RỦI RO TRONG XUẤT KHẨU GẠO CỦA CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU AN GIANG
Trang 1Các công ty, doanh nhiệp xuất nhập khẩu là những người đi đầu, là cầu nối giữa thị trường hàng hoá trong nước và nước ngoài, công việc này đòi hỏi họ phải nhạy bén trong tiếp nhận, xử lý thông tin số liệu, nắm bắt các tín hiệu từ thị trường.Và công ty xuất nhập khẩu, dịch vụ và đầu tư tỉnh An Giang – công ty Angimex cũng không ngoại lệ, Với tiềm năng sẵn có là công ty thuộc sỡ hữu nhà nước lại nằm trong vùng ĐBSCL – vựa lúa gạo lớn nhất cả nước nên thế mạnh của công ty là xuất khẩu gạo Bên cạnh công việc xúc tiến thương mại Angimex còn chú trọng đến các biện pháp tối đa hoá lợi nhuận của mình, điều này đặc biệt quan trọng trong giai đọan Angimex tiến hành cổ phần hóa và sau cổ phần hoá Một khi đã cổ phần hóa Angimex sẽ không còn những ưu đãi hay hỗ trợ từ phía chính quyền nhà nước nhiều như trước nữa mà phải dựa vào sức mình là chính
Với doanh thu xuất khẩu gạo luôn ở mức cao, cụ thể năm 2004 là 55.190 triệu USD, năm 2005 là 70.409 triệu USD, năm 2006 là 72.532 triệu USD, Angimex đang ngày càng khẳng định tên tuổi của mình trên thương trường quốc tế cũng như trong nước
Để đảm bảo lợi nhuận của mình thì việc đẩy mạnh công tác kiểm soát rủi ro về xuất khẩu gạo mang một ý nghĩa thiết thực trong thị trường đầy biến động như hiện nay Tuy nhiên
để kiểm soát được rủi ro đòi hỏi công ty không chỉ hiểu rõ tình hình sản xuất kinh doanh của mình, còn phải nắm bắt tình hình biến động của thị trường mà có giải pháp hợp lý
Nhận thức được vai trò quan trọng của việc quản trị rủi ro trong hoạt động
SXKD Vì vậy em đã chọn chủ đề “RỦI RO TRONG XUẤT KHẨU GẠO CỦA CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU AN GIANG” làm chuyên đề thực tập của mình 1.2 Mục tiêu nghiên cứu :
− Tìm hiểu tình hình thực tế tại công ty phân tích những điểm mạnh, yếu nguyên nhân thành công trong xuất khẩu gạo
− Phân tích rủi ro và những biện pháp hạn chế rủi ro trong xuất khẩu gạo của công ty
1.3 Phạm vi nghiên cứu:
− Giới hạn không gian: công ty xuất nhập khẩu An Giang
− Giới hạn thời gian: từ năm 2004 – 2006
− Giới hạn quỹ thời gian: 60 ngày
− Giới hạn nhiệm vụ nghiên cứu: nghiên cứu rủi ro nguồn nguyên liệu, khách hàng, thị trường, thanh toán và tài chính
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thu thập số liệu: thu thập số liệu tại công ty thông qua các báo cáo tài chính và các số liệu chứng từ khác tại công ty Ngoài ra, còn cập nhật thông tin từ bên ngoài như: sách chuyên ngành, sách báo, tạp chí, internet…
Phương pháp xử lý số liệu: dùng phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích theo
xu hướng biến động qua nhiều năm để đánh giá tình hình phát triển của công ty
Trang 2Do thời gian thực tập, tiếp xúc thực tiễn và kiến thức có hạn nên chuyên đề không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô, các bạn, các anh chị, cô chú trong công ty để chuyên đề có ý nghĩa thực tiễn hơn nữa.
