1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI GỐC GHÉP LÊN SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT TRÁI DƯA HẤU THÀNH LONG TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ

60 825 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của các loại gốc ghép lên sự sinh trưởng, năng suất và phẩm chất trái dưa hấu thành long tại thành phố Cần Thơ
Tác giả Hồ Phương Quyên
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Ba, ThS. Võ Thị Bích Thủy
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Kỹ sư Nông học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 371 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI GỐC GHÉP LÊN SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT TRÁI DƯA HẤU THÀNH LONG TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

-o0o-

HỒ PHƯƠNG QUYÊN

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI GỐC GHÉP LÊN SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT

VÀ PHẨM CHẤT TRÁI DƯA HẤU THÀNH LONG TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NÔNG HỌC

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

-o0o-

HỒ PHƯƠNG QUYÊN

Trang 2

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI GỐC GHÉP LÊN

SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ PHẨM

CHẤT TRÁI DƯA HẤU THÀNH LONG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học với đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI GỐC GHÉP LÊN SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT TRÁI DƯA HẤU THÀNH LONG

Trang 3

TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Do sinh viên: Hồ Phương Quyên thực hiện

Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2008

Cán bộ hướng dẫn

TS Trần Thị Ba

ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu,

kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Hồ Phương Quyên

iii

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

oOo

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn đính kèm với tên đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI GỐC GHÉP LÊN SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT TRÁI DƯA HẤU THÀNH LONG TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ Do sinh viên Hồ Phương Quyên thực hiện và bảo vệ trước hội đồng: Ý kiến hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:

Trang 4

Luận văn đã được đánh giá ở mức:

DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày tháng năm 2008 Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD Chủ tịch Hội đồng

iv

TIỂU SỬ CÁ NHÂN

Họ và tên: Hồ Phương Quyên

Ngày, tháng, năm sinh: 10/08/1984

Con ông: Hồ Thế Thủy

Con bà: Nguyễn Phương Thảo

Quê quán: xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau

Đã tốt nghiệp phổ thông trung học tại trường Bán Công Cà Mau, thành phố

Cà Mau năm 2002

Vào trường Đại học Cần Thơ năm 2003

Tốt nghiệp kỹ sư ngành Nông học 2008

Cô Trần Thị Ba đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm, động viên

và giúp đỡ em trong trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp

Quí Thầy, Cô và các anh chị cán bộ của Bộ môn Khoa học Cây trồng, Bộ

môn Bảo vệ Thực vật đã tận tình truyền đạt kiến thức cho em trong suốt khóa học

và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Chân thành biết ơn!

Thầy chủ nhiệm Ngô Thành Trí đã quan tâm và dìu dắt lớp hoàn thành hết

khóa học Cô Nguyễn Thị Nghiêm, Thầy Phạm Hoàng Oanh tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài

Chị Võ Thị Bích Thủy đã chỉ dẫn và truyền đạt những kinh nghiệm quý báo trong suốt thời gian thực hiện thí nghiệm

Chân thành cảm ơn!

Anh Sơn, Phú, chị Thơi, các bạn Minh Cảnh, Như Thùy, Thúy Kiều, Hồng

Cúc, Hồng Thi,Tuấn Kiệt, Tâm, Nhờ… đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Thân gửi về!

Các bạn lớp Nông Học Khóa 29 những tình cảm thân thương nhất, lời chúc

Trang 5

sức khỏe và thành đạt trong tương lai

HỒ PHƯƠNG QUYÊN

vi

HỒ PHƯƠNG QUYÊN, 2008 “Ảnh hưởng của các loại gốc ghép dưa hấu lên

sự sinh trưởng, năng suất và phẩm chất trái dưa hấu Thành Long tại thành

phố Cần Thơ” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Nông học, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: TS Trần Thị Ba

và ThS Võ Thị Bích Thủy

TÓM LƯỢC

Đề tài “Ảnh hưởng của các loại gốc ghép dưa hấu lên sự sinh trưởng, năng

suất và phẩm chất trái dưa hấu Thành Long tại thành phố Cần Thơ” vụ Thu Đông

2006 - 2007 tại Trại thực nghiệm Nông Nghiệp, khoa Nông nghiệp & SHƯD, trường Đại học Cần Thơ, thành phố Cần Thơ, được thực hiện nhằm tuyển chọn gốc ghép thích hợp cho dưa hấu có sức sinh trưởng mạnh, năng suất trái cao và phẩm chất trái ngon

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần

lặp lại, gồm 4 nghiệm thức: (1) Gốc ghép bầu Nhật 1; (2) Gốc ghép bầu Nhật 2; (3) Gốc ghép bầu Địa Phương và (4) Đối chứng không ghép Diện tích thí nghiệm 400 m2

, diện tích lô 31,54 m2

(8,3 m × 3,8 m) Sử dụng giống dưa hấu F1 Thành Long,

làm ngọn ghép và đối chứng không ghép Khoảng cách cây 0,5 m, mật độ trồng 8.500 cây/ha

Kết quả thí nghiệm cho thấy về năng suất trái dưa hấu cao nhất ở gốc ghép

bầu Nhật 2 (12,92 tấn/ha) cao hơn so với đối chứng không ghép (9,28 tấn/ha) là 28,2%, bầu Nhật 1 (10,63 tấn/ha) là 17,7% và bầu Địa Phương (12,01 tấn/ha) là 7,1% Về tăng trưởng giữa các gốc ghép dưa hấu trên gốc bầu Địa Phương và bầu Nhật 2 thể hiện tương đương nhau và cao hơn so với đối chứng không ghép và gốc ghép bầu Nhật 1 Bệnh đốm phấn (Pseudoperonospora cubensis) cao nhất là trên dưa hấu đối chứng không ghép (98%) ở thời điểm 25 ngày sau khi trồng Gốc ghép không ảnh hưởng đến phẩm chất trái dưa hấu so với dưa hấu không ghép Lợi nhuận thu được cao nhất là ở gốc ghép bầu Nhật 2 với tỷ suất lợi nhuận là 1,0

vii

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Tiểu sử cá nhân v

Lời cảm ơn vi

Tóm lược vii

Mục lục viii

Danh sách bảng x

Danh sách hình xi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 Nguồn gốc, giá trị dinh dưỡng và tình hình sản xuất dưa hấu 2

1.1.1 Nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng dưa hấu 2

1.1.2 Tình hình sản xuất dưa hấu ở Việt Nam và trên thế giới 2

1.2 Tầm quan trọng của việc ghép 3

1.2.1 Ý nghĩa 3

1.2.2 Dưa hấu ghép bầu 5

1.3 Quá trình nghiên cứu và ứng dụng việc ghép ngọn dưa hấu 5

1.3.1 Sản xuất dưa hấu ghép trên thế giới 5

1.3.2 Sản xuất dưa hấu ghép ở Việt Nam 6

1.4 Một vài kết quả nghiên cứu về giống gốc ghép 7

1.5 Một số điểm lưu ý trong canh tác dưa hấu ghép 9

1.5.1 Vườn ươm 9

1.5.2 Ngoài đồng 9

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 11

2.1 Phương tiện 11

2.1.1 Địa điểm và thời gian 11

2.1.2 Tình hình thời tiết 11

2.1.3 Vật liệu 12

2.2 Phương pháp 12

2.2.1 Bố trí thí nghiệm 13

2.2.2 Kỹ thuật trồng dưa hấu ghép 14

2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi 17

2.2.4 Hiệu quả kinh tế 19

2.2.5 Phân tích số liệu 19

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20

viii 3.1 Ghi nhận tổng quát 20

3.2 Bệnh đốm phấn trên lá 21

3.3 Tình hình sinh trưởng 22

3.3.1 Chiều dài thân chính của dưa hấu trên các loại gốc ghép 22

3.3.2 Số lá trên thân chính của dưa hấu trên các loại gốc ghép 24

3.3.3 Đường kính gốc thân 26

3.3.4 Kích thước trái 29

3.4 Thành phần năng suất và năng suất trái 31

Trang 7

3.4.1 Trọng lượng trung bình trái 31

3.4.2 Trọng lượng rễ thân lá và trọng lượng toàn cây 31

3.4.3 Năng suất trái 33

3.5 Một số chỉ tiêu về phẩm chất trái 34

3.5.1 Độ brix của thịt trái dưa hấu 34

3.5.2 Độ dày vỏ trên trái và tỷ lệ trọng lượng thịt trái trên trọng lượng trái dưa hấu trên các gốc ghép khác nhau 35

