩu đã có những chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ
trọng nhóm hàng chế biến, chế tạo, nhóm hàng có hàm lượng công nghệ và chất
xám cao, giảm dần xuất khâu hàng thô làm tăng giá trị của hàng xuất khâu
Ngoài ra trong giai đoạn này các chủ thể tham gia xuất khẩu không ngừng được
mở rộng, đa dạng hoá và hoạt động ngày cảng hiệu quả, đặc biệt là khu vực
kinh tế tư nhân và khu vực doanh nghiệp có vôn đầu tư nước ngoài đã đóng góp
vào mức tăng kim ngạch xuất khẩn đáng kế khoảng 18.6% theo số liệu của báo
Vneconomy
Theo các chuyên gia kinh tế, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn
này được đánh giá là ấn tượng với nhiều ngành hàng đã xuất trên 1 tỉ USD như
dầu thô (10,5 tỷ USD), dệt may (9,1 , giày dép (4,7 tỷ USD), thủy sản (4,56 tỷ
USD), gạo (2,9 tỷ USD), sản phẩm gỗ (2,78 tỷ USD), cà phê (2 tỷ USD), cao su
(1,6 ty USD), than đá (1,44 tỷ USD) Đặc biệt trong năm nay có thêm mặt hàng
dây điện và cáp điện đạt kun ngạch xuất khẩu trên I tỷ USD đánh giá tốc độ
tăng giá trị xuất khẩu cao nhất từ trước đến nay
Từ tháng 9, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toán
câu đã bát đâu thê hiện trong hoạt động xuât khâu của các doanh nghệp Việt
GVHD: Ths Ngô Thị Hải Xuân Nhóm thực hiện: nhóm 8
Page |8
Trang 9Nam Hầu hết các mặt hàng xuất khâu đồng loạt giảm giá mạnh, đặc biệt ở mặt
hàng dầu thô, nông sản, thủy sản Trong hai tháng cuối năm, lượng đơn hàng
từ đối tác nước ngoài của nhiều ngành hàng bị hủy bỏ hoặc sụt giảm, têu biểu
như đệt may giảm khoảng 20% - 30% về số đơn hàng và giá, thủy sản giảm
khoảng 30% đơn hàng và giá Như vậy chính cuộc khủng hoảng đã gây ra sự
giảm đột ngột về giá trị xuất khâu năm 2009 (từ 62685 triệu USD năm 2008
giảm xuống còn 57096 triệu USD, giảm 8,92% Tuy nhiên trong năm 2009 công
tác XTTM được đây mạnh về bề rộng và chiều sâu bằng các hoạt động xúc tiến
tại các vùng nông thôn, tham gia các triển lãm, hội chợ ở nước ngoải cũng như
việc mời các đối tác nước ngoài đến Việt Nam tìm cơ hội giao thương Năm
2009, hàng Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ ở thị trường nội địa so với các năm
trước; hoạt động kiểm soát nhập khâu hàng tiêu dùng cũng được siết chặt nên
nhìn chung hàng NK có mặt tại thị trường nội địa ít hơn Các gói kích cầu của
Chính phủ cũng đã đem lại nhiều kết quả tích cực
Căn cứ số liệu của bảng thống kê, tổng kim ngạch xuất khâu 7 tháng đầu năm
đạt 38,52 tỷ USD, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm 2009 và hoàn thành 63,1%
kê hoạch năm 2010 Năm 2010 nhiều nước trên thế giới có dấu hiệu phục hồi
sau cuộc khủng hoảng kinh tế, nhu cầu các mat, hàng tăng cao, đặc biệt là các
sản phâm dệt may Hàng dệt may đạt giá trị xuât khâu vượt trội hơn cả so với
các mặt hàng khác với tổng giá trị 1,08 tỷ USD( lũy kế 7 tháng đầu năm đạt
5,85 tỷ USD) Tiếp đó là hàng giày đép các loại đạt tổng giá trị 490 triệu USD,
hàng thủy sản đạt 466,45 triệu USD, gạo đạt 359,4 triệu USD, máy vi tính sản
phẩm điện tử và linh kiện đạt 314,64 tiệu USD, gỗ và sản phẩm gỗ đạt 304,1
triệu USD, dầu thô đạt 283,83 triệu USD vww ( theo thống kê của Tổng Cục
Hải Quan)
Với dự đoán kim ngạch năm 2010 đạt 60 tỉ USD, hy vọng xuất khẩu Việt Nam