Trang 3CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU AN
GIANG (ANGIMEX)
2.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của công ty:
Công ty xuất nhập khẩu An Giang tên giao dịch là An Giang Import Export Company- viết tắt ANGIMEX, Có trụ sở chính đặt tại số 1 Ngô Gia Tự -Thành phố Long Xuyên- An Giang, văn phòng giao dịch tại số 137 đường Bình Trọng, Quận 5, TPHCM Hiện tại công ty đang sở hữu một hệ thống 8 cửa hàng ở các thành phố, thị xã, huyện và 6 nhà máy xay xát được bố trí ở vùng trọng điểm sản xuất lúa và các nông sản khác
Công ty xuất nhập khẩu An Giang được thành lập theo quyết định số 73/QĐ-76 của chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang và chính thức đi vào hoạt động tháng 9 năm
1976 Ngay ngày đầu tiên thành lập công ty có tên gọi là “Công ty ngoại thương tỉnh An Giang”.Trải qua năm tháng cùng với sự biến động nền kinh tế đất nước và tính chất hoạt động của mình, công ty cũng có những tên gọi khác nhau như:
“Liên hiệp công ty xuất nhập khẩu An Giang” theo quyết định số 422/QĐ/UB của
Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang vào ngày 31/12/1979
Đến năm 1989, do yêu cầu tổ chức lại ngành ngoại thương nên “Liên hiệp công
ty xuất nhập khẩu An Giang” đổi thành “Công ty xuất nhập khẩu An Giang” cho đến ngày nay
Với số vốn ban đầu chỉ là 5.000đ (tương đương với 10 lượng vàng vào thời điểm đó), số nhân viên là 40 người, qui mô và phạm vi hoạt động còn rất nhỏ Đến nay sau hơn
30 năm xây dựng và phát triển, mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng công ty cố gắng vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ và luôn đạt chỉ tiêu kế hoạch mà Đảng và Nhà nước giao Hàng năm, công ty nộp ngân sách khá cao đồng thời góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương Đến nay, công ty đã có một đội ngũ cán bộ, công nhân viên
có trình độ nghiệp vụ vững vàng, tạo dựng nên cơ sở vật chất kỹ thuật có giá trị hàng chục tỷ đồng và đã hoàn thiện hệ thống các nhà máy, cửa hàng, chi nhánh nhằm đáp ứng nhu cầu thu mua nguyên liệu, hàng hoá, sản xuất và phân phối sản phẩm Uy tín của công
ty trên thương trường trong nước và ngoài nước ngày càng được nâng cao
2.2 Cơ cấu tổ chức của công ty:
Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức chặt chẽ từ trên xuống dưới, có chức năng tham mưu giúp giám đốc công ty luôn đi trước đón đầu trong tình hình kinh tế đầy biến động như hiện nay
Cơ cấu quản lý của công ty theo mô hình trực tuyến chức năng Công ty bao gồm các phòng ban, chi nhánh, cửa hàng, xí nghiệp và nhà máy Các bộ phận được quyền chủ động trong phạm vi chức năng mà bộ phận đó đảm nhiệm, đảm bảo công việc tiến hành thuận lợi Các phòng ban công ty và xí nghiệp thông qua cuộc họp giao ban vào sáng thứ bảy hàng tuần để nắm chủ trương và kế hoạch của công ty, nhằm phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ
Trang 4TT NIIT
An Giang
XN SXK
D Bao
Bì và VT
XN Chế biến lương thực 1
XN Chế biến lương thực 2
XN Chế biến lương thực3
Chi nhán
h tại Thoạ
i Sơn
XN Chế biến
LT Châu Đốc
Chi nhánh tại TP HCM
Phó GĐốc phụ trách kinh doanh thương mại