3.5.3 Thời gian tồn trữ của trái dưa hấu 35

3.5.4 Số hột trái dưa hấu 36

3.6 Hiệu quả kinh tế 37

3.6.1 Tổng chi và thu 37

3.6.2 Lợi nhuận 37

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39

4.1 Kết luận 39

4.2 Đề nghị 40 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ CHƯƠNG

ix

DANH SÁCH BẢNG

Bảng Tựa bảng Trang

1.1 Tình hình sản xuất dưa hấu ở Việt Nam và trên Thế giới

(FAOSTAT, 2007)

3

2.1 Loại phân, liều lượng và thời kỳ bón phân cho thí nghiệm dưa

hấu tại Trại thực nghiệm Nông Nghiệp, ĐHCT (tháng

10-12/2006)

16

2.2 Lịch phun thuốc trừ sâu bệnh trên dưa hấu trên các gốc ghép

khác nhau tại ĐHCT (tháng 10-12/2006)

17

3.1 Đường kính giữa các gốc ghép bầu tại Trại thực nghiệm Nông

Nghiệp, ĐHCT (10-12/2006)

26

3.2 Đường kính gốc thân ngọn ghép cây dưa hấu trên các gốc ghép

khác nhau tại Trại thực nghiệm Nông Nghiệp, ĐHCT

(10-12/2006)

27

3.3 Tỷ lệ đường kính ngọn/gốc của cây dưa trên gốc ghép tại Trại

thực nghiệm Nông Nghiệp, ĐHCT (10-12/2006)

28

Trang 8

3.4 Trọng lượng rễ thân lá và trọng lượng toàn dây dưa hấu ở thời điểm thu hoạch trên các gốc ghép khác nhau Trại thực nghiệm Nông Nghiệp, ĐHCT (10-12/2006)

32

3.5 Độ Brix, độ dày vỏ, tỷ lệ TL thịt trái/TL trái và thời gian tồn trữ trái dưa hấu trên các gốc ghép khác nhau tại Trại thực nghiệm Nông Nghiệp, ĐHCT (10-12/2006)

2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm “Ảnh hưởng của các loại gốc ghép lên

sự sinh trưởng, năng suất và phẩm chất trái dưa hấu Thành

Long tại thành phố Cần Thơ”

22

3.3 Chiều dài thân chính và tốc độ tăng trưởng chiều dài thân chính dưa hấu qua các giai đoạn khảo sát tại Trại thực nghiệm Nông Nghiệp, ĐHCT (10-12/2006)

24

3.4 Số lá trên thân chính và tốc độ tăng trưởng số lá trên thân chính

Trang 9

dưa hấu qua các giai đoạn khảo sát tại Trại thực nghiệm Nông

Nghiệp, ĐHCT (10-12/2006)

25

3.5 So sánh tỷ lệ đường kính ngọn trên gốc ghép (a) gốc ghép bầu

Nhật 1, (b) gốc ghép bầu Nhật 2, (c) gốc ghép Địa Phương ở 35

NSKT tại Trại thực nghiệm Nông Nghiệp, ĐHCT

(10-12/2006)

29

3.6 Kích thước trái và tỷ lệ chiều cao/đường kính trái của trái dưa

hấu trên các gốc ghép khác nhau tại Trại thực nghiệm Nông

Nghiệp, ĐHCT (10-12/2006)

30

3.7 Hình trái dưa hấu trên các gốc ghép (a) bầu Nhật 1, (b) bầu

Nhật 2, (c) bầu Địa Phương, (d) Đối chứng không ghép tại Trại

thực nghiệm Nông Nghiệp, ĐHCT (10-12/2006)

30

xi

3.8 Trọng lượng trung bình trái dưa hấu trên các gốc ghép khác

nhau tại Trại thực nghiệm Nông Nghiệp, ĐHCT (10-12/2006)

31

3.9

Năng suất trái dưa hấu và tỷ lệ năng suất thương phẩm/năng

suất tổng (%) tại Trại thực nghiệm Nông Nghiệp, ĐHCT

(10-12/2006)

34

3.10 Số hột trên trái dưa hấu trên các gốc ghép khác nhau tại Trại

thực nghiệm Nông Nghiệp, ĐHCT (10-12/2006)

37

xii

MỞ ĐẦU

Dưa hấu là loại trái được dùng ăn tươi được đa số người dân ưa chuộng,

giàu dinh dưỡng và là một trong những loại hoa màu ngắn ngày đang được quan tâm do việc trồng dưa hấu đem lại hiệu quả kinh tế cao

Trong những năm gần đây, người nông dân canh tác dưa hấu gặp phải

nhiều khó khăn mà lớn nhất là bệnh héo rũ do nấm Fusarium oxysporum mà chưa

có biện pháp hữu hiệu nhất để phòng trị bệnh này Để giải quyết vấn đề này đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học được thực hiện nhằm phòng chống bệnh này như: luân canh cây trồng, sử dụng thuốc hóa học,… trong đó việc sử dụng ngọn ghép cho năng suất cao lên gốc ghép kháng bệnh đã đem lại hiệu quả và

Trang 10

đang được ứng dụng nhiều nước trên thế giới Ở các nước tiên tiến như Mỹ, Nhật,

Hà Lan… việc ghép rau được bắt đầu rất sớm (công nghệ ghép rau bắt đầu ở Nhật Bản từ năm 1927) và được áp dụng rộng rãi với đầy đủ các máy móc hiện đại cho việc ghép nhanh chóng và chính xác Còn ở Việt Nam việc ghép dưa hấu trên bầu

bí còn giới hạn và chưa có các số liệu khoa học nhằm khẳng định tầm quan trọng của việc ghép rau nói chung và ghép trên dưa hấu nói riêng

Do đó nhằm mở ra một hướng mới cho việc ghép dưa và giải quyết

tính cấp thiết trong sản xuất hiện nay đề tài “Ảnh hưởng của các loại gốc ghép lên

sự sinh trưởng, năng suất và phẩm chất trái dưa hấu Thành Long tại thành phố Cần Thơ” được tiến hành nhằm mục đích xác định gốc ghép có khả năng sinh trưởng mạnh, cho năng suất cao và phẩm chất ngon của cây ghép trong điều kiện ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

CHƯƠNG 1

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 NGUỒN GỐC, GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT DƯA HẤU

1.1.1 Nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng dưa hấu

* Nguồn gốc cây dưa hấu

Dưa hấu có tên khoa học là Citrullus Lanatus (Thunberg), tên tiếng Anh là

watermelon, thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae) Dưa hấu có nguồn gốc nhiệt đới khô

và nóng của Châu Phi (Trần Thị Ba và ctv., 1999)

Theo Ito (1994), dưa hấu có nguồn gốc nam Châu Phi và được đưa vào

Trung Quốc vào năm 1600 Theo Phạm Hồng Cúc (2002) dưa hấu được canh tác rộng rãi trong vùng Địa Trung Hải cách đây hơn 3000 năm

Ở nước ta, dưa hấu được trồng từ thời vua Hùng Vương thứ 18, dưa được

xem là loại trái cây không thể thiếu được vào ngày tết cổ truyền của nhân dân ta (Trần Thị Ba và ctv., 1999)

* Giá trị dinh dưỡng trái dưa hấu

Theo USDA (2004) 100 g trái ăn được có 91,51 g nước, 32 Kcal, 5,26 g

protein, 0,43 g lipit, 7,18 g glucid, 8 g Ca, 116 mg K, 9 mg P, chứa 14 loại vitamin,

18 loại acid amin và nhiều loại acid béo Ngoài ra, trái dưa hấu còn chứa β- caroten

4200 UI (Viện Dinh Dưỡng Việt Nam, 2003) Theo Phạm Hồng Cúc (2002) trong

100 phần ăn được của trái dưa hấu có chứa 90% nước, 9% carbohydrate, 0,7% protein, 0,1% lipid, 80 mg Ca, 10 mg Mg, 14 mg P, 0,2 mg Fe

1.1.2 Tình hình trồng dưa hấu ở Việt Nam và trên thế giới

Theo FAO (1996) trên thế giới diện tích trồng dưa hấu năm 1980 khoảng 2

triệu hecta, đến năm 2006 tăng lên khoảng 4 triệu hecta, trong khi sản lượng năm

1980 khoảng 30 triệu tấn/năm, đến năm 2006 khoảng 100 triệu tấn/năm Ở Việt

Trang 11

3

Nam diện tích trồng dưa hấu năm 1980 là 9.000 hecta đến năm 2.006 khoảng 28 ngàn hecta (FAOSTAT, 2007)

Theo Phạm Hồng Cúc (2002) sản lượng trồng dưa hấu hàng năm trên thế

giới khoảng 30 triệu tấn/năm với diện tích canh tác khoảng 2 triệu hecta Ở Việt Nam, diện tích trồng dưa khu vực phía Nam ước lượng khoảng 20.000 hecta

