1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá các hoạt động khuyến nông trên địa bàn Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh

52 541 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Các Hoạt Động Khuyến Nông Trên Địa Bàn Quế Võ - Tỉnh Bắc Ninh
Tác giả Nguyễn Thị Hà
Người hướng dẫn ThS. Cù Hồng Bắc
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Khuyến Nông
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 411,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá các hoạt động khuyến nông trên địa bàn Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh

Trang 1

đại học tháI nguyên trường đại học nông lâm

-nguyễn thị hà

Tên đề tài:

Đánh giá các họat động khuyến nông trên địa bàn

quế võ - tỉnh bắc ninh năm 2007

khóa luận tốt nghiệp đại học

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Khuyến nông

Khoa : Khuyến nông và phát triển nông thôn

Giảng viên hướng dẫn : ThS Cù Hồng Bắc ThS Cù Hồng Bắc

Trang 2

Mở Đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất sớm nhất trong lịch sử phát triển của con người Nó có vị trí hết sức quan trọng vì nó sản xuất ra lương thực, thực phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết thực của con người mà không có ngành nào có thể thay thế được Sản xuất nông nghiệp còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp, cho nhu cầu tiêu dùng

và xuất khẩu Trên thế giới cũng đã có rất nhiều nước dựa vào nông nghiệp để tạo ra lương thực, thực phẩm để nuôi sống dân tộc mình đồng thời tạo nền tảng cơ sở cho các ngành khác và các hoạt động kinh tế phát triển

Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp là chính, với cơ cấu của ngành nông nghiệp chiếm khoảng 20,23%, khoảng 70% dân số sống ở nông thôn, 60% dân số làm nghề nông Trong giai đoạn hiện nay định hướng phát triển của Việt Nam là giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp nhưng vai trò của nó vẫn được đề cao Được sự quan tâm của Đảng, nhà nước, các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể và nhân dân ngành nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Việc áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất, đồng thời lựa chọn cơ cấu cây trồng phù hợp với từng địa phương làm cho năng xuất sản lượng cây trồng tăng lên Việt Nam từ 1 nước hàng năm phải nhập khẩu lương thực

đã vươn lên hàng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu lúa gạo, sản phẩm nông nghiệp Việt Nam đã có mặt trên thế giới như Châu Âu, mỹ

Thành công những bước đầu như trên cũng phải nói đến vai trò tích cực của công tác khuyến nông Khuyến nông với vai trò tích cực của mình ngày càng phát huy và mở rộng khắp các vùng trong cả nước, đồng thời đã được củng cố và từng bước cải tiến phù hợp vời tình hình mới Nghị định 13/CP do chính phủ ban hành ngày 2/3/1993 hướng dẫn về các hoạt động nhằm cải tiến một cách có hiệu quả công tác KN từ trung ương đến địa phương đã và đang

được triển khai trên cả nước

Công tác KN được tổ chức và thực hiện làm tăng tiến độ chuyển giao KHKT tới nông dân, đồng thời đáp ứng nhu cầu của họ một cách nhanh nhất

Trang 3

Ngoài ra, còn tăng cường công tác đào tạo, mở các lớp tập huấn kỹ thuật kết hợp xây dựng mô hình trình diễn để nông dân tham quan và học tập

Tuy nhiên, công tác KN còn tồn tại cần giải quyết kịp thời Để hoạt động

KN đạt hiệu quả cao đòi hỏi phải thường xuyên đổi mới về nhận thức, quan

điểm, lý luận tổ chức chỉ đạo của tất cả các ngành các cấp

Huyện Quế Võ là một huyện phát triển nhanh của tỉnh Bắc Ninh trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp thay đổi nhanh chóng cùng với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá Vì vậy, để đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho toàn huyện thì công tác khuyến nông được tăng cường triển khai nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển bề vững Đội ngũ cán bộ KN từng bước được nâng cao trình độ, năng lực

tổ chức Ngoài việc khuyến cáo nông dân áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất, còn cung cấp thông tin, mở các lớp tập huấn, tư vấn, dịch vụ Vì thế năng xuất cây trồng được tăng lên

Tuy nhiên, công tác khuyến nông ở đây còn tồn tại những khó khăn và thử thách Tổ chức hệ thống KN chưa hoàn chỉnh, kinh phí cho hoạt động còn hạn hẹp ảnh hưởng đến quá trình triển khai thực hiện Thông tin, tuyên truyền, tập huấn còn hạn chế do đó KN được xem như là một cơ quan khuyến cáo nông dân, trợ giúp nông dân, hoặc hiểu đơn thuần là cơ quan chuyển giao KHKT nông nghiệp Do vậy để đánh giá công tác KN huyện Quế Võ trong những năm qua trên cơ sở những kết quả đã đạt được cần chỉ ra những tồn tại

để khác phục đồng thời đưa ra những giải pháp hữu hiệu góp phần củng cố công tác KN trong những năm tới là hết sức cần thiết Xuất phát từ thực tế

trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá các hoạt động KN trên địa

bàn huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh trong năm 2007“

2 Mục đích, mục tiêu, yêu cầu của đề tài và giới hạn của đề tài

2.1 Mục đích

Đánh giá được tình hình các hoạt động KN ở trạm KN huyện Quế Võ

Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh công tác KN đạt kết quả cao

2.2 Mục tiêu

Đánh giá thực trạng các hoạt động KN ở trạm khuyến nông huyện Quế

Trang 4

2.4 Giới hạn của đề tài

Đối t−ợng nghiên cứu:

Hệ thống các cán bộ KN từ cấp huyện đến cơ sở

Các hoạt động KN trong năm 2007

Địa điểm: Huyện Quế Võ

Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 18/2/2008 đến 20/6/2008

Nội dung nghiên cứu:

•Thực trạng công tác KN của huyện Công tác tổ chức

Đội ngũ cán bộ KN

Các hoạt động KN

Tình hình cung cấp và sử dụng vốn cho các hoạt động KN

• Đánh giá về các hoạt động khuyến nông

Đánh giá của cán bộ KN và nông dân về hoạt động đào tạo tập huấn Đánh giá của cán bộ KN và nông dân về hoạt động xây dựng mô hình trình diễn

Đánh giá của cán bộ KN và nông dân về hoạt động thông tin tuyên truyền Đánh giá của cán bộ KN và nông dân về hoạt động t− vấn và dịch vụ

• Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhăm đóng góp cho sự phát triển của công tác KN trên địa bàn huyện

Trang 5

Phần 2

Tổng quan tài liệu

1 Những kiến thức lý luận cơ bản về khuyến nông

1.1 Khái niệm về KN

Thuật ngữ “Extension” có nguồn gốc ở Anh năm 1866 ở một số trường

Đại học như Cambridge và Oxford đã sử dụng thuật ngữ “ Extension” nhằm mục tiêu mở rộng giáo dục đến với người dân, do vậy “ Extension” được hiểu với nghĩa là triển khai, mở rộng phổ biến, làm lan truyền… Nếu khi ghép lại với từ “Agriculture” thành “Agriculture Extension” thì dịch là “ Khuyến nông”