sẽ lấy lại được tốc độ tăng trưởng cao sau cú vấp khủng hoảng 2008
1.1.2 Đánh giá nhập khẩu và cán cân thương mại:
Dựa vào bảng số liệu, ta thấy sự tăng kim ngạch nhâp khẩu tăng theo hướng
xuất khẩu, thậm chí còn mạnh hơn kim ngạch xuất khẩu Năm 2005 giá trị nhập
khẩu khoảng 36,8 tỉ, bước sang năm 2006 tăng 22,12% lên mức 44,89 tỉ USD
và năm 2007 đạt 60,8 tỉ USD tăng 35,51% Đặc biệt năm 2008, nhập khâu tăng
cao lên đến 86,3 tỉ USD với mức tăng 41,9% Trong thời gian nay chính hoạt
động đầu tư sôi động trong hai năm qua cộng với sự tăng giá các mặt hàng nhập
GVHD: Ths Ngo Thi Hai Xuan Nhom thuc hién: nhom 8
Page |9
Trang 10
khẩu đã góp phần làm tăng mạnh giá trị nhập khẩu Các nhóm hàng nhập khẩu
chính có sự gia tang manh là máy móc, thiết bị, sán phẩm xăng dầu và các đầu
vào sản xuất khác phục vụ cho nhu cần mở rộng nhanh chóng của các hoạt động
kinh tế Giá nhập khẩu máy móc thiết bị, nhóm hàng chiếm đến 17% tổng giá trị
nhập khẩu, đã tăng 35% trong 11 tháng đầu năm nay Ngoài ra
Giá trị nhập khâu tăng mạnh cũng có nguyên nhân là do giá các mặt hàng nhập
khẩu tăng cao Giá nhập khẩu sản phẩm xăng dầu, thép phân bón và lúa mì
trong chin tháng đầu năm 2008 tăng lên đã làm tăng tông giá trị nhập khẩu của
Việt Nam tăng mạnh
Bước sang năm 2009, như đã đánh giá, lượng nhập khẩu có diễn biễn tương ứng
với nhập khẩu, năm 2008 khủng hoảng làm ảnh hưởng đến xuất khẩu thì cũng
đã ảnh hưởng tỉnh hình nhập khẩu 2009 tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá
năm 2009 khoảng 68,8 tỷ USD, giảm 14.7% so với năm 2008 (năm 2008 so với
2007 tăng 28,7%) Nhập khẩu hàng hoá giảm chủ yếu do sản xuất trong nước
giảm và giá hàng hó a nhập khẩn cũng gầm hơn năm 2008, nhất h trong những
tháng đầu năm Tuy nhiên, nhập khẩu đã tăng dần trong những tháng cuỗi năm,
do sự phục hồi của nền kinh tế và chính sách kích cầu của Chính phủ có tác
dụng, bên cạnh đó có tâm lý tranh thủ nhập khẩu để dự trữ khi giá nhập khâu
thấp theo đánh giá của Viettrade
7 tháng đầu năm 2010 tếp tục tiếp tục theo xu hướng phục hồi của nền kinh tế,
tổng kim ngạch nhập khẩn của nước ta trong 7 tháng/2010 R 45,77 tỉ USD, tăng
22,4% so với cùng kỳ năm trước
Theo thông tin từ tổng cục thống kê,tÿ lệ nhập siêu/xuất khẩu giảm dan theo các
tháng, cụ thê, trong 5 tháng đâu năm, tỉ lệ này lân lượt là 21,2%; trong 6 tháng
đầu năm là 19,38%; 7 tháng là 18,8% Lý do nhập khẩu vẫn còn cao như vậy
chính là tình hình NK của các doanh nghiệp FDI tăng cao hơn nhiều so với NK
của nhóm DN trong nước (10 tháng, khối FDI NK tang 41,2% con DN trong
nước chỉtăng 8,7%)
Về cán cân thương mại, theo biểu đồ và bảng số liệu trên ta có thể thấy ngay
tình hình của cán cân thương mại Việt Nam luôn nhập siêu từ năm 2005 đến 7
tháng đầu năm 2010 Trong đó thâm hụt cán cân thương mại lớn nhất xảy ra vào
năm 2008 với giá trị thâm hụt lên đến 23635 triệu USD do mức nhập khâu quá
chênh lệch so với lượng hàng hóa xuất khẩu
Năm 2007, mức thâm hụt tăng mạnh, gấp đôi so với năm 2006 ( 2007 thâm hụt
12269 triệu USD trong khi năm 2006 ở mức 5065 triệu USD) theo tính toán thì
thâm hụt thương mại đã ting 142,3% Ly do trong thời gian này, nhập khẩu tăng
GVHD: Ths Ngo Thi Hai Xuan Nhom thuc hién: nhom 8
Page | 10