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất dưa hấu ở Việt Nam và trên Thế giới (FAOSTAT, 2007)

Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn)

Ghép là một trong những phương pháp nhân giống vô tính được thực hiện

bằng cách đem gắn một bộ phận của cây giống sang một gốc cây khác để tạo nên một cây mới mà vẫn giữ được đặc tính của giống ban đầu (Trịnh Thị Thu Hương, 2001) Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2003), ghép cành trên cây ăn trái

là một phương pháp đem cành hay mầm nhánh cây mẹ có nhiều ưu điểm như phẩm chất tốt, năng suất cao… gắn sang một gốc cây khác để tạo thành một cá thể mới 4

thống nhất Ưu điểm của phương pháp này là lợi dụng đặc tính tốt của gốc ghép tốt chịu đựng được điều kiện môi trường bất lợi như hạn, úng, sâu bệnh

Trong quá trình ghép tượng tầng của gốc ghép và ngọn ghép tiếp xúc với

nhau, nhờ sự hoạt động và tái sinh của tượng tầng mà gốc ghép và ngọn ghép gắn liền nhau Sau khi được gắn liền các mô mềm chỗ tiếp xúc giữa gốc ghép và ngọn ghép do tượng tầng sinh ra phân hóa thành các hệ thống mạch dẫn do đó nhựa nguyên và nhựa luyện giữa gốc ghép và ngọn ghép lưu thông nhau được (Trần Thế Tục, 1998)

Theo Osaka (1999) thì mục đích chính của việc ghép rau cải là tránh bệnh

trong đất như là tránh bệnh trong đất như Fusarium oxysporum trên họ bầu bí dưa

và héo vi khuẩn ở họ cà Gốc ghép càng khỏe, càng thích nghi với điều kiện khí hậu đất đai của địa phương thì cây ghép sinh trưởng càng tốt, sản lượng càng cao (Phạm Văn Côn, 2007) Ngoài ra, ghép còn có khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh (hạn úng, rét, sâu bệnh), điều tiết sự sinh trưởng của cây Cây ghép giữ được

Trang 12

những đặc tính của giống muốn nhân, tăng sự hấp thu nước và chất dinh dưỡng, rút ngắn thời gian chọn giống, chống lại những bất thuận của môi trường (Lê Thị Thủy, 2000)

Ghép dưa hấu là biện pháp hữu hiệu và kinh tế nhất có thể trồng dưa hấu liên

tục trong mỗi năm mà cây con không bị chết héo do nấm Fusarium oxysporum (Phạm Hồng Cúc, 2002) Khi nghiên cứu các tổ hợp gốc ghép khác nhau Oda (1996) còn nhận thấy rằng mùi vị, độ Brix của trái dưa hấu ghép trên gốc bầu trở nên tốt hơn so với gốc ghép bí

Dưa hấu ghép tạo sự bền vững để dễ bảo quản, trái từ những cây ghép ít nhất cũng tăng 25 đến 30% độ cứng và cây dưa ghép không những chỉ kháng nấm Fusarium, mà còn các bệnh khác từ đất (Agricultural Reseach Service Magazine July, 2005)

5

1.2.2 Dưa hấu ghép bầu

Dưa hấu ghép bầu có khả năng chống chịu bệnh héo Fusarium oxysporum, là phương pháp đơn giản dễ thực hiện trong sản suất đại trà Ngoài ra, dưa ghép bầu còn giúp gia tăng năng suất nhờ trái to và đều, giúp cây chống chịu tốt trong điều kiện khô hạn nhờ bộ rễ ăn sâu và rộng (Phạm Hồng Cúc và ctv., 1990) Theo Yetisir

và Sari (2000), dưa hấu ghép ngoài đồng có trọng lượng trái tăng 148%, trọng lượng khô tăng đến 42-180%, số lượng và kích thước lá tăng 58-100% so với cây trồng bình thường

Theo Dương Văn Hưởng (1990) dưa ghép bầu có ái lực cao với liều lượng

phân đạm Nông dân ở xã Phú Tâm (Hậu Giang) bón phân cho dưa ghép bầu với liều lượng cao (450-500 kg N) thu được năng suất từ 31,7-34,2 tấn/ha Tuy nhiên, lượng N làm giảm phẩm chất trái dưa và có khuynh hướng làm gia tăng bệnh cháy

lá, đốm nhựa thân

1.3 QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG DƯA HẤU GHÉP

1.3.1 Sản xuất dưa hấu ghép trên thế giới

Ghép là một kỹ thuật có từ rất lâu đời với cây ăn trái (Lê Thị Thủy, 2000)

Tuy nhiên, kỹ thuật ghép không được chú trọng trên cây rau cho đến năm 1927, khi sản xuất rau bị bệnh nặng nề bởi các bệnh héo do vi khuẩn, nấm và tuyến trùng Người dân Nhật Bản và Hàn Quốc đã sử dụng phương pháp ghép để tránh bệnh héo Fusarium oxysporum trên cây dưa hấu Phương pháp này đã mở ra một hướng mới

để phòng trừ các bệnh sinh ra từ đất đối với cây rau, bởi vì 68% các trường hợp bị bệnh của rau là bắt nguồn từ đất (Takahashi, 1984)

Theo Kobayashi (1988) thì gốc bầu giúp vỏ dưa hấu mỏng hơn gốc ghép là

bí ngô Nhờ việc sử dụng giống bầu (Cucurbita ficifolia) làm gốc ghép cho cây dưa hấu mà diện tích cây dưa hấu ở Nhật Bản tăng 59% năm 1930 so với năm 1929 Hơn thế nữa công nghệ ghép đã được người dân tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) ứng dụng để cứu nguy cho 5.000 ha dưa hấu bị bệnh héo rũ do nấm Fusarium

oxysporum (He, 1988)

6

Theo Oda (1993) để chống bệnh héo rũ do nấm Fusarium oxysporum gây hại

Trang 13

dưa hấu, người ta đã ghép dưa hấu với bầu Sau đó lần lượt trên các cây trồng khác được ứng dụng rộng rãi như cà tím những năm 50, dưa leo những năm 60 và cà chua những năm 70 của thế kỹ 20 Số liệu thống kê ở Nhật cho thấy năm 1990 đã

có 92% dưa hấu, 71,7 dưa leo, 43,8% các loại dưa khác, 31,5% cà chua và 19,9% cà tím được trồng bằng phương pháp ghép Hiện nay, trồng các loại rau nói trên bằng cách ghép đã đạt gần như 100% diện tích nhà kính Tại các nước tiên tiến đã có máy

tự động, ví dụ máy ghép cà chua của hảng Takii, 1.200 cây/giờ Năm 1992, Onada

và cộng sự phát minh máy ghép nối cho cây dưa hấu, tương tự ở Hàn Quốc cũng có máy ghép dùng cho cây họ bầu bí

Hiện nay, một trong những phương pháp tích cực được Nhật Bản, Đài Loan,

Hàn Quốc đã áp dụng thành công trong hơn 10 năm qua là biện pháp ghép cây con của cây dưa hấu lên gốc bầu bí, cây ghép đã đạt được những ưu điểm mà cây không ghép không có được

1.3.2 Sản xuất dưa hấu ghép ở Việt Nam

Sản xuất rau ở Việt Nam cũng đã biết đến ghép từ lâu với việc ghép dưa hấu

lên bầu bí Nông dân các tỉnh Kiên Giang, Trà Vinh, Tiền Giang đã ghép dưa hấu

để phòng chống bệnh héo dây do nấm Fusarium hoặc Pythium (Ngô Quang Vinh và ctv., 2004)

Ghép dưa hấu đã được áp dụng tại Việt Nam từ năm 1968, chủ yếu là ở Sóc

Trăng không chỉ nhằm mục đích kháng bệnh héo rũ mà còn tăng kích thước trái (Trần Thị Ba, 2006) Theo Phạm Hồng Cúc và ctv (1990) cho biết bệnh héo rũ do nấm Fusarium oxysporum gây hại, nông dân còn gọi là chạy dây xuất hiện rất nặng trên dưa hấu trồng thẳng trên nền đất trồng liên tục nhiều năm tại huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng, nhưng không gây hại trên dưa hấu ghép bầu và cho năng suất cao hơn 31,7-34,2% Ngoài ra kỹ thuật ghép này sẽ sử dụng ít thuốc trừ sâu hơn, đem lại sản lượng cao hơn và tạo ra trái có chất lượng cao hơn (SciDev, 2005)