Theo nghĩa Hán- văn: “ Khuyến” có nghĩa là khuyến khích – khuyên bảo – triền khai, còn “Nông” là nông- lâm- ngư nghiệp, nông dân, nông thôn

“KN” nghĩa là khuyên mở mang phát triển trong nông nghiệp

Do vậy “KN” được tổ chức bằng nhiều cách khác nhau và phục vụ nhiều mục đích có quy mô khác nhau, vì vậy KN là thuật ngữ khó định nghĩa được một cách chính xác, nó thay đổi tuỳ theo lợi ích mà nó mang lại

“Khuyến nông khuyến lâm được xem như một tiến trình của sự hoà nhập các kiến thức KHKT hiện đại Các quan điểm, kỹ năng để quyết định cái gì cần làm, cách thức làm trên cơ sở cộng đồng địa phương sử dụng các nguồn tài nguyên tại chỗ với sự hỗ trợ giúp đỡ từ bên ngoài để có khả năng vượt qua các trở ngại gặp phải”.(Theo tổ chức Fao, 1987)

“Khuyến nông khuyến lâm là sự giao tiếp thông tin tỉnh táo nhằm giúp nông dân hình thành các ý kiến hợp lý và tạo ra các quyết định đúng đắn.” (A.W.Vandenban và H.S Hawkins, 1988)

“Khuyến nông khuyến lâm là làm việc với nông dân, lắng nghe nhiều khó khăn, các nhu cầu và giúp họ tự quyết định giải quyết lấy vấn đề chính của họ”.(Malla, 1989)

Qua rất nhiều khái niệm chúng ta có thể tóm tắt lại và có thể hiểu KN theo 2 nghĩa:

- KN hiểu theo nghĩa rộng: KN là khái niệm chung để chỉ tất cả những

Trang 6

- KN hiểu theo nghĩa hẹp: KN là một tiến trình giáo dục không chính thức mà đối tượng của nó là người nông dân Tiến trình này đem đến cho người nông dân những thông tin và những lời khuyên nhằm giúp họ giải quyết những vấn đề hoặc những khó khăn trong cuộc sống KN hỗ trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác để không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân và gia đình họ

1.2 Nhiệm vụ của công tác KN

- Chuyển giao TBKT thông qua các chương trình dự án, nhằm trang bị kiến thức, kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm quản lý cho người nông dân

- Cung cấp những thông tin về KHKT, cơ chế chính sách, thị trường có liên quan đến sản xuất cho người dân, giúp nông dân lựa chọn phương pháp và biện pháp sản xuất thích hợp đem lại hiệu quả cao

- Xây dựng mô hình trình diễn, hướng dẫn khuyến cáo kỹ thuật cho nông dân

- Tạo lòng tin để nông dân mạnh dạn áp dụng những tiến bộ KHKT, công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh có hiệu quả

- Tổ chức các buổi hội thảo, tham qua thu thập tổng kết kinh nghiệm và

ý kiến đánh giá nguyện vọng của bà con nông dân đối với các điển hình kinh

tế tiên tiến cũng như cơ chế chính sách đang áp dụng để phản ánh với các cơ quan có liên quan cải tiến và hoàn thiện

- Xây dựng mạng lưới KN cơ sở, bồi dưỡng nghiệp vụ, tập huấn kỹ thuật, thành lập các câu lạc bộ KN, nhóm hộ nông dân cùng sở thích, cung cấp cho nông dân những thông tin thị trường nông, lâm, thuỷ sản

- Quan hệ với các tổ chức trong và ngoài nước để thu hút nguồn vốn hoặc tham gia trực tiếp vào các hoạt động KN tại địa phương

1.3 Chức năng của KN

- Đào tạo, tập huấn nông dân: tổ chức các khoá tập huấn, xây dựng mô hình, tham quan, hội thảo đầu bờ cho nông dân

- Thúc đẩy tạo điều kiện cho nông dân đề xuất các ý tưởng, sáng kiến

và thực hiện thành công các ý tưởng, sáng kiến của họ

- Trao đổi truyền bá thông tin: bao gồm việc xử lý, lựa chọn các thông tin cấn thiết, phù hợp từ các nguồn khác nhau để phổ biến cho nông dân giúp

họ cùng nhau chia sẻ và học tập

- Giúp nông dân giải quyết các vấn đề khó khăn tại địa phương

Trang 7

- Giám sát, đánh giá hoạt động KN: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng lợi

- Phối hợp với nông dân tổ chức các thử nghiệm phát triển kỹ thuật mới hoặc thử nghiệm kiểm tra tính phù hợp của kết quả nghiên cứu trên hiện trường, từ đó làm cơ sở cho việc khuyến khích lan rộng

- Hỗ trợ nông dân về kinh nghiệm quản lý kinh tế hộ gia đình, phát triển sản xuất quy mô trang trại

- Tìm kiếm và cung cấp cho nông dân các thông tin về giá cả thị trường tiêu thụ sản phẩm

áp đặt, cán bộ KN cần cung cấp thông tin, trao đổi thảo luận với nông dân

- Khuyến nông phải được thực hiện với tinh thần trách nhiệm cao: một mặt, KN chịu trách nhiệm trước nhà nước mặt khác KN có trách nhiệm đáp ứng những nhu cầu của nông dân

- KN là nhịp cầu cho thông tin hai chiều

- KN phải phối hợp với những tổ chức phát triển nông thôn khác

- KN làm việc với các đối tượng khác nhau

1.5 Nội dung hoạt động KN

1.5.1 Thông tin, tuyên truyền

-Tuyên truyền chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước, tiến bộ KHKT và công nghệ, thông tin thị trường giá cả Phổ biến điển hình tiên tiến trong sản xuất, quản lý, kinh doanh, phát triển nông nghiệp, thuỷ sản

- Xuất bản, hướng dẫn và cung cấp thông tin đến người sản xuất bằng các phương tiện thông tin đại chúng, hội nghị, hội thảo, hội chợ triển lãm và các hình thức thông tin tuyên truyền khác

1.5.2 Bồi dưỡng tập huấn đào tạo

- Bồi dưỡng tập huấn và truyền nghề cho người sản xuất để nâng cao kiến

Trang 8

- Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho hoạt động KN

- Tổ chức tham quan khảo sát học tập trong và ngoài nước

1.5.3 Xây dựng mô hình và chuyển giao công nghệ

- Xây dựng mô hình trình diễn về các tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với từng địa phương, nhu cầu của người sản xuất

- Chuyển giao kết quả khoa học công nghệ từ các mô hình trình diễn ra diện rộng

1.5.4 Tư vấn và dịch vụ

- Tư vấn hỗ trợ trong phát triển sản xuất

- Dịch vụ trong các lĩnh vực: tập huấn đào tạo, cung cấp thông tin, chuyển giao khoa học công nghệ……