Trang 11cao do tình hình nhập khâu máy móc các thiết bị kỹ thuật tăng đột biến (Theo thông tin từ Tổng cục thống kê thì tỷ lệ thâm hụt gia tăng là do tăng nhu cầu nhập cảng máy móc để sản xuất đến 11.6% ) hơn nữa khối các công tỉ 100% vốn nước ngoài tăng lượng nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất xuất khẩu đã góp phân làm tăng thâm hụt cán cân thương mại
Page | 11
Tình hình xuất khẩu giai đoạn 2006 —8 tháng năm 2010 theo ngành hàng:
(Tổng hợp từ số liệu công bố của Tổng cục Hải Quan Việt Nam)
GVHD: Ths Ngô Thị Hải Xuân Nhóm thực hiện: nhóm 8
Trang 121.1.3 Phân tích ânh hình xuất khẩu một số ngành hàng
Lượng xuất khẩu dầu thô trong qua các năm giảm đều Nhì độ thị ta sẽ thấy rõ
hơn, từ mức 16442 triệu USD 2006 giảm xuống còn 15062 triệu USD năm
2007, đến năm 2008- 2009 do tình hình khủng hoảng kinh tế, giá dầu giảm và
lượng cầu dầu giảm do khủng hoảng kinh tế thế giới nên 2008 chỉ xuất khoảng
13752 triệu USD, năm 2009 tiếp tục gäm do nhà máy lọc dầu Dung Quất đã
hoàn thành và đưa vào hoạt động
Theo thông tin từ cục Hải Quan xuất khẩu dầu thô của Việt Nam tháng 8/2010
đạt 572 nghìn tấn với kim ngạch 341,7 triệu USD, tăng 15% về lượng và tăng
20,2% về trị gi so với tháng trước; giảm 23,4⁄4 về lượng và giảm 18,2% về trị
giá so với cùng tháng năm ngoái, nâng tổng lượng dầu thô xuất khẩu của Việt
Nam 8 thang đầu năm 2010 đạt 5,5 triệu tân với kim ngạch 3,3 tỉ USD, giảm
43,9% về lượng và giảm 20% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 7,3%
trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của cả nước 8tháng đầu năm 2010
Sở dĩtình hình xuất khẩu như vậy là do những thị trường xuất khẩu dầu thô của
Việt Nam có độ suy giảm mạnh: theo thông tin từ Vinanet:Thái Lan đạt 32,5
nghìn tân với kim ngạch 19 triệu USD, giảm 90,6% về lượng và giảm 85,2% về
trị gi so với cùng kỳ, chiếm 0,9% trong tổng kim ngạch; tiếp theo đó h
Malaysia đạt 373 nghìn tấn với kim ngạch 235,7 triệu USD, giảm 65,1% về
lượng và gảm 36,6% về trị giá so với cùng kỳ, chiếm 10,8% trong tổng kim
ngạch; Hàn Quôc đạt 149,6 nghìn tân với kim ngạch 97,5 triệu USD, giảm
57,4% về lượng và giảm 28% về trị giá so với cùng kỳ, chiếm 4,5% trong tổng
kim ngạch; sau cùng là Nhật Bản đạt 169 nghìn tân với kim ngạch 102/7 triệu
GVHD: Ths Ngô Thị Hải Xuân Nhóm thực hiện: nhóm 8
Page | 12
Trang 13USD, gảm 59,5% về lượng và giảm 27,4⁄ về trị giá so với cùng kỳ, chiếm
4,7% trong tông kimngạch
Theo bảng số liệu và biểu đồ về tình hình xuất khẩu gạo ta có thể nhận thấy sự
tăng trưởng mạnh của kim ngạch xuât khâu gạo của Việt Nam Từ năm 2006
đến năm 2010 tình hình xuất khẩu gạo có mức giảm 7.2% vào năm 2007 làm
kim ngạch xuất khâu của ngành Gạo đạt 1454 triệu USD Bước sang năm 2008
tuy ảnh hưởng bởi chính sách đảm bảo an ninh lương thực được đánh giá là sai
lầm vào giai đoạn này nhưng tổng kết năm 2008 da ting 20.3% so với năm
2007 dat gi tri 1749 trệu USD Đến năm 2009, do chính sách khuyến khích
xuất khẩu, gạo giá gạo thế giới tăng 20, do nhu cầu từ thị trường Philip ine
tang, và việc đối thủ cạnh tranh lớn nhất là Thái Lan có giá quá cao so với một
vài thị trường đã tạo điều kiện cho việc tăng xuát khẩu của Việt Nam trong thời
gian này
Tính đến hết tháng 82010, lượng gạo xuất khẩu của nước ta đạt 4,95 triệu tấn,