Theo báo Nông nghiệp và nông thôn (2007) trung tâm khuyến nông tỉnh

Lạng Sơn đã áp dụng kỹ thuật ghép dưa hấu trên gốc bầu, được xem là một tiến bộ 7

kỹ thuật mới trong nghề trồng dưa hấu thương mại được phổ biến giúp hạn chế sự gây hại của bệnh héo rũ trên cây dưa hấu do nấm Fusarium gây nên, nhất là trên các ruộng dưa được trồng nhiều vụ liên tục Theo báo Bà Rịa - Vũng Tàu (2008), ở Đá Bạc vào vụ Đông - Xuân trước đây trồng dưa hấu ít bị bệnh, lợi nhuận cao hơn so với trồng rau màu khác từ 15-25 triệu đồng/ha Nhưng những năm gần đây, người trồng dưa thường bị thiệt hại nặng do cây dưa bị bệnh héo rũ, mỗi năm trung bình bệnh này gây thiệt hại 40% diện tích dưa hấu trong xã Để phòng bệnh héo rũ trên cây dưa đạt hiệu quả UBND xã Đá Bạc, (huyện Châu Đức) phối hợp với Trung tâm Khuyến Nông và Giống Nông nghiệp tỉnh và Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam thực hiện mô hình ghép dưa hấu vào gốc bầu, nhằm mục đích tăng sức

đề kháng cho cây dưa, bước đầu đã cho kết quả khả quan, thu được lợi nhuận cao từ việc trồng dưa hấu ghép và hướng tới xây dựng thương hiệu trái cho dưa hấu Nước

ta thuộc vùng nhiệt đới nóng ẩm, rất thuận lợi cho bệnh héo dây (do nấm Fusarium oxysporum) Vì vậy, việc nghiên cứu áp dụng biện pháp ghép dưa hấu là một hướng thiết thực mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người nông dân trong canh tác dưa hấu

Trang 14

1.4 MỘT VÀI KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ GIỐNG GỐC GHÉP

Theo Đỗ Thị Huỳnh Lam (2006) thì dưa lê ghép trên bầu Địa Phương có tỷ

lệ sống cao nhất (88%), kế đến là bầu Nhật 2 (84,3%) và thấp nhất là bầu Nhật 1 (59%) Nhưng theo Nguyễn Minh Phú (2006) dưa hấu ghép bầu Địa Phương có tỷ

lệ sống cao nhất (81,5%), kế đến là bầu Nhật 1 (80,9%) và thấp nhất là bầu Nhật 2 (76,8%) Theo nghiên cứu của Yetiser và Sari (2000) thì khả năng sống sót của dưa ghép trên gốc bí thấp (65%) trong khi ghép trên gốc bầu thì có tỷ lệ sống sót cao (95%) Và qua kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quốc Thái (2006) trên dưa hấu cho thấy việc chọn gốc ghép bầu thì chồi ghép phát triển tốt nhất

Ở nước ta Bầu Sao (Lagenaria siceraria) được chọn làm gốc ghép vì khả

năng tăng trưởng mạnh bộ rễ rất phát triển, ăn lan rộng, có khả năng ra nhiều rễ bất định ở đốt, bầu ưa nhiệt độ cao từ 20-300

C và cường độ ánh sáng mạnh nên thích

8

nghi rộng rãi với điều kiện thời tiết, đất đai ở Đồng Bằng Sông Cửu Long và để giống dễ dàng Dưa hấu ghép gốc bầu địa phương, cho cây ghép sinh trưởng rất mạnh về chiều dài rễ và thân, bởi vì hột bầu to hơn hột dưa hấu rất nhiều nên ngay khi cây mầm lú ra đã cho cây con ghép khỏe hơn cây con không ghép (Trần Thị Ba

và ctv., 1999)

Theo Lê Thị Thủy (2000) sử dụng gốc bầu (Cucurbita ficifolia) làm gốc

ghép cho dưa hấu sẽ chịu được nhiệt độ thấp Vì theo Agriou (1997) sự gây hại của Fusarium oxyporum trên rễ trở nên nghiêm trọng khi cây gặp những điều kiện bất lợi như: nhiệt độ thấp, hạn hán, đất ngập nước,… là những yếu tố làm hạn chế sự phát triển của rễ Theo Trần Thị Hồng Thơi (2007) và Lê Văn Mắc (2007) dưa hấu ghép trên các loại gốc bầu đều có tỷ lệ bệnh héo rũ thấp hơn so với đối chứng không ghép

Ở các vùng miền Bắc Nhật Bản, người dân thường sử dụng giống bầu nậm

(Lagenaria) để làm gốc ghép cho dưa hấu vì theo Kobayashi (1998) thì gốc bầu giúp vỏ dưa hấu mỏng hơn, tăng hàm lượng đường nhiều hơn gốc ghép là bí ngô Trong khi đó dưa thơm được ghép trên rất nhiều loài bầu bí nhưng rất hiếm ghép trên gốc bầu Trắng (Benicasa hispida) Theo Ozlem và ctv (2007) ghép dưa hấu trên gốc bầu cải thiện được sự sinh trưởng, năng suất và ảnh hưởng tốt chất lượng trái

Theo nghiên cứu của Nguyễn Trường Sinh (2006) gốc ghép trên cà chua có

chiều cao thân, số lá, đường kính gốc thân phát triển tốt hơn so với đối chứng không ghép Các chỉ tiêu về số trái và phẩm chất trái không khác biệt so với đối chứng không ghép

Theo Vũ Công Hậu (1999) gốc ghép ảnh hưởng sâu sắc đến sản lượng, chất

lượng, tính thích ứng chống chịu và nhiều đặc tính khác trên xoài Theo Trần Văn Hâu (2005) về ảnh hưởng của gốc ghép trên sự ra hoa của cây táo thì xuất hiện một cách rõ ràng trong thí nghiệm ghép của Visser Thí nghiệm của ông đã chỉ ra rằng gốc ghép lùn đã làm giảm rất lớn chiều dài của thời kỳ tơ trong cây táo con Một 9

gốc ghép khác đã làm chậm sự ra hoa và những ảnh hưởng này trên sự sớm ra hoa thì độc lập với ảnh hưởng của tỷ lệ sinh trưởng của mắt ghép

Theo nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Châu Á (2005)

Trang 15

thì điều kiện lý tưởng để cây ghép nhanh hồi xanh là nhiệt độ 27o

C, ẩm độ từ

85-90%, tại điều kiện này tỷ lệ cây sống cao, đạt trên 80% Theo Oda (1995) nếu nhiệt

độ quá cao, các tầng lá sẽ phát sinh bệnh và rụng

1.5 MỘT SỐ ĐIỂM LƯU Ý TRONG CANH TÁC DƯA HẤU GHÉP

1.5.1 Trong vườn ươm

Nấm Fusarium oxysporum có mặt khắp mọi nơi trong đất, tuy nhiên phải có

một tác nhân nào đó tạo ra vết thương cho rễ hoặc cho dây dưa thì nấm mới xâm nhập vào và làm chết dây dưa (Trần Văn Hòa và ctv., 2000) Do đó, khi ghép phải

có sự kiên nhẫn, khéo léo, chính xác, dao ghép phải thật bén, nhát cắt phải phẳng, gọn, luôn giữ vệ sinh (tránh bệnh truyền nhiễm nguy hiểm lây lan do nấm, virus…

vì khi ghép có sự cắt nối dễ tạo cơ hội cho vi sinh vật xâm nhiểm) để thao tác thành công, ngọn ghép tiếp hợp được với gốc ghép (Vũ Công Hậu, 2000) Trồng cây ghép gốc bầu tuy có hiệu quả trong phòng chống bệnh nhưng muốn phổ biến rộng rãi phải tổ chức công nghệ sản xuất cây con (Phạm Hồng Cúc, 2007)

1.5.2 Ngoài đồng

* Sinh trưởng: của cây ghép chậm hơn cây trồng từ rễ 1-2 tuần, khi chăm

sóc cây ghép trên đồng ruộng cần chú ý đến một vài đặc điểm riêng như: độ sâu cây trồng, chồi nách của gốc ghép… nên canh tác phức tạp, tốn công hơn và cần bố trí cho từng thời vụ thích hợp (Lê Thị Thủy, 2000) Theo Ozlem và ctv (2007) dưa hấu ghép bầu có thân chính dài, số lượng dây chèo nhiều hơn so với cây trồng từ rễ,

do đó cần nhiều thời gian ngắt chèo nhằm tập trung dinh dưỡng cho thân chính nuôi trái Theo Nguyễn Văn Bảy (1991) thì dưa ghép bầu có hoa cái nở chậm hơn so với dưa hấu trồng từ hột trong điều kiện bình thường vài ngày do đó làm cho thời gian sinh trưởng kéo dài hơn Với điều kiện nước ta hiện nay thì dưa hấu tốt nhất là vụ Đông Xuân vì thời tiết mát mẻ và khô ráo, dưa sinh trưởng thuận lợi cho năng suất 10

cao (Mai Văn Quyền, 1999 và Phạm Hồng Cúc, 2000) Nhưng trong mùa mưa và nền đất canh tác dưa hấu liên tục thì gặp rất nhiều khó khăn do ngập úng, bệnh trong đất và ẩm độ cao sẽ gặp rủi ro nhiều về năng suất Dưa hấu ghép trên gốc bầu (Lagenaria siceraria) được khuyến cáo sử dụng sẽ chống lại những căn bệnh từ đất,

sự ngập úng và làm góp phần tăng năng suất (Yetisir và ctv 2006)