1.5.5 ý nghĩa của công tác KN

- KN là cầu nôi giữa nông dân với nhà nước, viện nghiên cứu, thị trường, nông dân sản xuất giỏi, các doanh nghiệp, các đoàn thể, các ngành có liên quan và quốc tế

- KN góp phần giúp hộ nông dân xoá đói giảm nghèo, tiến lên khá giả

Trang 9

Qua báo cáo các hội nghị KN toàn thế giới FAO Rome 1990 thấy rằng: Các nước phát triển ở Châu Âu ( đặc biệt ở Anh) từ năm 1600 – 1700

đã có nhiều tài liệu hướng dẫn về các chương trình giảng dạy, làm thực hành trong việc trồng cấy, chăn nuôi, xe tơ, dệt vải…

Tiền thân tổ chức KN ở châu âu và Bắc Mỹ là hội nông nghiệp được tổ ở Scotlen và một số nước khác năm 1723 “ Hội những người cải tiến kiến thức trong nông nghiệp”.Hội triết học Mỹ được thành lập năm 1744 dưới sự lãnh đạo của Beu jamin Fraklin đã in nhiều bài báo về chủ đề nông nghiệp Hội nông nghiệp đầu tiên ở Đức đã được thiết lập năm 1764

Những hội này được thanh lập tạo điều kiện cho hội viên làm quen với cải tiến nông nghiệp, thiết lập những tổ chức nông nghiệp địa phương, phổ biến những thông tin nông nghiệp qua các ấn phẩm; bài báo hoặc bài giảng của họ

Tại mỹ năm 1845 tại Ohio,N.S.Townhned chủ nhiệm khoa nông học đề xuất việc tổ chức những câu lạc bộ nông dân tại các quận huyện và sinh hoạt

định kỳ Đây là tiền thân của KN tại Mỹ:

-Năm 1891 Bang New York dành 10.000 đôla cho KN đại học

- Năm 1892 trường Đại học chicago, trường Wicosin bắt đầu tổ chức chương trình KN Đại học

- Năm 1910 có trường Đại học đã co bộ môn KN

Tại Pháp, ở thế kỷ 15-16: Một số công trình khoa học nông nghiệp ra

đời như ngôi nhà nông thôn của Enstienne và liebault nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp nông thôn và khoa học nông nghiệp Thế kỷ thứ 18 cuộc cách mạng nông nghiệp lần thứ I, các hiệp hội nông dân tổ chức khai hoang tăng vụ hay để đất nghỉ không trông trọt vài vụ bằng đồng cỏ tự nhiên Sau chiến tranh thế giới thứ II, công tác khuyến nông phát triển mạnh, những trung tâm nghiên cứu kỹ thuật nông nghiệp do nông dân tổ chức thuê kỹ sư hoạt động theo nguyên tắc: Trách nhiệm của nông dân, sáng kiến từ cơ sở và tấm quan trọng của nhóm, công tác KN không áp đặt từ trên xuống mà là người nông dân tiếp thu kỹ thuật, sáng tạo để truyền bá và phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn một cách hài hoà với cuộc sống ( Trân văn Hà, 1997)

Hoạt động KN ở các nước Mỹlatinh và Caribe được tổ chức từ những năm 1950 – 1960

Trang 10

Tại Châu Phi có muộn hơn, vào những năm 1960 – 1970 nhà nước tổ chức KN thuộc bộ nông nghiệp Các chính phủ thực dân kiểu mới đỡ đầu nghiên cứu vào hoạt động KN để thu mua được nông sản thô như cà phê, ka cao, chè,… Họ ít chú ý đến hoạt động KN phục vụ các cây lương thực

ở Đài Loan, công tác KN lấy nông dân và trang trại gia đình làm đối tượng chính, KN áp dụng 6 nguyên tắc: Giáo dục tình hợp tác – tính tuần tự “

từ dưới lên” – tính tổng hợp – cộng đồng đài thọ kinh phí - áp dụng phương pháp trình diễn ( Trân văn Hà, 1997)

ở các nước Đông Nam á, tổ chức hội nghị KN lần thứ I tại Philipin năm 1955 đã xác định KN phải có tính giáo dục Ngay sau đó, ở Inđônêxia tổ chức KN khá chặt chẽ có hệ thống từ trung ương đến làng xã Tại Thái Lan, nhờ có hoạt động KN tới đã thúc đẩy nông nghiệp phát triển chiếm vị trí thế giới

Tại ấn Độ tổ chức KN thành lập từ năm 1960 theo 5 cấp: Quốc gia – Vùng bang – Tỉnh – Huyện – Liên xã.ấn độ đã đạt được thành quả lớn lao trong nông nghiệp, thực hiện cách mạng “ xanh”, cách mạng “ Trắng” thành công

Các nước Nhật Bản, Trung Quốc đã có hệ thống KN đến cơ sở và phương pháp hoạt động thực tế

2.2 Hoạt động KN ở Việt Nam

KN được hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp Cùng với sự phát triển trên thế giới KN Việt Nam hình thành và phát triển tương đối sớm

Các vua Hùng cách đây 2000 năm đã trực tiếp dạy dân làm nông nghiệp: Gieo hạt, cấy lúa, mở cuộc thi để các hoàng tử, công chúa có cơ hội trổ tài, chế biến các món ăn độc đáo bằng nông sản tại chỗ Công chúa Thiều Hoa là người đầu tiên dạy dân chăn tằm dệt lụa

Để tỏ rõ sự quan tâm tới nông nghiệp, từ thời Lê Đại Hành hàng năm

đều tổ chức lễ cày ruộng, vua trực tiếp cày luống cày luống cày đầu tiên cho mỗi vụ sản xuất

Các vua lý (1009 - 1056) rất coi trọng nghề nông và đã đưa ra nhiều chính sách chăm lo phát triển nông nghiệp, nhiều lần vua cày ruộng tịch điền

và thăm nông dân gặt hái

Trang 11

Năm 1226 nhà Trần đã lập ra chức quan Hà Đề Sứ, Đồn Điền Sứ và KN

để chăm lo khuyến khích phát triển nông nghiệp

Triều vua Lê Thái Tông (1492), Triều đình đặt chức Hà Đê Sứ và KN

Sứ đến cấp phủ huyện và từ năm 1942 mỗi xã có một xã trưởng phụ trách nông nghiệp và đê điều Triều đình ban bố chiếu KN, chiếu lập đồn điền, và lần đầu tiên sử dụng từ “KN” trong bộ luật Hồng Đức

Thời vua Quang Trung (1788 - 1792), từ năm 1789 sau khi thắng giặc ngoại xâm, Quang Trung ban bố ngay “ chiếu KN” nhằm phục hồi dân phiêu tán, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang sau 3 năm, những đất đai hoang hoá đã

được phục hồi, sản xuất phát triển

Thời kỳ Pháp thuộc (1844 - 1945): Thực dân Pháp thực hiện chính sách lập các đồn điền thuộc quyền chiếm hữu của bọn thực dân, các quan lại, địa chủ, cường hào Hàng vạn người Việt Nam bị ép làm phu, lính tráng trong các