tăng 6,8% và kim ngạch đạt 2,33 tỷ USD, tăng 10 so với cùng kỳ năm 2009
Ngay trong tháng 8/2010 lượng gạo xuất khâu trong tháng 8 đạt 615 nghìn tân,
giảm mạnh 28% so với tháng trước và đơn giá bình quân đạt 373 USD/tân, giảm
11,4%
Tình hình khả quan như thế là do nhu cầu tăng của các thị trường, đặc biệt h
Philippin , à thị tường dẫn đầu về nhập khẩu gạo của Việt Nam trong 8 tháng
qua với gần 1,5 triệu tân, giảm 7,5% so với cùng kỳ năm trước Xuất khẩu gạo
giảm ở thị trường lớn nhất của Việt Nam nhưng lại tăng mạnh sang các thị
trường mới như: Ăngôh: 154 nghìn tấn, tăng 99,7%; Ghana: 123 nghìn tấn,
GVHD: Ths Ngô Thị Hải Xuân Nhóm thực hiện: nhóm 8
Page | 13
Trang 14tăng 30%; Trung Quốc: 98,1 nghìn tấn, tăng gấp 13,6 lần, Hồng Kông: 87,1
nghìn tân, tăng gâp hơn 2 lân so với cùng kỳ năm 2009
Năm 2010 dự kiến sẽ đạt kim ngạch 3 tỉ USD, nếu làm được điều này, năm
2010 sẽ là năm có trị giá xuất khẩu ‘ibn nhất từ trước đến nay Trong điêu kiện
thế giới lạm phát cao do giá xăng dầu, do giá lương thực tăng cao, thì gạo của
Việt Nam chắng những vừa đảm bảo được an ninh lương thực ở trong nước mà
còn bán được giá trên thị trường thế giới, thu được nhiều ngoạitệ hơn
Do giá xuất khâu tăng 88,1% đã đóng góp lớn đối với tổng mức tăng của kim
ngạch xuất khẩu gạo (do giá tăng đã đóng góp 707 trêu USD, chiếm 94,1%,
còn do lượng tăng chỉ đóng góp 4f triệu USD, chỉ chiếm 5,9% tổng mức tăng
kim ngạch xuất khẩu gạo) Theo tính toán của Bộ Công thương, cứ với đà này,
kim ngạch xuất khẩu gạo cả năm có thể vượt qua mốc 3 tỉ USD - lần đầu tiên
tính từ ngày có gạo xuất khẩu
Tình hình xuất khẩu hàng thủy sản trong giai đoạn 2006-8 tháng 2010 có sự
biến động không nhều Nhìn vào bu đồ trên ta có thé thấy sự Tăng trưởng
trong 2 năm 2006 và 2007 (cụ thé nam 2006 kim \ ngạch xuất khẩu thủy sản đạt
3358 triệu USD, sang xnăm 2007, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt
3,75 tỷ USD (tăng gân 12% so với năm 2006), đưa nước ta nằm trong tốp 10
nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới
GVHD: Ths Ngô Thị Hải Xuân Nhóm thực hiện: nhóm 8
Page | 14
Trang 15Trong năm 2007 đạt được kim ngạch như thế là đo Liên bang Nga đã cho phép
11 doanh nghiệp chế biến thuỷ sản của Việt Nam được xuất khẩu thuỷ sản sang
Nga Đặc biệt khi Đảng và Nhà nước đã xác định thuỷ sản là ngành kinh tế mũi
nhọn, có quản lý tổng hợp, phát huy thế mạnh về biển, coi thuỷ sản là ngành sản
xuất chủ lực của kinh tê bền, các chính sách hỗ trợ khuyến khíh đã tạo cho
người dân có điều kiện để nuôi trồng đánh bắt thủy sản TẾp tục chính sách đó
bước sang năm 2008, tuy ồ một năm khó khăn do khủng hoảng km tế nhưng
năm 2008 đã xuất khâu thủy sản của cả nước đạt tiên 1,2 triệu tấn, trị giá đặt
trên 4,5 tỷ USD, tăng 33,7% về khối lượng và 19,8% về giá trị so với năm 2007
là năm do mức tăng mạnh nhất trong giai đoạn này Sang năm 2009 là năm hậu
cuộc khủng hoảng, nhu cầu thế giới giảm đã ảnh hưởng đến tình hình xuất khẩu
của mặt hàng này, năm 2009 chỉ đạt 4251 triệu USD tức giảm 5.7% so với
2008
Page | 15
Tính dén hét thang 8, kim ngach mat khẩu thuỷ sản của Việt Nam đạt 2,98 ty
USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2009.Các đối tác chính nhập khẩu hàng