* Phân bón: làm tăng năng suất nhưng ảnh hưởng rất lớn đến phẩm chất trái

dưa, tùy vào độ màu mỡ của đất mà lượng phân bón khác nhau, đất phù sa ven sông cần ít phân hơn đất cát hoặc đất bạc màu (Trần Thị Ba và ctv., 1999) Trong giai đoạn đầu gốc bầu hút phân và nước mạnh nên lớn nhanh hơn thân dưa, làm vết ghép mở rộng, thân dưa rớt khỏi gốc bầu (Phạm Hồng Cúc, 2007) Cần hạn chế lượng phân bón lót và tưới thúc trong giai đoạn đầu nhằm bớt sự phát triển nhanh khiến thân dưa rớt khỏi gốc bầu Khi dưa bắt đầu bò, thân dưa đã thật sự gắn chặt vào gốc bầu mới thúc phân từ từ và gia tăng dần dần lượng phân sau mỗi lần bón Gốc bầu có khả năng hút mạnh phân đạm, nếu bón nhiều dưa cho trái lớn, tích nước nhiều và mau úng khi thu hoạch (Đỗ Thị Huỳnh Lam, 2006)

Trang 16

CHƯƠNG 2

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 PHƯƠNG TIỆN

2.1.1 Địa điểm và thời gian

* Địa điểm: tại Trại thực nghiệm Nông Nghiệp, Khoa Nông nghiệp &

SHƯD, trường Đại Học Cần Thơ

* Thời gian: từ tháng 10 đến 12 năm 2006

Trang 17

Ngọn ghép: dưa hấu F1 Thành Long, do công ty giống cây trồng Trang

Nông cung cấp Vỏ trái mỏng màu xanh có sọc lem, dạng trái hình oval, trung bình

2 - 3 kg, ruột đỏ đậm chắc thịt, độ Brix 12 - 14%, thời gian sinh trưởng 55- 58 ngày Gốc ghép: bầu Nhật 1, Nhật 2 (nhập nội từ công ty Kurume của Nhật) và

bầu Địa phương

* Vật liệu khác

Phân bón: NPK (20-20-15), Urea (46%), Kali (60%), Canxi nitrate

(CaNO3), vôi bột (40%), phân hữu cơ

Thuốc trừ sâu: Copper B, Basudin 10H, Confidor 100 SL, Regent 0,3 G,

Actara 25 WG, Dithane-M45 80WP, Confidor 100SL, Vertime 1,8 EC, Match® D50 EC, DC-Tron Plus

Thuốc trừ bệnh: Monceren 250 SC, Ridomil MZ 72WP, Validan, Staner,

chất bám dính

Màng phủ nông nghiệp, thước kẹp, máy đo độ Brix…

2.2 PHƯƠNG PHÁP

2.2.1 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp

lại, gồm 4 nghiệm thức (là 3 loại gốc ghép và đối chứng không ghép):

Trang 18

Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm “Ảnh hưởng của các loại gốc ghép lên sự sinh trưởng, năng suất và phẩm chất trái dưa hấu Thành Long tại Thành phố

2.2.2 Kỹ thuật trồng dưa hấu ghép

* Chuẩn bị cây con

Gieo hột giống hột bầu được ngâm trong nước ấm pha tỷ lệ 3 sôi + 2 lạnh

sau 3 giờ gieo vào bầu đất đất được chuẩn bị sẳn dặt nơi có nhiều ánh nắng để cây con lên đều khoẻ mạnh Khi cây bầu mọc mầm có 2 lá mầm vừa mở ra (khoảng 8-9 ngày) là chuẩn bị ủ hột dưa hột dưa ngâm nước ấm 2 giờ chà rửa sạch nhớt, ủ 36-48 giờ hột sẽ nhú mầm Chọn trấu mới đem ngâm ướt nhồi cho hơi mềm rãi trên nia một lớp trấu dày khoảng 2-3 cm rãi hột dưa nảy mầm lên mặt trấu phủ lên trên lớp trấu dày khoảng 1 cm Khi dưa vừa mọc khỏi mặt trấu để nia nơi có ít ánh sáng cho thân mọc dài và chậm mở lá Khi cây bầu có lá thật đầu tiên và cây dưa chưa mở lá mầm (khoảng 3 ngày sau khi hột dưa nảy mầm) thì bắt đầu ghép, tưới đẫm gốc ghép trong bầu đất trước khi ghép vì sẽ ngưng tưới 2-3 ngày sau khi ghép

Tiến hành ghép

Sử dụng phương pháp ghép ngọn

+ Ngắt bỏ lá thật đầu tiên của bầu, chừa 2 lá mầm

+ Dùng que lượt sừng ghim vào ngọn bầu xéo 30-400

, xuyên qua thân bầu bí,

giữ que ghim tại ngọn

+ Dùng lưỡi lam cắt bỏ phần gốc thân dưa hấu với góc xéo 30-400

sát dưới lá

mầm

+ Rút bỏ ghim trên ngọn bầu, ngay sau đó đặt ngọn dưa lên gốc ghép sao cho mặt cắt áp sát vào thân và 2 tử diệp của ngọn ghép vuông góc với 2 lá mầm của gốc ghép (để khi ngọn dưa phát triển sẽ không bị cản trở bởi lá mầm của gốc

ghép), thao tác phải nhanh chính xác để tránh gió làm lành vết que ghim trên gốc ghép và mặt cắt ngọn ghép

+ Chăm sóc sau ghép: đặt cây nơi mát và kín gió 2-3 ngày dùng bình xịt

phun sương thật nhẹ để ngọn dưa không bị héo, ghép lại những cây chưa dính, khi

Trang 19

ngọn dưa thật sự tăng trưởng trên gốc bầu, mới đem ra nắng, nhử cây ghép dưới nắng nhẹ trong 20-30 phút ở ngày thứ 4, vài giờ ở ngày thứ 5-6, sau đó đem ra nắng 15

hoàn toàn Khi cây dưa hấu ghép bầu có lá thật là trồng từ khi ngâm hột bầu đến khi trồng cây ghép là 18-22 ngày

* Chuẩn bị đất trồng

Liếp đôi rộng 3,8 m, rộng liếp 1 m, cao liếp 0,3 m, hai tim mương cách nhau 3,2m Đất ruộng được thu dọn sạch, bón lót, xử lý mầm bệnh tiến hành lên liếp trồng dưa

* Trồng cây

Cây cách cây 0,5 m, mật độ trồng là 8500 cây/ ha, cây con trong bầu đem ra

trồng lúc trời mát, cố định cây con bằng đũa tre cắm thẳng đứng, sau đó rải Basudin 10H ngừa kiến

Hình 2.3 Cây con dưa hấu trên gốc ghép 2 ngày sau khi trồng, Trại thực nghiệm Nông Nghiệp, ĐHCT (10/2006)

16

* Chăm sóc:

- Tưới nước: trung bình 1-2 lần/ngày giai đoạn 1-10 NSKT, giai đoạn 10

NSKT trở về sau tưới 1 lần/ngày, mưa không tưới, cây cần nhiều nước nhất là lúc trái phát triển tối đa, ngưng tưới 3 ngày trước khi thu hoạch để giúp dưa chắc, ngọt, giữ lâu (khi cây lớn nên tưới xa gốc để nhử rể mọc lan, lượng nước tăng dần theo sự phát triển của cây, tưới ở gốc không nên tưới lên lá vì làm cây dễ bị bệnh)

- Bón phân

Lượng phân bón trên 1 ha dưa hấu là 800 kg 20-20-15, 50 kg Urea, 60 kg

KCl, 75 kg CaNO3 Loại phân, liều lượng và thời kỳ bón phân (Bảng 2.1)

Bảng 2.1 Loại phân, liều lượng và thời kỳ bón phân cho thí nghiệm dưa hấu tại Trại thực nghiệm Nông Nghiệp, ĐHCT (tháng 10-12/2006)