đồn điền đó, đời sống của họ vô cùng cực khổ như nô lệ xưa, bọn chủ dồn

điền như ông vua bà chúa, chúng có quyền bắt dân nhịn đói, bỏ tù và giết người Thời kỳ này Việt Nam nhập một số cây trồng mới như: Cà phê (1857), cao su(1897), khoai tây rau ôn đới……và cũng trong giai đoạn này Việt Nam

đã xuất khẩu được một số nông sản như gạo 967.000 tấn (năm1919), xuất cảng 70417 tấn nhựa cao su (1920 – 1929) Điều đó cũng nói lên rằng phát triển nông nghiệp và KN thời kỳ này chủ yếu phục vụ cho chính sách thuộc

địa phong kiến của thực dân Pháp Người Pháp tổ chức các sở canh nông ở Bắc Kỳ, các ty KN ở các tỉnh Hàng năm tổ chức thi đấu xảo các sản phẩm nông nghiệp quý năm 1 lần như thi các giống bò sữa, giồng ngựa tốt

Năm 1938 thành lập trường đào tạo kỹ sư canh nông để đào tạo các kỹ sư ngành nông nghiệp

Từ sau cách mạng tháng 8/1945 – 1958 Chủ Tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới nông nghiệp, người dân kêu gọi quốc dân tăng “ tăng gia sản xuất! Tăng gia sản ngay, tăng gia sản xuất nữa! đó là những việc cấp bách của chúng ta lúc này” Nghe theo lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, toàn dân bắt tay vào khôi phục kinh tế, phát triển sản xuất Vụ rau mầu đông xuân đã thắng lợi rực rỡ: Sản lượng ngô tăng gấp 4 lần, khoai lang tăng gấp 5 lần, tổng hoa mầu quy thóc bình quân hàng năm 133.100 tấn đến mùa xuân 1946 đã đạt 505.000 tấn, tăng gấp 4 lần

Trang 12

Từ năm 1958 – 1975 : nông nghiệp miền bắc Việt Nam phát triển trong sự tác động trực tiếp của mô hình hợp tác xã nông nghiệp Từ tổ đổi công (1956), đến hợp tác xã bậc thấp (1960), đến hợp tác xã cấp cao (1968),

đến hợp tác xã năm 1974

phương pháp hoạt động KN chủ yếu là: Cán bộ truyền thông đạt chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước hay TBKT thông qua ban quản trị hợp tác xã rồi từ đó đến người nông dân Thành lập các đoàn cán bộ nông nghiệp

ở trung ương, cấp tỉnh, huyện về chỉ đạo sản xuất ở cấp cơ sở

Về thành tích đạt được: Lúa chiêm đã thay thế bằng lúa xuân, năng suất cao ngắn ngày Thái bình là tỉnh đầu tiên đạt 5 tấn thóc/ha trên đất cấy 2 vụ lúa

Về chăn nuôi có phong trào nuôi lợn hai máu: Móng cái x Yoosai, bò lai Sind, nuôi, gà công nghiệp…

Điểm qua một vài nét về hoạt động KN xa xưa, ta có thể thấy được thành tựu đáng kể của công tác KN trong sự nghiệp phát triển nền nông nghiệp nước nhà Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ trong thời gian dài, nền nông nghiệp Việt Nam từng trong tình trạng trì trệ, không phát triển được Đời sống của người dân đặc biệt là nông dân hết sức khó khăn Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, hoạt động KN thực sự trở thành yêu cầu cấp thiết để thúc đẩy nền nông nghiệp nước nhà có những chuyển biến mới.Trên tinh thần đó ngày 2/3/1993 chính phủ ra nghị định 13/cp về công tác KN Bắt đầu hình thành hệ thống KN từ trung ương đến địa phương Kết quả đạt được của nền nông nghiệp từ sau khi có đường lối đổi mới là rất rõ nét, nói riêng về sản xuất lương thực: diện tích, năng suất, sản lượng tăng đều qua các năm Nếu như trước năm 1988 trở về trước, Việt Nam

là một nước thiếu lượng thực trầm trọng hàng năm phải nhận viện trợ hoặc nhập khẩu gạo, thì đến năm 1989 đã xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, năm 1990 : 1,6 triệu tấn, 1992: 1,9 triệu tấn, năm 1994: 2 triệu tấn và từ những năm 1996 – 2003 là trên 3 triệu tấn mỗi năm

Năm 1993: Cục khuyến nông khuyến lâm được thành lập: vừa quản lý nhà nước vừa làm KN

Năm 2001: Trung tâm KN trung ương ra đời ( trực thuộc cục KN) Năm 2003: Trung tâm KN quốc gia được thành lập

Trang 13

Từ khi thành lập đến nay tổ chức hệ thống KN đã không ngừng đổi mới

và mở rộng quy mô hoạt động, đem lại hiệu quả cao Nhiều chương trình cấp quốc gia đã đi vào thực hiện và phát huy tác dụng Sự kết hợp giữa hai hình thức KN nhà nước và KN tự nguyện đã thúc đẩy quá trình chuyển giao diễn ra nhanh chóng

Theo TS.Tống Khiêm – giám đốc trung tâm KN quốc gia cho biết: Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền và đào tạo tập huấn huyện là 1 trong những xu thế của KN hiện đại mà nhiều quốc gia trên thế giới đang áp dụng Trong hoàn cảnh của Việt Nam, khi trình độ và điều kiện sản xuất ở nhiều vùng, miền khác nhau có sự khác biệt thì cùng với việc tiếp tục thực hiện hình thức xây dựng mô hình trình diễn công tác KN sẽ được đổi mới theo hướng từng bước tăng cường đầu tư cho hoạt động thông tin và đào tạo, xây dựng mô hình KN tổng hợp theo nhu cầu thị trường trong đó gắn kết giữa mô hình trình diễn với đào tạo tập huấn, thông tin tuyên truyền và định hướng đầu

ra cho sản phẩm

Theo hướng này năm 2006, hoạt động KN đã có nhiểu thay đổi mới như triển khai một số hoạt động KN theo dự án, các chương trình KN trọng

điểm; giảm dần đầu mối đơn vị tham gia hoạt động KN… Đây cũng là năm

đầu tiên thực hiện công tác KN theo thông tư “ hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt động KN, khuyến ngư” Tuy nhiên, chuyển biến đáng kể nhất là việc từng bước thay đổi cơ cấu phân bổ kinh phí KN theo hướng tăng cường kinh phí cho các hoạt động đào tạo huấn luyện và thông tin tuyên truyền Riêng trong năm 2007, công tác thông tin tuyên truyền và đào tạo tập huấn KN đầu tư 17 tỷ đồng