thuỷ sản trong 8 tháng qua lần lượt B: sang EU đạt 733 triệu USD, tăng 4,5%;
sang Nhật Bản đạt 549 triệu USD, tăng 18,8%; sang Hoa Kỳ đạt 532 triệu USD,
tăng 19,5%; sang Hàn Quốc đạt 213 triệu USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm
Từ năm 2006 đến 2008 ngành dệt may Việt Nam đã có những bước tến đáng kể
và xuất khẩu hàng đệt may cũng đạt được những kết quả tăng trưởng khá ấn
GVHD: Ths Ngô Thị Hải Xuân Nhóm thực hiện: nhóm 8
Trang 16tượng Năm 2006 với kim ngach 5854.8 trigu USD thì năm 2007 đã tăng lên
7732 triệu USD (tăng 32.1%) năm 2008 đạt kim ngạch 9121 triệu USD (tăng
18%so với năm 2007) bước sang năm 2009 do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng
kmh tê kim ngạch đã giảm chỉ còn 9066 triệu USD ( giảm 0.6% so với năm
2008)
Bước sang năm 2010 xuất khẩu trong tháng 8 dat 1,14 tỷ USD, tăng 5,4% so với
tháng 7, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 8 tháng năm
2010 đạt gân 7tỷ USD, tăng 19,4⁄4 so với cùng kỳ năm 2009 Trong đó, doanh
nghiệp có vốn đâu tư nước ngoài đạt 4,26 ty USD, tang 23,2% và chiếm 61% trị
giá hàng dệt may xuất khẩu của cả nước
Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản tiếp tục là 3 đối tác lớn nhất của hàng dệt may Việt
Nam trong 8 tháng qua với kim ngạch và tôc độ tăng so với cùng kỳ năm 2009
lần lượt là 3,94 tỷ USD và 22,1%; 1,18 ty USD và 6,7%; 691 triệu USD và
14,3% Tổng kim ngạch hàng dệt may xuất sang 3 thị trường nay dat 5,81 ty
USD, chiém 83,2% tong kimngach xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước
Xét trong 4 năm từ năm 2007 đến 2010 thì da gầy Việt Nam có sự phát triển
không đều và có sự giảm kim ngạch ở năm 2009 Năm 2007 kim ngạch xuât
khâu đạt 3.57 tỉ USD đên năm 2008 tang lén 34% dat 4.8 ti USD Dén 2009
ngành da giày đạt kim ngạch xuất khâu gần 4.1 ty USD, giảm khoảng 13% so
với năm 2008
Tính đến tháng § năm 2010 kim ngạch xuất khẩu trong tháng đạt 467 triệu
USD, giảm 4,8% so với tháng 7, nâng tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng giày
dép của nước trong 8 tháng đạt 3,24 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm
GVHD: Ths Ngô Thị Hải Xuân Nhóm thực hiện: nhóm 8
Page | 16
Trang 17trước Dẫn đầu về nhập khẩu giày dép của nước ta trong § tháng/2010 là thị
trường EU đạt 1,45 tỷ USD, tăng 9,5% và chiếm 45% xuất khẩu nhóm hàng này
của cả nước Tiếp theo là thị trường Hoa Kỳ đạt 885 trệu USD, tăng 27%;
Mêxkô đạt 118 triệu USD, tăng 30,5%; Nhật Bản đạt 113 triệu USD, tăng
3Ø%; so với cùng kỳ năm trước
Năm 2010 các chuyên gia của Lefaso đã dự kiến kim ngạch sẽ đạt được 5.4 tỉ
USD vìtheo ước tính, đơn hàng xuât khâu trong năm nay tăng khoảng 16% so
với năm ngoái do các thị trường nhập khâu chủ lực của Việt Nam đã dân ôn
định
GVHD: Ths Ngô Thị Hải Xuân Nhóm thực hiện: nhóm 8
Page | 17
Trang 182 Tình hình xuất khẩu ngành da giày Việt Nam:
Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã tác động rất lớn tới
mọi ngành kinh tê của nước ta, trong đó ảnh hưởng đáng kê đên ngành da giày
Gia nhập WTO có nghĩa là chúng ta bước sâu hơn vào sân chơi kinh tế thế giới,
tạo ra cho chúng ta nhiều cơ hội để phát triển ngành da giày, đặc biệt là cánh
cửa xuất khẩu được mở rộng hơn
Bước vào sân chơi WTO tạo ma những cơ hội lớn Song nhiều người đã lo ngại