Trang 20

NSKT: ngày sau khi trồng

Công thức nguyên 200 N - 160 P2O5 -140 K2O

- Ngắt đọt: khi cây có 4-6 lá thật (không tính 2 lá mầm) tiến hành ngắt bỏ

đọt thân chính, sau đó tỉa chừa lại 2 nhánh tốt, sau khi cây có trái tiến hành ngắt bỏ đọt của 2 chồi (chỉ có một chồi mang trái), vị trí ngắt đọt cách trái 5-6 lá

- Tỉa nhánh: chừa lại 2 dây chèo, dây chèo và các dây bơi ra bơi ra sau và

ngắt ngọn sau khi đã để trái (cách trái 5-6 lá)

- Úp nụ bổ sung: tập trung trong 3-5 ngày tiến hành vào lúc 6-7 giờ khi nở

bông cái thứ 2-4

- Tuyển trái: khi trái bằng trái chanh chọn trái thứ 3 trên dây chánh tức vị trí

lá thứ 16-20 (đối với dây dưa quá sung chọn trái ở vị trí lá 21-23)

Trang 21

+20cc

2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi

* Ghi nhận

- Tỷ lệ cây sống sau khi ghép (%)

- Thời gian: từ khi ghép đến khi đưa ra đồng, ngày trổ hoa cái (50%) và ngày

thu hoạch

- Tỷ lệ bệnh héo rũ và bệnh đốm phấn trên lá: đếm số cây bị bệnh /từng lô (7 ngày/lần), bắt đầu vào một tuần sau khi trồng ra đồng và sau đó định kỳ 1 tuần 1 lần cho đến khi thu hoạch Ghi nhận triệu chứng và diễn biến của bệnh theo thời gian

* Chỉ tiêu về sinh trưởng (quan sát cố định 10 cây/lô, định kỳ 14, 21, 28 ngày sau khi trồng)

+ Chiều dài thân chính (cm): dùng thước dây đo từ gốc thân (khoảng 2 cm

dưới lá mầm) đến đỉnh sinh trưởng của thân chính

18

+ Số lá trên thân chính (lá): đếm từ lá thật thứ nhất đến lá ngọn cuối cùng (lá dài hơn 2 cm)

+ Đường kính gốc thân (mm): đo bằng thước kẹp tại phần gốc thân cách 2

cm bên dưới tử diệp (của gốc ghép)

+ Kích thước trái (cm): đo chiều cao và đường kính lớn nhất của trái lúc thu

hoạch (10 trái/ lô) dùng thước dây đo

* Chỉ tiêu về thành phần năng suất và năng suất

+ Trọng lượng trung bình của trái (kg/trái): cân trọng lượng của 10 trái/lô,

tính trọng lượng trung bình của trái trên từng lô

+ Sinh khối: cân toàn bộ cây (dây, lá, trái và rễ) trên từng lô, tính năng suất

toàn cây/lô

+ Năng suất tổng: bằng tổng trọng lượng tất cả các trái trên lô, qui ra tấn/ha

+ Năng suất thương phẩm: cân toàn bộ trái trên từng lô lúc thu hoạch có thể

bán được quy ra tấn/ha

* Một số chỉ tiêu phẩm chất trái

+ Độ Brix (%): lấy ngẫu nhiên 2 trái trên mỗi lô, đo độ Brix (độ ngọt) của

thịt trái ở 3 vị trí là đầu giữa và cuối ở mỗi trái/lô bằng máy đo khúc xạ kế Đo lúc 3 ngày sau khi thu hoạch

+ Độ dày vỏ trái (mm): dùng thước kẹp, đo 2 trái /mỗi nghiệm thức, tính

trung bình (độ dày vỏ /trái)

+ Tỷ lệ trọng lượng thịt trái/trọng lượng trái (%): từ trọng lượng trái và trọng

lượng vỏ, qui ra trọng lượng thịt trái, tính phần trăm

+ Thời gian tồn trữ trái (ngày): lấy ngẩu nhiên mỗi lô 2 trái, đem bảo quản

trong điều kiện phòng, quan sát trái hàng ngày, cho đến khi trái bắt đầu hư như đỉnh trái hơi mềm (nơi cuống trái tiếp xúc với trái), hay có vết mềm trên vỏ trái hoặc có nấm bệnh tấn công

+ Số hột/trái: đếm số hột trong 2 trái/mỗi nghiệm thức, tính trung bình

19

Trang 22

2.2.4 Hiệu quả kinh tế

+ Tổng chi phí: tiền giống, màng phủ, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và

công lao động

+ Tổng thu nhập: năng suất × giá bán tại thời điểm thu hoạch

+ Lợi nhuận = tổng thu - tổng chi

+ So sánh lợi nhuận đối với cây ghép và cây không ghép

2.2.5 Phân tích số liệu

- Nhập số liệu bằng chương trình Excels

- Dùng chương trình MSTATC để phân tích thống kê số liệu

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ THẢO LUẬN

3.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT

Cây con dưa hấu sau khi ghép 15 ngày trong vườn ươm trước khi đem ra

đồng có tỷ lệ sống cao nhất trên gốc ghép bầu Địa Phương (52,2%) kế đến là ở bầu Nhật 2 (49,2%) và thấp nhất là ở bầu Nhật 1 (41,1%) Nhiệt độ trong phòng phục hồi sau ghép rất cao (31-35o

C) và ẩm độ không khí (83-86%) không thuận lợi cho

cho sự phục hồi của cây dưa hấu vì nhiệt độ cao dễ làm cho cây bị héo và chết Thí nghiệm được thực hiện trong vụ Thu Đông điều kiện thời tiết rất bất lợi

cho dưa hấu, lượng mưa nhiều kèm theo ẩm độ cao (Hình 2.1 và Phụ chương 1) Khu thí nghiệm thoát nước chậm trong khi lượng mưa vào tháng 10 (giai đoạn cây con và khi cây 19-22 ngày sau khi trồng) rất cao là 205,4 mm (Đài khí tượng thủy văn thành phố Cần Thơ, 2006) Vào giai đoạn 19-22 ngày sau khi trồng (NSKT) mưa lớn, nền đất tương đối thấp so với xung quanh nên việc rút nước rất chậm, ngập 2/3 liếp làm một số đọt dưa bị thối và phải co gập ngọn dưa lại Mặc dù tích cực đào rãnh, khai thông các lỗ thoát nước nhưng sau vài ngày mới khắc phục được

Vào thời điểm cây ra hoa gặp mưa dầm nên không thể thụ phấn đồng loạt

trái Dưa hấu trên gốc ghép bầu Nhật 1 và đối chứng không ghép bắt đầu trổ hoa sớm và trổ hoa cái (50%) ở thời điểm 28 NSKT Còn đối với dưa hấu trên gốc ghép bầu Nhật 2 và bầu Địa Phương ngày trổ hoa kéo dài hơn khoảng 2 ngày Thời điểm thu hoạch đối với dưa ghép từ 55-58 ngày sau khi trồng tức 68-70 ngày sau khi gieo ở gốc ghép và 64-65 ngày sau khi gieo ở ngọn ghép Càng về sau cây sinh trưởng theo chiều hướng tương đối tốt đặc biệt là gốc ghép bầu Địa Phương và gốc ghép bầu Nhật 2, tàn lá xum xê do diện tích lá lớn, bộ lá xanh và tốt, thân to, mập mạp hơn so với dưa đối chứng không ghép Gốc ghép bầu Địa Phương và gốc ghép 21

bầu Nhật 2 khi thu hoạch vẫn giữ được bộ lá tốt hơn so với đối chứng không ghép

Về tình hình bệnh hại, gây hại chủ yếu trên lá do bệnh đốm phấn

(Pseudoperonospora cubensis), về sâu hại không ảnh hưởng do mưa kéo dài, chỉ

có sâu ăn tạp (Spodoptera litura), sâu ăn lá (Diaphania indica) và ruồi đục trái

Trang 23

3.3.1 Chiều dài thân chính của dưa hấu trên các loại gốc ghép khác nhau

Kết quả trình bày ở Hình 3.3 và Phụ chương 2 cho thấy chiều dài thân dưa

hấu giữa các gốc ghép nhìn chung có sự khác biệt qua phân tích thống kê ở các lần khảo sát Gốc Bầu Nhật 1 luôn có chiều dài thân chính thấp nhất (11,83 cm ở 1 NSKT đến 230,40 cm ở 28 NSKT) và Đối chứng luôn cao nhất ở giai đoạn 1 NSKT (16,06 cm) đến 14 NSKT (35,44 cm), các giai đoạn sau thì Đối chứng (không ghép) sinh trưởng chậm lại không khác biệt so với gốc ghép bầu Nhật 1 (230,40 cm ở 28 NSKT)