Trung tâm KN quốc gia còn phối hợp với các trường, các viện nghiên cứu, các dự án biên soạn tài liệu về phương pháp, nghiệp vụ KN; phương pháp

tổ chức lớp học tại hiện trường và tài liệu tập huấn chuyên ngành chăn nuôi, trồng trọt,… Bên cạnh đó, các hoạt động xúc tiến thương mại, đưa sản phẩm gắn liền với thị trường cũng sẽ được trung tâm tăng cường thông qua các hoạt

động hội chợ, hội thi nông nghiệp…

Trang 14

2.3 Hoạt động khuyến nông ở huyện Quế Võ

Tram KN Quế Võ được thành lập vào năm 2003, dưới sức ép của nhu cầu lương thực, thực phẩm của người dân ngày càng tăng, diện tích sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp và cần phải có đơn vị trực tiếp chăm lo đến sản xuất nông nghiệp Trạm hoạt động dưới sự chỉ đạo của uỷ ban nhân dân huyện và trung tâm KN tỉnh đã ngày càng khẳng định được vai trò của mình

Các hoạt động KN không ngừng được mở rộng, từ khâu cung cấp giồng, chỉ đạo sản xuất, tích cực theo dõi sâu bệnh, dịch bệnh, cung cấp thông tin… để đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp ngày càng được ổn định và bền vững

Năm 2007 KN đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, nhiều hoạt động

KN được bà con nông dân thì ngày càng có lòng tin nơi cán bộ KN, trạm KN,

điều đó càng khẳng định vai trò và vị trí của KN trong chiến lược phát triển nông nghiệp của huyện

2.4 Những bài học kinh nghiệm và tồn tại

2.4.1 Những bài học kinh nghiệm

Hiệu quả chương trình KN chỉ đạt kết quả cao, được duy trì và mở rộng khi có người dân tham gia Việc hoạt động KN không chỉ riêng xây dựng mô hình trình diễn mà phải là hoạt động tổng hợp của công tác KN xây dựng mô hình trình diễn, huấn luyện đào tạo, tham quan, hội thảo, thông tin……

Tiến bộ khoa học công nghệ mới thiết thực, đáp ứng yêu cầu của người sản xuất, công nghệ chuyển giao đơn giản, dễ áp dụng, phù hợp với từng vùng sinh thái, từng cơ sở sản xuất và hình thức tổ chức phù hợp

Phải xây dựng hoàn thiện tổ chức KN

Tranh thủ được sự chỉ đạo, lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, đây là nguyên nhân của mọi thành công trong các hoạt động KN

2.4.2 Những tồn tại và hạn chế

Hệ thống KN cơ sở còn yếu kém: hiện nay còn khoảng gần 20% số huyện chưa có trạm KN và khoảng gần 30% số xã chưa có cán bộ KN cơ sở Cách quản lý chưa thống nhất,năng lực cán bộ KN còn bất cập, nhất là cán bộ

KN cơ sở, vì không những họ cần có sự hiểu biết về mặt kỹ thuật mà còn cần

có sự hiểu biết sâu rộng về kinh tế xã hội Hoạt động KN vùng sâu vùng xa còn nhiều hạn chế, nhiều nơi chưa có cơ hội tiếp cận với KN

Trang 15

Nội dung hoạt động KN còn hạn hẹp, mới tập trung vào lĩnh vực chuyển giao TBKT đơn lẻ trong sản xuất nông nghiệp phương pháp hoạt động

KN và các hình thức hoạt động KN chưa được đa dạng

Cơ chế chính sách khuyến khích cán bộ làm công tác KN, các nhà khoa học tham gia hoạt động KN chưa đủ sức hấp dẫn để những nhà khoa học gắn

bó với hoạt động KN

Trang 16

- Phía tây giáp với huyện Tiên Du và thành phố Bắc Ninh

- Phía năm của huyện là sông Đuống, qua sông là các huyện Thuận Thành và Gia Bình

- Phía Bắc của huyện là sông Cỗu, qua huyện bên kia sông là các huyện Việt Yên và Yên Dũng của tỉnh Bắc Giang

- Phía đông giáp với huyện Chí Linh thuộc tỉnh Hải Dương

Huyện Quế Võ nằm ở cửa ngõ phía bắc của thủ đô Hà Nội với diện tích

đất tự nhiên rộng 174,74 km2, được bao bọc bởi 3 con sông đã tạo cho huyện Quế Võ những lợi thế phát triển nông nghiệp

1.2 Thời tiết khí hậu

Là huyện có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình năm là 23,30c, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 28,9oc (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,8oc (tháng 1), sự chênh lệch nhiệt

độ giữa các tháng cao nhất và thấp nhất là 13,1oc, tạo nên sự đa dạng về khí hậu Đây vừa là thuận lợi cũng vừa là khó khăn khi tiến hành sản xuất

Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng 1400 – 1500mm nhưng phân bố không đều trong năm Mưa chủ yếu tập trung từ tháng 5 – tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 10- tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm Điều này đòi

Trang 17

hỏi địa phương phải lựa chon cây trồng hợp lý, chủ động tưới tiêu nhất là trong mùa khô

Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1530 – 1776h trong đó tháng

có nhiều giờ nắng trong năm là tháng 7, tháng có ít giờ nắng trong năm là tháng 1

Hàng năm có 2 mùa gió chính: Gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, gió mùa Đông Nam thịnh hành từ tháng 4 – tháng 9 mang theo hơi ẩm gây mưa rào

Tóm lại: thời tiết khí hậu có nhiều thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng

đến sản xuất nông nghiệp Vì vậy cần nắm vững điều kiện thuận lợi và hạn chế sự ảnh hưởng của thiên nhiên đối với sản xuất nông nghiệp là đặc biệt quan trọng cho công tác KN của huyện

1.3 Đất đai địa hình

Địa hình cơ bản của huyện Quế Võ là đồng bằng, có một số đồi xót, huyện có 1 diện tích nhỏ rừng trồng

Trong sản xuất nông nghịêp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được, nó còn là 1 phần quan trọng của môi trường sống, quyết

định đến đời sống của con người, đặc biệt đất đai nó khác với tư liệu sản xuất khác ở chỗ nếu sử dụng hợp lý thì nó không những không bị hao mòn mà ngược lại độ mầu mỡ của đất đai không ngừng tăng lên Do vậy việc sử dụng đất

đai hợp lý và lâu bền đang được các quốc gia quan tâm giải quyết Để thấy rõ cơ cấu và tình hình sử dụng đất đai của huyện Quế Võ ta nghiên cứu bảng sau:

Trang 18

Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Quế Võ qua 3 năm (2005 - 2007)

DT (ha)

CC (%)

DT (ha)

CC (%) 06/05 07/06

Tổng diện tích đất tự nhiên 17074 100 17074 100 14905,55 100 100 87,3

I Đất nông nghiệp 12838,9 75,19 11623,83 68,08 10990,01 73,73 90,54 - 1.Đất trồng cây hàng năm 11966,57 93,2 10689,19 91,96 10068,61 91,6 99,33 -