việc xuất khâu của Việt Nam nói chung và ngành da giày nói riêng sẽ gặp nhiều
khó khăn Các doanh nghiệp xuất khâu da giày Việt Nam sẽ gặp khó khăn khi
cạnh tranh với các doanh nghiệp xuất khâu cuả nước ngoài, đặc biệt là các quốc
gia có thê mạnh trong lĩnh vưc này
Tng ngành da giày, được coi là một trong những mũi nhọn di đầu trong xuất
khẩu Việt Nam, hơn nữa Việt Nam được xếp hạng là một trong 10 nước xuất
khẩu hàng đầu trên thị trường quốc tế hiện nay về da giày (xếp thứ 4 về xuất
Theo số liệu thống kê từ hiệp hội, Kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày Việt
Nam có mức tăng trưởng trung bình hàng năm 16%, đạt 3,96 tỉ USD năm 2007,
đứng thứ 3 sau ngành dệt may va dầu khí Kim ngạch xuất khâu gầy dép các
loại năm 2008 dat 4,7 ti USD Theo đánh giá của các chuyên gia, với mức tăng
trưởng trên, Việt Nam có sự phát triển mạnh mé trong nganh da giày Việt Nam,
dựa vào sô liệu và biêu đô, ta có thê dễ dàng nhận thây sự tăng trưởng đáng kê,
đặc biệt bắt đầu từ năm 2001 đã thay đổi độ dốc cho thấy sức tăng mạnh hơn
GVHD: Ths Ngô Thị Hải Xuân Nhóm thực hiện: nhóm 8
Page | 18
Trang 19trong những năm gần đây với mức tăng trung binh hằng năm khoảng 454 triệu
đô tương đương tốc độ tăng l%/năm
Theo số liệu thống kê mới từ năm 2006 - 2009 và dự kiến năm 2010, thì kim
ngạch xuât khâu trong giai đoạn này có sự đôi chiêu như biêu đỗ
Xét trong 4 năm từ năm 2007 đến 2010 thì da giày Việt Nam có sự phát triển
không đều và có sự giảm kim ngạch ở năm 2009 Năm 2007 kim ngạch xuất
khẩu đạt 3.57 tỉ USD đến năm 2008 tăng lên 34% đạt 4.8 tỉ USD Đến 2009 do
chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tác động lớn đến chỉ tiêu
của khách hàng, nhiều đơn đặt hàng bị hủy ngang, hơn nữa ngành gày Việt
Nam đang đứng trước tình hình khó khăn bởi EU gñ hạn mức thuế chống phá
giá cho mặt hàng giày mũ da Ngoài ra từ năm 2009, sản phẩm giày Việt Nam
gánh thêm 5% thuê theo Hệ thống mu đãi thuế quan phổ (GSP) Quyết định áp
thuế của EU như một cú “đánh” mạnh gúng xuông đầu các doanh nghiệp ngành
giay Việt Nam làm ngành da giày đạt kim ngạch xuất khẩu gần 4.1 tỷ USD,
giảm khoảng 13% so với năm 2008 Sự sụt giảm này chủ yếu do xuất khẩu vào
thị tường Mỹ giảm, năm 2009 chỉ đạt khoảng 1,1 tỷ USD, năm 2008 dat 1,5 ty
USD Với thị trường EU, năm 2008, xuất khẩu da giày của Việt Nam đã đạt 2,2
tỷ USD và năm 2009 vẫn đạt xấp xỉ 2,1 tỷ USD
Năm 2010 các chuyên gia của Lefaso đã dự kiến kim ngạch sẽ đạt được 5.4 tỉ
USD vìtheo ước tính, đơn hàng xuất khẩu trong năm nay tăng khoảng 16% so
với năm ngoái do các thị trường nhập khẩu chủ lực của Việt Nam đã dần ổn
định, nhiều khách đặt hàng đã chuyền từ mua da giày của Trung Quốc sang mua
sản phẩm da giày của Việt Nam Khả năng đạt mục tiêu xuất khẩu 5,4 tỉ USD
GVHD: Ths Ngô Thị Hải Xuân Nhóm thực hiện: nhóm 8
Trang 20của năm nay có thể thực hiện được dù phải đối mặt với tình trạng khó thu hút
nhân công ở một số DN do đơn gid gin cong thấp
Trên thực tế từ đầu năm 2010 đến nay, các nhà máy da giày Việt Nam phải chạy
hết công suất vẫn không ầm hết việc, thậm chí phải từ chối nhiều đơn đặt
hàng Knh tế thế giới phục hồi, nhu cầu tiêu dùng tăng trở lại Đó là lý do dẫn
đến sự gia tăng đơn hàng da giày tại Việt Nam Nhưng theo các chuyên gia