Trang 24

Sở dĩ gốc ghép bầu Nhật 1 sinh trưởng chậm hơn bầu Nhật 2 và bầu Địa

Phương là do hột bầu Nhật 1 có kích thước nhỏ nhất bầu Nhật 2 có kích thước trung bình và bầu Địa Phương to nhất rất dễ phân biệt, hột càng to thì chứa nhiều dinh dưỡng hơn giúp cây mầm phát triển Theo Trần Thị Ba và ctv (1999) cho 23

rằng dưa ghép gốc bầu Địa Phương cho cây ghép sinh trưởng mạnh về chiều dài rễ

và thân, bởi vì hột to hơn hột dưa hấu rất nhiều nên ngay khi cây mầm lú ra đã cho cây ghép khoẻ hơn cây không ghép Chính vì đây là thí nghiệm đầu tiên, tỷ lệ cây sống sau ghép chỉ đạt trong khoảng 41,1-52,2%, thời điểm đưa ra đồng cây ghép yếu ớt Mặt khác, điều kiện thời tiết bất lợi, lượng mưa trong tháng 10 (ở giai đoạn cây con và tăng trưởng) rất lớn (205,4 mm) và ẩm độ cao (87%) Quá trình thí nghiệm gặp khó khăn lớn nhất là ở thời điểm 19-22 NSKT, mưa lớn liên tục, chiều cao mực nước gần 2/3 mặt liếp làm một số đọt bị thối, phải gập nửa thân để quay đầu dưa lại Theo Tạ Thu Cúc (2005) và Trần Thị Ba va ctv (1999) dưa hấu là cây không chịu úng, nhất là giai đoạn cây con Trong khi đó, ảnh hưởng bất lợi đầu tiên của sự ngập úng đối với cây trồng là việc giảm sự sinh trưởng của chồi và rễ (Larson và csv., 1991) Theo Yetisir và ctv (2006) sức chịu đựng ngập úng của cây dưa hấu có thể cải thiện bằng việc ghép trên gốc bầu (Lagenarie siceraria) Theo Ozlem và ctv (2007) dưa hấu ghép bầu có chiều dài thân chính phát triển hơn so với dưa không ghép và ảnh hưởng tốt lên sự sinh trưởng cây dưa tùy theo việc sử dụng gốc ghép Thí nghiệm cho thấy, ở giai đoạn này sự phục hồi và phát triển nhanh nhất là gốc ghép bầu Địa Phương và bầu Nhật 2 cho thấy khả năng phát triển mạnh của hai loại gốc ghép này Điều này còn thể hiện qua tốc độ tăng trưởng qua các giai đoạn khảo sát

Kết quả ở Hình 3.3 và Phụ chương 2 cho thấy tốc độ tăng trưởng chiều dài

dây dưa ở thời điểm 7-21 NSKT giữa các gốc ghép không có sự khác biệt qua phân tích thống kê Giai đoạn này tốc độ tăng trưởng chiều dài thân dưa hấu giữa các gốc ghép ở thời điểm 0-21 NSKT tương đối chậm Theo Trần Thị Ba và ctv (1999) thân họ bầu bí dưa phát triển chậm trong thời kỳ đầu

Giai đoạn 21-28 NSKT tốc độ tăng trưởng chiều dài dây dưa giữa các gốc

ghép có khác biệt khi phân tích thống kê, cao tương đương là gốc ghép bầu Địa Phương (22,56 cm/ngày), bầu Nhật 2 (22,28 cm/ngày) và thấp tương đương là bầu Nhật 1 (19,97 cm/ngày), đối chứng không ghép (19,94 cm/ngày) Thời kỳ này chiều dài cây dưa bắt đầu gia tăng mạnh Theo Tạ Thu Cúc (2005) thời kỳ ra hoa 24

thân phát triển mạnh nhất, tốc độ sinh trưởng nhanh, lóng dài Có lẽ điều này đã góp phần làm cho thời gian trổ hoa cái đầu tiên và vị trí trái trên thân của gốc ghép bầu Nhật 2 và bầu Địa Phương chậm hơn

Giai đoạn 28 NSKT trở về sau, so sánh thời điểm trổ hoa cái giữa nghiệm

thức dưa hấu trên gốc ghép bầu Nhật 2 và bầu Địa Phương kéo dài hơn dưa đối chứng không ghép và bầu Nhật 1 cho thấy dưa ghép trên gốc bầu Nhật 2 và bầu Địa Phương về sinh trưởng cây phát triển hơn làm chậm quá trình sinh sản hơn so với đối chứng không ghép, nhưng ở giai đoạn này không khảo sát tiếp các chỉ tiêu sinh trưởng về thân lá do kỹ thuật canh tác ngắt đọt thân chính cách vị trí trái khoảng 5-6 lá để tập trung dinh dưỡng nuôi trái

Trang 25

3.3.2 Số lá trên thân chính của dưa hấu trên các loại gốc ghép khác nhau

Kết quả trình bày ở Hình 3.4 và Phụ chương 2 cho thấy số lá trên thân chính của dưa hấu giữa các gốc ghép qua các giai đoạn khảo sát không có sự khác biệt qua phân tích thống kê Ở thời điểm 28 NSKT số lá dao động từ 27,60- 29,40 lá/thân Điều này cho thấy gốc ghép gốc ghép không làm ảnh hưởng đến số lá trên 25

thân dưa hấu Theo kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Hai (2003) thì số lá trên dây quyết định bởi đặc tính giống Theo Lê Thiện Tích (2002) thì số lá trên dây chính còn bị ảnh hưởng bởi biện pháp canh tác như vị trí mang trái trên thân thân chính Giai đoạn tiếp theo cây cho trái ngắt đọt thân chính nhằm tập trung nuôi trái nên sự thay đổi số lá không khảo sát tiếp như ở chiều dài thân

Về tốc độ tăng trưởng lá ở giai đoạn 0-21 NSKT giữa các gốc ghép không

khác biệt khi phân tích thống kê (Hình 3.4 và Phụ lục 2) Đến giai đoạn 21-28 NSKT tốc độ ra lá của cây dưa hấu ở các gốc ghép có khác biệt khi phân tích thống

kê, cao nhất là ở gốc ghép bầu Địa Phương (2,06 lá/ngày) và bầu Nhật 2 (2,01 lá/ngày), thấp nhất là ở đối chứng không ghép (1,59 lá/ngày) Điều này cho thấy gốc ghép có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng lá của cây dưa hấu Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Đỗ thị Huỳnh lam (2006) trên dưa lê Theo Lê Văn Hòa và ctv (1999) thời kỳ này là thời kỳ tăng trưởng mạnh, cây ra hoa đậu trái, lá

là cơ quan quang hợp chính của cây, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây Như vậy, sự thích ứng và phát triển thân lá mạnh mẽ tạo điều kiện tốt cho cây sinh trưởng và tăng khả năng kháng bệnh

0

Trang 26

Kết quả Bảng 3.1 cho thấy đường kính giữa các gốc ghép bầu nhìn chung có

có sự khác biệt ý nghĩa khi phân tích thống kê qua các giai đọan khảo sát Thời điểm 14 NSKT đường kính gốc ghép bầu không có sự khác biệt ý nghĩa khi phân tích thống kê (dao động trong khoảng 5,9-6,4 mm) Ở thời điểm 21 và 28 NSKT đường kính giữa các gốc ghép bầu có sự khác biệt ý nghĩa khi phân tích thống kê Đường kính gốc ghép bầu Nhật 1 luôn thấp nhất (6,7 mm ở 21 NSKT đến 8,0 mm

ở 28 NSKT), các gốc ghép bầu Địa Phương và bầu Nhật 2 có đường kính cao hơn

và không khác biệt thống kê (7,4-7,8 mm ở 21 NSKT đến 8,9-9,5 mm ở 28 NSKT) Đường kính gốc ghép bầu có mối liên hệ trực tiếp ảnh hưởng đến đường kính gốc thân ngọn ghép dưa hấu (Bảng 3.2) Theo Nguyễn Quốc Thái (2004) gốc ghép tốt sẽ làm gia tăng kích thước và sự phát triển của ngọn ghép và ngược lại Bảng 3.1 Đường kính giữa các gốc ghép bầu tại Trại thực nghiệm Nông Nghiệp, ĐHCT (10-12/2006)

Đường kính gốc ghép (mm) qua các ngày sau khi trồng

Trang 27

Những số trong cùng một cột có chữ theo sau giống nhau thì không khác biệt qua phân tích thống

kê ns: không khác biệt, *: khác biệt ở mức ý nghĩa 5%, **: khác biệt ở mức ý nghĩa 1%