Phó GĐốc phụ trách kinh doanh thương mại
Phó GĐốc phụ trách SX kinh doanh lương thực
Phó GĐốc phụ trách SX kinh doanh lương thực
Trợ lý Giám đốc
xe Hon da-
DV LX
CH bán
xe Hon da-
DV CĐ
Kho L
XuyênKho C.Mới
Kho
Đ LợiKho
C Phú
Kho C.VàmKho BKhánhKho Hòa An
PX Thoại Hà
PX Bình Thành
PX S.Hòa
Kho C.ĐốcKho H.Lạc
Tổ Công nghệ thông tin
Tổ Marketing
Trang 52.3 Nhiệm vụ, chức năng, ngành nghề kinh doanh của công ty:
2.3.1 Nhiệm vụ của công ty:
Công ty Xuất nhập khẩu An Giang được thành lập nhằm đẩy mạnh hoạt động ngoại thương của tỉnh An Giang Với nhiệm vụ chính là tìm đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp nhất là cây lúa Tổ chức việc thu mua lúa trong nông dân, chế biến và tìm kiếm thị trường để xuất khẩu gạo Nghiên cứu và kết hợp với nông dân để sản xuất gạo chất lượng cao để xuất khẩu
Nghiên cứu thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng hàng hoá, gia tăng khối lượng hàng xuất khẩu, mở rộng thị trường
Các cửa hàng thương mại cung cấp cho nhân dân trong vùng các sản phẩm thiết yếu, mặt hàng gia dụng Đặc biệt, Cửa hàng thương mại Tịnh Biên và Cửa hàng số 1 còn có nhiệm vụ là xúc tiến xuất khẩu các mặt hàng tiêu dùng, sản phẩm nông nghiệp
đã qua chế biến công nghiệp sang thị trường Campuchia
Công ty tạo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của mình, khai thác và sử dụng
có hiệu quả các nguồn vốn, đảm bảo đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị và làm nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà Nước theo luật định
2.3.2 Chức năng của công ty:
− Góp phần thúc đẩy hoạt động ngoại thương của Tỉnh phát triển, phân phối các mặt hàng tiêu dùng nhằm thoả mãn nhu cầu sinh hoạt của nhân dân Tỉnh nhà
và các Tỉnh lân cận
− Thu mua và sản xuất chế biến lương thực, tiêu thụ sản phẩm trong nước
và kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp hoặc thông qua hợp đồng cấp chính phủ
− Xây dựng các chương trình liên kết với nông dân, hợp tác xã làm tiền đề cho các hợp đồng bao tiêu sản phẩm, tạo nguồn nguyên liệu ổn định nâng cao chất lượng hạt gạoViệt Nam
− Liên doanh liên kết với các đối tác chiến lược nhằm nâng doanh số và kim ngạch XK
2.4 Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận:
2.4.3 Phòng kế hoạch - kinh doanh :
Quản lý tiêu thụ, giúp lãnh đạo nắm bắt được thông tin biến động về giá lúa gạo, kịp thời đề xuất các biện pháp, chiến lược kinh doanh, giải quyết khi có biến động
2.4.4 Phòng đầu tư - phát triển :
Ðề ra các biện pháp cụ thể theo dõi các hoạt động trong lĩnh vực máy móc thiết
bị, đưa ra các kiến nghị về kỹ thuật công nghệ như: các phương án khắc phục, sửa chữa, thường xuyên theo dõi và điều chỉnh công nghệ sản xuất phù hợp với đặc điểm của từng nguồn nguyên liệu
Trang 62.4.5 Phòng kế toán - tài vụ :
Tổ chức chặt chẽ công tác hạch toán kế toán, giám sát toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty: lập báo cáo quyết toán do bộ tài chính đề ra, theo dõi thu hồi công nợ kịp thời, đầy đủ, chính xác, không để thất thoát tài sản của công ty…
2.4.6 Phòng đầu tư phát triển thị trường:
Có nhiệm vụ quản lý toàn bộ về công tác xây dựng cơ bản của toàn công ty như: xây dựng mới, sửa chữa máy móc thiết bị nhằm nâng cao kỹ thuật, hàng năm lập bản dự trù xây dựng cơ bản, quản lý việc ký kết hợp đồng, luận chứng kinh tế kỹ thuật đúng theo quy định của Nhà Nước, hoạch định ra nhiệm vụ để tiêu thụ hàng hoá, thay đổi máy móc thiết bị để nâng cao chất lượng hàng hoá
2.4.7 Chi nhánh Thành Phố Hồ Chí Minh:
Có nhiệm vụ giao dịch, đàm phán các hợp đồng xuất nhập khẩu, giao nhận
và làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa
2.4.8 Chi nhánh Cần Thơ :
Là trung tâm thông tin về thị trường ngoài tỉnh giúp công ty chủ động tìm khách hàng , Ngoài ra còn có chức năng sản xuất chế biến, bảo quản và cung ứng gạo cho xuất khẩu theo kế hoạch của công ty
2.4.9 Nhà máy Châu Ðốc và các xí nghiệp :
Có chức năng thu mua lúa gạo nguyên liệu, sản xuất chế biến, bảo quản, tiêu thụ và cung ứng gạo cho xuất khẩu
2.4.10 Cửa hàng thương mại số 1 , 2 và 4 :
Chuyên bán các mặt hàng tiêu dùng Các cửa hàng này là các đơn vị hạch toán độc lập với công ty
2.4.11 Cửa hàng Honda Long xuyên - Châu Ðốc :
Là các cửa hàng chuyên mua bán các loại xe gắn máy
2.4.12 Tổ đại lý :
Do phòng Kế hoạch - Kinh doanh trực tiếp quản lý, chuyên nhận, ký kết hợp đồng làm đại lý hoặc mua lại các mặt hàng, sản phẩm của các công ty liên doanh, thông qua các cửa hàng như : cửa hàng tịnh biên, cửa hàng Châu phú, cửa hàng Châu Ðốc
2.5 Tình hình kinh doanh của công ty:
Bảng 2.1: Kết quả kinhdoanh của công ty Angimex
ĐVT: triệu đồng
Các khoản mục 2004 2005 2006 2005 - 2004 2006 - 2005
Giá trị % Giá trị % Doanh thu 1.134,69 1.459,00 1.170,13 324,31 28,58 -288,87 -19,80
tỉnh Đặc biệt là kim ngạch XK đạt 260 triệu USD với 2 mặt hàng chính là cá và lương
Trang 7thực, riêng mặt hàng lương thực XK đã đạt trên 100 triệu USD, trong đó có công ty
Angimex chiếm 50% kim ngạch
Năm 2005, mặc dù thời tiết không thuận lợi, hạn hán kéo dài, diện tích lúa giảm, nhưng thu hoạch vẫn được mùa với sản lượng lúa đạt trên 3 triệu tấn, đây cũng là năm xuất khẩu gạo của tỉnh được mùa, kim ngạch xúât khẩu gạo của tỉnh 167 triệuUSD, Angimex chiếm 77.409 triệu
Năm 2006, tình hình thực tế có nhiều khó khăn tác động không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của công ty cụ thể: dịch bệnh trên lúa có chiều hướng phát triển đặc biệt là rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá xuất hiện nhiều nơi trong tỉnh đã làm năng suất lúa giảm đáng kể góp phần đẩy giá lúa nguyên liệu lên cao Trong năm với lệnh dừng xuất khẩu gạo của chính phủ ở những tháng cuối năm đã làm ảnh hưởng kế hoạch kinh doanh của công ty không ít: giá bán cao, nhu cầu thị trường tiêu thụ mạnh, công ty lại
có tồn kho đáp ứng được cho xuất khẩu nhưng lại không xuất khẩu được Mặc dù vậy kim ngạch xuất khẩu của công ty đạt 72.532 triệu USD chiếm 51,8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh
Nhìn chung qua 3 năm, công ty đã cho thấy sự thành công vượt bậc trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thể hiện qua mức doanh thu luôn cao hơn 1000 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế không dưới 11 tỷ đồng Kết quả này về cơ bản đã hoàn thành chỉ tiêu tỉnh đề ra, đặc biệt năm 2005 là năm công ty có doanh thu cao nhất từ trước đến nay