2 Đất trồng cây lâu năm 22,33 0,17 24,34 0,21 21,2 0,19 109 - 3.Diện tích mặt nước

nuôi trồng thuỷ sản 850 6,63 910,3 7,83 900,2 8,21 107,09 -

II Đất lâm nghiệp 146,16 0,86 146,16 0,86 96,16 0,65 100 - III.Đất chuyên dùng 2182,32 12,78 3242,16 18,99 2144,86 14,39 148,56 -

IV Đất thổ cư 1730,89 10,14 1886,16 11,05 1534,3 10,29 108,97

V Đất chưa sử dụng 175,73 1,03 175,70 1,02 140,22 0,94 99,98 -

(Nguồn: phòng tài nguyên môi trường huyện Quế Võ)

Qua bảng ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của huyện năm 2005 và năm 2006 là không thay đổi nhưng đến năm 2007 thì tổng diện tích đất tự nhiên lại thay đổi do huyện bị cắt 3 xã về thành phố

Huyện Quế Võ là huyện nông nghiệp nên diện tích đất tự nhiên nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ rất lớn với 12838,9ha (năm2005) chiếm 75,19% so với tổng diện tích đất tự nhiên năm 2006 giảm xuống 11623,83ha chiếm khoảng 68,08% và năm 2007 chiếm 73,73% Nguyên nhân làm cho đất nông nghiệp giảm 9,46% năm 2006 so với năm 2005 là do sử dụng đất cho xây dựng khu công nghiệp cũng như một số công trình công nghiệp khác

Huyện đang có xu hướng trở thành huyện công nghiệp vì thế mà đất chuyên dùng, đất thổ cư qua các năm dần chiếm lệ lớn trong tổng diện tích đất

tự nhiên Mặc dù giảm diện tích đất nông nghiệp nhưng do tiến hành đầu tư thâm canh, áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất thông qua các hoạt động của

tổ chức KN để làm sao vẫn cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho người dân

và xuất khẩu

Trang 19

Với đặc điểm đất đai địa hình của huyện nên phần lớn là trồng cây hàng năm,năm 2005 chiếm 93,2%, năm 2006 chiếm 91,96% và năm 2007 chiếm 91,6% tổng diện tích đất nông nghiệp Diện tích đất trồng cây lâu năm và nuôi trồng thuỷ sản có tăng nhưng không đáng kể vì đó không phải là thế mạnh của huyện

Đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ nhất với 416,16ha năm 2005 chiếm 0,86% tổng diện tích đất tự nhiên, năm 2006 thì diện tích không thay đổi và

Dân số huyện Quế Võ là 14.022 nhân khẩu, trong đó có 94,763 nhân khẩu làm nông nghiệp chiếm 67,7% Số lao động làm nghề nông là 55546 lao

động chiếm 66,1% so với tổng lao động của toàn huyện, xu thế của huyện là giảm dần lao động nông nghiệp (diện tích đất nông nghiệp ngày 1 thu hẹp do

sử dụng xây dựng khu công nghiệp, đường giao thông, khu dân cư )

Sức ép về tăng dân số và xu hướng giảm diện tích đất nông nghiệp do tốc độ đô thị hoá đã là 1 thách thức với sự phát triển nông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung của toàn huyện Để thấy được tình hình nhân khẩu – lao động của huyện ta nghiên cứu bảng sau:

Bảng 4.2 Tình hình nhân khẩu – lao động của huyện Quế Võ qua 2 năm (2006- 2007)

1.Tổng nhân khẩu Người 124.036 140.022 112,89 -Nhân khẩu nông nghiệp Người 92.259 94.763 102,71

3.Tổng lao động Người 73.902 84.013 113,68 -Lao động nông nghiệp Người 55.694 55.546 99,7

Trang 20

Qua bảng 4.2 ta thấy qua 2 năm tổng số lao động tăng khá nhanh tăng 12.89% nhưng số hộ làm nông nghiệp và số lao động nông nghiệp thì giảm xuống Một thách thức hay vấn đề khó khăn cho sản xuất nông nghiệp cần phải áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất

*Điều kiện cơ sở hạ tầng

Huyện đã tập trung đầu tư tăng cường kết cấu hạ tầng tạo tiền đề để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hoá Huyện đã vận dụng phương thức nhà nước

và nhân dân cùng làm, đồng thời tranh thủ mọi nguồn lực đầu tư từ bên ngoài

- Điều kiện về giao thông: Để phát triển sản xuất, phát triển kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn thì cần phải có một hệ thống giao thông hoạt

động tốt Huyện Quế Võ cũng đã và đang tập trung hoàn thiện hệ thống giao thông trên địa bàn huyện Các quốc lộ thì đã và đang được cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới theo kế hoạch Được sự giúp đỡ của trung ương và đầu tư của

địa phương, đến nay đường giao thông nông thôn hầu như là bê tông hoá góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt và phát triển kinh tế nông thôn

- Hệ thống thông tin liên lạc

Thông tin liên lạc tiếp tục được hiện đại hoá, số máy điện thoại tăng nhanh (số máy điện thoại cố định: năm 2005 là 6.913 chiếc, năm2006 là9.402 chiếc và năm 2007 là 11.596 chiếc), thông tin mạng phát triển và 100% các xã

có điểm bưu điện văn hóa Hệ thống truyền thanh của huyện thông suốt các xã, vì vậy phần nào giúp cho nông dân nắm được các thông tin về chủ trương,

đường lối của Đảng và nhà nước, đồng thời nắm bắt được kịp thời thông tin

về khí hậu thời tiết cũng như những tiến bộ về khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất

- Hệ thống giáo dục – y tế: Toàn huyện có 84 trương mầm non, 21 trường tiểu học và 22 trường trung học và có 4 trường cấp 3 Các trường học hầu như là có điều kiện tốt để phục vụ cho việc dạy và học.Hệ thống y tế: toàn huyện đã có 100% xã có trạm y tế và hệ thống y tế đã được củng cố nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân đồng thời chăm sóc sức khoẻ ban

đầu cũng đã được thực hiện tốt

- Điều kiện thuỷ lợi: Hệ thồng đê điều, công trình thuỷ lợi được đầu tư xây dựng nâng cấp, đảm bảo tốt cho sản xuất trong việc cấp thoát nước

Trang 21

*Điều kiện kinh tế của huyện

Những năm gần đây do phát huy được tiềm năng, lợi thế cùng với sự nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân, Quế Võ có tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân

đạt 15,4%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, tỷ trọng ngành ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – xây dựng cơ bản tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn là 57,6%, thương mại và dịch vụ chiếm 20.4, nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 22% Các lĩnh vực vă hoá - xã hội có chuyển biến tích cực, đời sống nhân dân ổn định và nâng cao 1 bước, an ninh quốc phòng được đảm bảo

Nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu ngành kinh tế của huyện, nó có vị trí quan trọng trong cơ cấu nông sản phẩm trực tiếp và chất lượng cho nhu cầu của toàn huyện Mặc dù diện tích đất nông nghiệp có giảm nhưng sản lượng nhiều loại cây trồng vẫn tăng lên, điều này chứng tỏ rằng sản xuất nông nghiệp phát triển với nhịp độ khá Kết quả thể hiện qua bảng sau:

Bảng 4.3 Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây trồng chính

NS (tạ/ha)

SL (tấn)

DT (ha)

NS (tạ/ha)

SL (tấn)

DT (ha)

NS (tạ/ha)

SL (tấn)

I.Cây lương thực 15676 190 95336 15695 179,4 91293 14458 183,8 86518,3 1.Lúa 14865 56,9 84540 15056 55,4 83368 14388 59,3 85024 2.Khoai lang 811 133,1 10796 639 124 7925 120 124,5 1494 II.Cây công nghiệp 602 29,3 8546 558,5 32,3 875,4 471 31,4 732 1.Lạc 490 13,9 681,6 427,5 15,2 651,4 360 15,4 554,4 2.Đậu tương 112 15,4 173 131 17,1 224 111 16 177,6 III Cây thực phẩm 3113 189,8 55958 2616 158 41314 3515 186 37311,5 1.Rau các loại 3054 179,8 55899 2550 161,8 41248 2122 175,5 37241,3 -Khoai tây 1577 138 29925 1289 136,8 12643 1393 148 21438 2.Đậu các loại 59 10 59 66 10,2 67 67 10,5 70,2

(Nguồn thống kê huyện Quế Võ)

Trang 22

Qua bảng 4.3 ta thấy kết quả DT, NS, SL về một số cây trồng chính hầu như là giảm qua các năm Trước hết nói về cây lúa DT trồng lúa năm 2006 tăng so với năm 2005 nhưng không đáng kể, nhưng đến năm 2007 thì DT so với các năm là giảm nhưng NS, SL thì tăng lên Đây là một nỗ lực của cán bộ

KN, các cấp các ngành khác Uỷ ban nhân dân huyện đã cùng với cán bộ khuyến nông chủ trương đưa các giống lúa lai năng suất cao vào có chính sách

hỗ trợ giá giống Bên cạnh đưa giống mới vào thì công tác chỉ đạo sản xuất và

áp dụng biện pháp phòng trừ sâu bệnh của cán bộ KN đã kịp thời

Ngoài cây lúa thì cây mầu, cùng cây thực phẩm, cây công nghiệp mặc

dù sản lượng thấp hơn qua các năm do DT bị thu hẹp lại nhưng về NS thì không thấp hơn so với các năm

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp của huyện thì chăn nuôi cũng chiếm 1

tỷ trọng khá lớn trong tổ giá trị Những năm qua nhờ vào đường lối đổi mới

đổi mới của Đảng và nhà nước, sự quan tâm của các cấp, các ngành và đặc biệt là công tác KN chăn nuôi của huyện đã không ngừng tăng trưởng và đạt kết quả khả quan góp phần vào việc nâng cao thu nhập Kết quả đạt được thể hiện qua bảng 4.4

Bảng 4.4.Tình hình chăn nuôi của huyện qua 3 năm (2005 - 2007)

So sánh Năm

III.Sản lượng thịt hơi xuất chuồng

(Nguồn: phòng thống kê huyện Quế Võ)

Trang 23

Qua bảng ta thấy: Tổng đàn gia súc năm 2005 tăng so với năm 2006 là 5,13% nhưng đến năm 2007 so với năm 2006 lại giảm 14,81%

Mặc dù tổng đàn gia súc giảm nhưng sản lượng thịt hơi xuất chuồng thì không giảm, chính vì vậy mà tổng giá trị của ngành chăn nuôi vấn tăng đóng góp vào phát triển GDP cho sản xuất nông nghiệp

Qua nghiên cứu ta thấy rằng kinh tế – xã hội huyện Quế Võ qua 3 năm (2005 - 2007) đã có nhiều biến đổi đáng kể, tuy nhiên còn nhiều hạn chế

là diện tích đất nông nghiệp giảm Nhưng nông nghiệp Quế Võ về cơ bản đã chuyển sang sản xuất hàng hoá, đời sống nhân dân ở các vùng được cải thiện

rõ rệt Để tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, huyện cũng khuyến khích nhân rộng các mô hình nông dân làm kinh tế giỏi, chăn nuôi có quy mô lớn theo kiểu công nghiệp, tạo ra vùng sản xuất hàng hoà tập trung đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu, và bài toán chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở 1 huyện nông nghiệp như Quế Võ là yếu tố quan trọng đưa Quế Võ hội nhập và phát triển

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1.Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp

Các số liệu thống kê đã được công bố qua 3 năm 2005 – 2007 liên quan đến điều kiện tự nhiên, tình hình đất đai, dân số lao động, kinh tế xã hội, cơ sở vật chất hạ tầng, kết quả sản xuất nông nghiệp được thu thập từ phòng thống

kê huyện Quế Võ, phòng tài nguyên môi trường huyện Quế Võ

Các thông tin số liệu về tổ chức trạm KN, số cán bộ KN và các số liệu phản ánh về kết quả hoạt động KN như: Số buổi tập huấn kỹ thuật, số mô hình trình diễn, số nông dân tham gia tập huấn kỹ thuật, số câu lạc bộ khuyến nông… được chúng tôi thu thập từ trạm KN huyện, từ hoạt động của nhóm

đoàn thể xã hội, từ KN viên cơ sở và từ người dân

2.2 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp

Để có được các số liệu mới tôi tiến hành thu thập thông qua các cuộc

điều tra phỏng vấn các hộ nông dân.Trong đó việc điều tra được tiến hành từ ngày 20/4, việc điều tra được tiến hành thông qua bộ câu hỏi và phỏng vấn

Trang 24

-Xác định mục đích điều tra

- Lập phiếu điều tra

- Chọn mẫu điều tra

- Đơn vị điều tra

- Tiến hành điều tra

+Để xác định được mục đích điều tra thì tôi dựa vào mục tiêu của để tài

để cuộc điều tra đi đúng hướng

+ Lập phiếu điều tra: Phiếu điều tra phải làm sao mà các câu hỏi trong phiếu không quá khó cho việc trả lời của nông dân Câu hỏi thì không dài dòng nhưng vẫn đủ nội dung

+ Chọn mẫu điều tra: trước hết tôi phỏng vấn những người nắm rõ về hoạt động KN như: cán bộ KN, chủ nhiệm hợp tác xã, trưởng thôn, sau đo tôi chọn mẫu ngẫu nhiên người dân để phóng vấn điều tra

+ Đơn vị điều tra: Tôi tiến hành chon mẫu ngẫu nhiên 3 xã trong tổng

số 20 xã và 1 thị trấn để điều tra

Sau khi tiến hành điều tra xong tôi tiến hành tổng hợp phân tích số liệu

Trang 25

Phần 4

Kết quả nội dung nghiên cứu

4.1 .Thực trạng công tác KN huyện Quế Võ qua 3 năm(2005 - 2007)