Do ngắt đọt thân chính ở giai đọan 30 NSKT nên không khảo sát tiếp chỉ tiêu sinh trưởngtrở về

sau

Kết quả Bảng 3.2 cho thấy đường kính gốc thân ngọn ghép dưa hấu có sự

khác biệt ý nghĩa khi phân tích thống kê qua các giai đoạn khảo sát Đối chứng

không ghép luôn có đường kính gốc thân thấp nhất (3,9 mm ở 14 NSKT đến 6,2

mm ở 28 NSKT), các gốc ghép trên bầu đều có đường kính cao hơn và không khác biệt thống kê (4,2-4,8 mm ở 14 NSKT đến 7,0-8,1 mm ở 28 NSKT) Điều này có

27

thể là do kích thước hột dưa đối chứng có kích thước nhỏ hơn so với hột bầu Địa

Phương làm gốc ghép, do đó bầu Địa Phương có khả năng hút nước và chất dinh

dưỡng nuôi cây tốt, đường kính gốc thân to và làm thay đổi đường kính ngọn ghép của cây dưa hấu

Kết quả này cũng được tìm thấy ở thí nghiệm của Trần Thị Hồng Thơi

(2007) về sự tăng trưởng của đường kính gốc thân dưa hấu, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trường Sinh (2006) về gốc ghép trên cà chua có chiều cao thân, số lá,

đường kính gốc thân phát triển tốt hơn so với đối chứng không ghép

Bảng 3.2 Đường kính gốc thân ngọn ghép cây dưa hấu trên các gốc ghép khác

nhau tại Trại thực nghiệm Nông Nghiệp, ĐHCT (10-12/2006)

Đường kính gốc thân ngọn ghép (mm) qua các NSKT

kê *: Khác biệt ở mức ý nghĩa 5%, **: Khác biệt ở mức ý nghĩa 1%

Do ngắt đọt thân chính ở giai đọan 30 NSKT nên không khảo sát tiếp chỉ tiêu sinh trưởngtrở về

sau

Kết quả Bảng 3.3 và Phụ chương 2 cho thấy tỷ lệ đường kính ngọn trên gốc

ghép dưa hấu không có sự khác biệt ý nghĩa khi phân tích thống kê qua các giai

đoạn khảo sát Tỷ lệ này có sự gia tăng qua các giai đoạn khảo sát và càng về sau

càng lớn dần về 100% chứng tỏ sự phát triển của ngọn ghép dần tương đương với

gốc ghép Theo Lê Chí Hùng (2005), Trần Văn Lài và ctv (2000) cho rằng gốc

Trang 28

ghép và ngọn ghép có tác động qua lại lẫn nhau tạo thành một tổ hợp ghép, sự sinh trưởng, khả năng kháng bệnh và cho năng suất đều chịu ảnh hưởng của cả gốc

28

ghép và ngọn ghép Tỷ lệ này dao động từ 82-87% ở giai đoạn 28 NSKT, chứng tỏ

sự thích ứng giữa các gốc ghép đều như nhau

Bảng 3.3 Tỷ lệ đường kính ngọn/gốc của cây dưa trên các gốc ghép tại Trại thực

nghiệm Nông Nghiệp, ĐHCT (10-12/2006)

Tỷ lệ đường kính ngọn/gốc (%) của cây dưa ghép

kê ns: không khác biệt

Do ngắt đọt thân chính ở giai đoạn 30 NSKT nên không khảo sát tiếp chỉ tiêu sinh trưởngtrở

vềsau

29

a b

c

Hình 3.5 So sánh tỷ lệ đường kính ngọn trên gốc ghép (a) gốc ghép bầu Nhật 1,

(b) gốc ghép bầu Nhật 2, (c) gốc ghép Địa Phương ở 35 NSKT tại Trại

thực nghiệm Nông Nghiệp, ĐHCT (10-12/2006)

3.3.4 Kích thước trái

Hình 3.6 và Phụ chương 2 cho thấy chiều cao trái giữa các gốc ghép không

có sự khác biệt ý nghĩa qua phân tích thống kê, dao động từ 19,04-20,15 cm

Chu vi hoành của trái dưa hấu có sự khác biệt ý nghĩa khi phân tích thống

kê qua các giai đoạn khảo sát, cao nhất ở gốc ghép bầu Địa Phương (51,07 cm),

không khác biệt so với bầu Nhật 2 (50,02 cm) và thấp nhất là ở đối chứng không

ghép (46,43 cm) Từ kết quả cho thấy có ảnh hưởng của gốc ghép lên kích thước

trái Điều này phù hợp với sự tăng trưởng của cây, gốc ghép bầu Địa Phương và

30

bầu Nhật 2 có sự tăng trưởng tốt về chiều cao, đường kính gốc thân nên có kích

thước trái lớn

Tỷ lệ chiều cao trên đường kính trái giữa các gốc ghép không có sự khác

biệt qua phân tích thống kê, dao động trong khoảng 1,26-1,34 (Hình 3.6 và Phụ

chương 2) Chứng tỏ trái ở các gốc ghép có dạng hình oval, các gốc ghép không

làm thay đổi hình dạng của trái, không làm ảnh hưởng đến mỹ quan cũng như giá

bán của trái dưa hấu

Trang 29

3.4 THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT VÀ NĂNG SUẤT TRÁI

3.4.1 Trọng lượng trung bình trái

Kết quả ở Hình 3.8 và Phụ chương 2 cho thấy trọng lượng trung bình trái

dưa hấu ở các gốc ghép có khác biệt ý nghĩa 5% qua phân tích thống kê, cao nhất

là ở gốc ghép bầu Địa Phương (2,70 kg/trái) không khác biệt so với bầu Nhật 2 (2,42 kg/trái), thấp nhất là bầu Nhật 1 (2,29 kg/trái) và đối chứng không ghép (2,04 kg/trái) Kết quả này phù hợp với tình hình sinh trưởng và kích thước trái dưa hấu Theo nghiên cứu của Yetisir và Sari (2000) dưa ghép bầu có trọng lượng trái lớn hơn so với dưa không ghép Kết quả thí nghiệm cho thấy chỉ có gốc ghép bầu Địa Phương làm thay đổi trọng lượng trái Như vậy, việc ghép hay không ghép không làm giảm trọng lượng trái dưa hấu

2,29 b 2,42 ab

2,70 a

2,04 b

0

Trang 30

Trọng lượng trái (kg/trái)

Hình 3.8 Trọng lượng trung bình trái dưa hấu trên các gốc ghép khác nhau tại Trại thực nghiệm Nông Nghiệp, ĐHCT (10-12/2006)

3.4.2 Trọng lượng rễ thân lá và trọng lượng toàn cây

Kết quả ở Bảng 3.4 cho thấy trọng lượng rễ thân lá và trọng lượng toàn cây

dưa hấu giữa các gốc ghép có sự khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê, cao nhất là ở gốc ghép bầu Địa Phương (TL rễ thân lá là 0,98 kg/cây, trọng lượng toàn cây là 3,68 kg/cây) không khác biệt thống kê so với gốc ghép bầu Nhật 2 (TL rễ 32

thân lá là 0,84 kg/cây, trọng lượng toàn cây là 3,26 kg/cây) thấp nhất là ở đối chứng không ghép (TL rễ thân lá là 0,49 kg/cây, trọng lượng toàn cây là 2,53 kg/cây) và bầu Nhật 1 (TL rễ thân lá là 0,59 kg/cây, trọng lượng toàn cây là 2,88 kg/cây) Kết quả này cho thấy gốc gép bầu Địa Phương và bầu Nhật 2 sinh trưởng tốt nên trọng lượng rễ thân lá và trọng lượng toàn dây cao, phù hợp với thí nghiệm của Trần Thị Hồng Thơi (2007)

Tỷ lệ trọng lượng trái trên trọng lượng toàn cây giữa các gốc ghép không

khác biệt về mặt thống kê (Bảng 3.4), dao động từ 73,29-80,62% Như vậy, gốc ghép không làm ảnh hưởng đến trọng lượng trái trên trọng lượng toàn cây nhưng làm ảnh hưởng đến trọng lượng trái và trọng lượng toàn cây, cho thấy khả năng tập trung dinh dưỡng của cây để nuôi trái là như nhau giữa các gốc ghép

Bảng 3.4 Trọng lượng rễ thân lá và trọng lượng toàn dây dưa hấu ở thời điểm thu hoạch trên các gốc ghép khác nhau Trại thực nghiệm Nông Nghiệp,

Ngày đăng: 20/03/2013, 08:32

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w