trong và ngoàinước, đó không phải là lý do chính
Theo Hệp hội Da giày Việt Nam (Lefaso), don hàng xuất khẩu da gầy Việt
Nam trong năm nay tăng khoảng 16% so với năm ngoái Đến thời điểm hiện tại,
phần lớn doanh nghiệp xuât khâu đã có đủ đơn hàng cho cả năm.Ông Nguyễn
Duc Thun, Chủ tịch Hiệp hội da giày Việt Nam phát biểu: “Năm 2010, tình
hình đơn hàng rắt thuận lợi, cả về khách hàng đến số lượng đơn hàng Khả năng
hoàn thành mục têu hơn 5.4tÿ USD xuât khâu là hoàn toàn có thể”
Điều này 3y ra là do chất lượng cũng như năng lực của Việt Nam đã có sự tiến
bộ đáng kể, hơn nữa theo các nhà sản xuất da giày lớn, đơn hàng tăng mạnh
trong năm 2010 không chỉ do kinh tế thế giới đã phục hồi, nhu cầu tiêu dùng
tăng Lý do chính là nhiều đơn hàng nhập khẩu gặp khó khăn tại Trung Quốc
nên đã chuyển đơn hàng từ Trung Quốc sang các nước khác, trong đó có Việt
Nam Điều này cũng được chính các nhà nhập khẩu da giày hàng đầu thế giới
khẳng định tại Hội nghị da giày quốc tế 2010 mới diễn ratại TP.HCM
"Ông Peter T.Mangione, Nguyên Chủ tịch Hiệp hội phân phối và bán lẻ da giày
Mỹ cho rằng: “Tình hình tại Trung Quốc đã đến giai đoạn cực kỳ khó khăn
Thiếu nhân công, chi phí sản mat tang cao va van dé sé con tram trọng hơn nữa
nếu đồng nhân dân tệ của Trung Quốc mắt giá thêm so với đồng USD Giải
pháp cho các nhà nhập khẩu vì thế phải chuyên đơn hàng, nhà máy từ các vùng
ven biển của TQ sang các địa phương khác và các nước khác”
Ông David Jiang , Tổng thư ký Hiệp hội sản xuất da giày Đài Loan: “Trung
Quốc đã yêu cầu chuyên các nhà máy vào sâu trong lục địa, đây ồ điều mà các
doanh nghiệp nước ngoài không muôn Nhều doanh nghiệp Đài Loan vì thế đã
chuyển đơn hàng đáng ra sản xuất ở Trung Quốc về Việt Nam, và một số nước
khác như Indonesia, Án Độ, Myanmar và Campuchia "-theo hiệp hội da giày
Viét Nam Lefaso
Như vậy với tình hình đơn hàng như thế, trong tương lai sẽ còn tăng lên nhiều
do các yếu tố phục hồi kinh tế, năng lực sản xuất của Việt Nam và yêu tố khách
quan khác từ các đôithủ cạnh tranh
GVHD: Ths Ngô Thị Hải Xuân Nhóm thực hiện: nhóm 8
Page |20
Trang 21Bảng kim ngạch xuất khẩu da giày sang các nước 2008
Tên nước Kim ngạch xuất khẩu | Italia 241.806.880
Lào ina
Qua bảng các thị trường xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam, ta thấy có sự
nỗ lực rất lớn của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc mở rộng ra các thị
trường thê giới, sự giao thương với các nước ngày càng mạnh Trong sô các thị
trường đó cá thị trường Mỹ là thị trường có kim ngạch xuất khẩu cao nhất ở
mức khoảng 1,075 tỉ USD chiếm gần 25% kim ngạch toàn ngành và một số thị
trường có kim ngạch lớn khác như Anh ở mức 589 triệu USD, Ấn Độ 555 triệu
USD
Với một thị trường toàn cầu và lớn như thế, ngành da gày Việt Nam thực sự có
một cơ hội lớn trong việc nâng cao kim ngạch xuất khâu của ngành cũng như
phát triển những thương hiệu riêng cho Việt Nam
2.1 Sản phẩm da khác
Ngành da giày được xếp thứ 3 trong 7 nhóm ngành hàng giai đoạn 2001- 2005
và xếp thứ 4 trong 6 nhóm ngành hàng giai đoạn 2006-20 10 được ưu tiên xuất
khẩu Trong quy hoạch phát triển ngành da giày tới năm 2010, ngành da giày
đưa ra chỉ tiêu đạt kim ngạch xuât khẩu 3,1 tỷ USD năm 2005 và phấn đấu đạt