4.1.1 Công tác tổ chức, chức năng nhiệm vụ hệ thống KN huyện Quế Võ

4.1.1.1 Hệ thống tổ chức

Sau 6 năm được thành lập dưới sự lãnh đạo sâu sát của uỷ ban nhân dân huyện, trung tâm KN tỉnh hệ thống KN huyện luôn có sự điều chỉnh để cho hoạt động hoàn thiện đáp ứng được nhu cầu của nông dân và phù hợp với sự đổi mới chính sách quản lý vĩ mô của đảng và nhà nước

Sơ đồ 4.1.: Hệ thống tổ chức bộ máy khuyến nông huyện Quế Võ

UBND xã, ban chủ nhiệm HTX

Trang 26

4.1.1.2.Chức năng nhiệm vụ của từng cấp

Theo nghị định 13/cp của thủ tướng chính phủ về việc “ban hành bản quy

định về công tác KN” và thông tư liên bộ số 02/LB/TT ngày 02/08/1993 về việc hướng dẫn thi hành nghị định 13/cp thì

*ở tỉnh: Có một trung tâm KN trực thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn nhiệm vụ của trung tâm là

- Xây dựng chỉ đạo thực hiện các chương trình KN của trung ương và tỉnh

- Phổ biến và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về nông lâm nghiệp và những kinh nghiệm, điển hình sản xuất cho nông dân

- Bồi dưỡng kiến thức, quản lý kinh tế và rèn luyện tay nghề cho cán bộ

KN viên cơ sở, cho nông dân, cung cấp cho nông dân những thông tin thị trường, giá cả nông sản

- Quan hệ với các tổ chức trong và ngoài nước để thu hút nguồn vốn hoặc tham gia trực tiếp vào hoạt động KN địa phương

* Cấp huyện:

Thành lập trạm KN dưới sự chỉ đạo trực tiếp của uỷ ban nhân dân huyện

và có mối quan hệ với phòng nông nghiệp Nhiệm vụ cụ thể là:

- Tiếp nhận những chương trình KN do trung tâm KN tỉnh đưa xuống, tổ chức thực hiện, giám sát và báo cáo kết quả hoạt động lên trung tâm

- Xác định những nhu cầu KN của các xã trong huyện Viết báo cáo tình hình sản xuất, sâu bệnh, dịch bệnh để trình lên huyện và trung tâm KN tỉnh

- Trực tiếp chỉ đạo KN xã

- Tổ chức các hoạt động KN như: Tập huấn kỹ thuật, tổ chức trình diễn phương pháp và kết quả, đi tham quan, hội thảo đầu bờ để chuyển giao kỹ thuật cho nông dân

- Hợp tác với những cơ quan nghiên cứu để khảo sát và thử nghiệm những mô hình trên cơ sở có người dân cùng tham gia

- Thông qua những phương tiện KN, cung cấp cho nông dân những thông tin cấn thiết về hạt giống, cây con, phân bón, thuốc trừ sâu, giá cả thị trường thu thập thông tin KHKT trong lĩnh vực khác để sẵn sàng cung cấp thông tin cho người dân khi cần

Ngày đăng: 20/03/2013, 08:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai trên địa bàn   huyện Quế Võ qua 3 năm  (2005 - 2007) - Đánh giá các hoạt động khuyến nông trên địa bàn Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Quế Võ qua 3 năm (2005 - 2007) (Trang 18)
Bảng 4.3. Diện tích, năng suất và sản l−ợng một số cây trồng chính   qua 3 n¨m (2005 - 2007) - Đánh giá các hoạt động khuyến nông trên địa bàn Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 4.3. Diện tích, năng suất và sản l−ợng một số cây trồng chính qua 3 n¨m (2005 - 2007) (Trang 21)
Bảng 4.4.Tình hình chăn nuôi của huyện qua 3 năm (2005 - 2007)  So sánh N¨m - Đánh giá các hoạt động khuyến nông trên địa bàn Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 4.4. Tình hình chăn nuôi của huyện qua 3 năm (2005 - 2007) So sánh N¨m (Trang 22)
Sơ đồ 4.1.: Hệ thống tổ chức bộ mỏy khuyến nụng huyện Quế Vừ - Đánh giá các hoạt động khuyến nông trên địa bàn Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh
Sơ đồ 4.1. Hệ thống tổ chức bộ mỏy khuyến nụng huyện Quế Vừ (Trang 25)
Bảng 4.5. Lực l−ợng cán bộ KN tham gia hoạt động KN trên địa bàn  huyện Quế Võ qua 3 năm (2005 - 2007) - Đánh giá các hoạt động khuyến nông trên địa bàn Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 4.5. Lực l−ợng cán bộ KN tham gia hoạt động KN trên địa bàn huyện Quế Võ qua 3 năm (2005 - 2007) (Trang 28)
Bảng 4.6. Nội dung các hoạt động KN - Đánh giá các hoạt động khuyến nông trên địa bàn Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 4.6. Nội dung các hoạt động KN (Trang 29)
Bảng 4.8. Nguồn để cán bộ KN căn cứ xây dựng lên nội dung bài giảng  cho các lớp tập huấn - Đánh giá các hoạt động khuyến nông trên địa bàn Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 4.8. Nguồn để cán bộ KN căn cứ xây dựng lên nội dung bài giảng cho các lớp tập huấn (Trang 32)
Bảng 4.9. Mục đích tham gia các lớp tập huấn   của ng−ời nông dân huyện Quế Võ - Đánh giá các hoạt động khuyến nông trên địa bàn Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 4.9. Mục đích tham gia các lớp tập huấn của ng−ời nông dân huyện Quế Võ (Trang 33)
Bảng 4.10. Đánh giá của cán bộ KN về hoạt động xây dựng   mô hình trình diễn của chính mình - Đánh giá các hoạt động khuyến nông trên địa bàn Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 4.10. Đánh giá của cán bộ KN về hoạt động xây dựng mô hình trình diễn của chính mình (Trang 37)
Hình  trình  diễn  là  công  việc  không  thể  thiếu  và  ngày  cần  mở  rộng  để  người  nông dân mắt thấy tai nghe và tự học hỏi - Đánh giá các hoạt động khuyến nông trên địa bàn Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh
nh trình diễn là công việc không thể thiếu và ngày cần mở rộng để người nông dân mắt thấy tai nghe và tự học hỏi (Trang 38)
Bảng 4.12. Đánh giá của ng−ời nông dân về điều kiện áp dụng   của các mô hình - Đánh giá các hoạt động khuyến nông trên địa bàn Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 4.12. Đánh giá của ng−ời nông dân về điều kiện áp dụng của các mô hình (Trang 39)
Hình thì ng−ời dân thấy là không phù hợp và họ không muốn làm và nhiều khi  họ không quan tâm đến nữa - Đánh giá các hoạt động khuyến nông trên địa bàn Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh
Hình th ì ng−ời dân thấy là không phù hợp và họ không muốn làm và nhiều khi họ không quan tâm đến nữa (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w