6,2 tỷ USD năm 2010 với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 20- 22% Ngoài giày,
thì các sản phẩm cặp tú ¡ xác cũng tăng trưởng trong thờigian gần đây
GVHD: Ths Ngô Thị Hải Xuân Nhóm thực hiện: nhóm 8
Page |21
Trang 222005 | 2010 Giày dép các bại Tổng sản lượng | 470.000 | 720.000
Da thanh pham Téng san long | 40.000 | 80.000
(Don vi: 1.000 sqft) Xuất khẩn 25.000 | 65.000
Tổng XK (Triệu USD) 3.100 6200
Trong ghi đoạn 2005-2008, tiêu thụ hành lý và phụ kiện bằng da phát triển khá
mạnh tại Đức và các thị trường khác tại EU Tuy nhiên, kể từ cuối năm 2008
cho đến nay, tình hình tiêu thụ có dấu hiệu suy giảm do khủng hoảng kinh tế
Bắt đầu từ năm 2009 thìtình hình xuất khâu khả đã khả quan hơn
Đối với hành lý, trên thị trường ngày càng xuất hiện nhiều bại dành cho phụ nữ
với phong cách thiết kế mới nhưng trọng lượng nhẹ, nhều màu sắc và có nhiều
chỉ tết nữ tính Thêm vào đó, với những yêu cầu về an toàn tại sân bay, hình
thức của các loại túi và va li cũng đã thay đổi nhiều hơn so với trước đây, với
chất lượng tốt hơn, chắc và bền hơn
Đối với phụ kiện bằng da, mặc dù một bộ phận người tiêu dùng tiếp tục đòi hỏi
giá thấp hơn nhưng thị trường cũng cho thấy có một xu hướng TỐ rang về việc
người tiêu dùng rất quan tâm đến chất lượng sản phẩm và mua nhiều sản phẩm
có chất lượng cao Mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu đã đáp ứng được phần lớn
nhu cầu của các thị trường EU cũng như thị trường Mỹ và gần đây, mức tăng
trưởng xuất khâu đã tăng đáng kẻ
Thị trường hành lý và phụ kiện bằng da ở Đức được phân đoạn theo nhu cách
khác nhau Phần lớn khách hàng của các phụ kiện thời trang là nữ giới, nhưng
đối với hành lý thì cả nam giới và phụ nữ đều mua với số lượng ngang nhau
GVHD: Ths Ngô Thị Hải Xuân Nhóm thực hiện: nhóm 8
Page |22
Trang 2322 Thị trường xuất khẩu của ngành da giày ViệtNam:
22.1 thị t xuất kh
Hiện nay, giày dép của Việt Nam đã có mặt trên hơn 50 nước trên khắp châu
lục Thị trường xuất khẩu tiềm năng của nhóm mặt hàng này là các nước phát
triển có sức mua lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn
Quốc, Canada, Australia Trong đó được đánh giá cao nhât là thị trường EU với
tỉ lệ trung bình kim ngạch xuât khâu giày dép của Việt Nam sang EU là 54%, kê
đến là Mỹ 23% Đứng thứ 3 là thị trường Đông Á 15%, còn lại là các thị trường
khác
Thị trường chủ lực xuất khẩu da giày Việt Nam
m=EU nmMỹ
Bên cạnh đó, còn có thé khai thác các thị trường có sức mua không lớn nhưng
chấp nhận hàng hoá phù hợp với năng lực sản xuât của các doanh nghiệp Việt
Nam như Indonesia, Malayxia, Trung Đông, Châu Phi, Nam Á, Nga, các nước
Đông Âu cũ Các thị trường này tuy không có kim ngạch xuất khẩu cao,
nhưng lại có tim năng phát triển trong tương lai gan, do đó cần phải mở rộng
thị trường da giày ngoài các thị trưởng chủ lực, cần phải đây mạnh vào các thị
trường khác như đã nêu
GVHD: Ths Ngô Thị Hải Xuân Nhóm thực hiện: nhóm 8
Page |23
Trang 24Bảng số liệu kim ngạch xuất khẩu da giày theo các thị trường từ năm 2006-2010 (dự kiến)
Nguồn: Hiệp hội Da-giày Việt Nam
Pàe |24
giatri %kim) gidtri | %kim| gid tri |%kim giát{ |%kim | giatri %kim) gid tri %kit
GVHD: Ths Ngo Thi Hai Xuan Nhĩm thực hiện: nhĩm 8