2.6 Phương hướng hoạt động năm 2007:
2.6.1 Các chỉ tiêu kinh doanh:
− Gạo – ngành hàng kinh doanh chủ lực : kinh doanh xuất khẩu và cung ứng xuất khẩu với sản lượng 250.000 tấn
− Ngành hàng khác (xe Honda, phân bón : 20.000 tấn, dịch vụ sửa chữa xe, dịch vụ điện thoại di động): doanh thu tăng 15% so năm 2006
− Ngành hàng khác (xe Honda, phân bón : 20.000 tấn, dịch vụ sửa chữa xe, dịch vụ điện thoại di động) : doanh thu tăng 15% so năm 2006
− Kinh doanh ngành hàng mới : xuất khẩu cá tra fillet 1.320 tấn, nhập khẩu
bã đậu nành 20.000 tấn để cung cấp lại cho các nhà máy chế biến thức ăn thủy sản và tiêu thụ thức ăn gia súc 20.000 tấn
2.6.2 Các giải pháp:
gạo nếp chất lượng cao và đóng gói nhỏ, bao gồm gạo Jasmine 2% tấm, gạo trắng hạt dài 2% tấm, nếp có độ lẫn 5% tấm, gạo đặc sản của An Giang để cung cấp đa dạng các loại gạo nếp chất lượng cao cho thị trường, vừa giảm sức cạnh tranh vừa mang lại hiệu quả cao, vừa xây dựng thương hiệu gạo cho Angimex
thị trường thế giới, Cty đang áp dụng có cải tiến hệ thống quản lý chất lượng ISO
9001-2000 được tổ chức SGS cấp tháng 9/2005, Thời gian qua, các lô hàng gạo của Cty được các khách hàng và các cơ quan giám định công nhận là chất lượng tốt hơn so với mặt bằng chung, Trong năm 2007, Cty sẽ chọn lọc thu mua, tách biệt và bảo quản riêng gạo
có chất lượng cao cấp để bán vào các thị trường cao cấp
thí dụ : đối với các tập đoàn là rất dân chủ, không qua cầu rút ván, cùng nhau sống, cùng nhau kinh doanh, Hiểu thêm các nhu cầu biến đổi của khách hàng trong từng thời điểm, rà soát đánh giá khách hàng
Trang 8− Phải nhận diện rõ tình hình xung quanh thông qua mối quan hệ với Hiệp Hội,
với khách hàng, và phối hợp lại giữa các bộ phận trong Cty
phải có sự chuẩn bị sẵn sàng hàng hoá để bán cho các thị trường cần giao ngay như Indo, Philippines
được tuân thủ từ cấp lãnh đạo đến nhân viên, Thí dụ qui định rõ ràng việc phải đáp ứng được khiếu nại của khách hàng trong khoảng thời gian bao lâu, trả lời báo giá cho khách hàng trong bao lâu
hàng, Thí dụ đối với ngành hàng xe Honda áp dụng chương trình Sticker, đối với ngành hàng lương thực nên có sự chủ động có những chương trình gia tăng giá trị cho khách hàng một cách bất ngờ,thí dụ chịu phí mở L/C một hợp đồng nào đó cho một khách hàng nào đó đã mua số lượng lớn hàng của Cty
trực diện mà còn trên diện rộng để nắm bắt được những diễn biến làm ảnh hưởng đến kinh doanh, Thí dụ tình hình chính trị của quốc gia ảnh hưởng đến việc kinh doanh của ngành hàng gạo như thế nào
trương cho mở quá nhiều cửa hàng chính, họ cạnh tranh bán hàng không còn theo nguyên tắc chung của Honda qui định, Vì thế, định hướng của Cửa hàng là tập trung vào khách hàng sĩ ở các huyện với tỷ lệ 70%, đặc biệt chú trọng việc gia tăng giá trị dịch vụ cho khách hàng như đã nói ở trên
2.6.3 Chiến lược, định hướng kinh doanh:
− Trên nền tảng sẵn có hiện nay, mở rộng dịch vụ Honda và sửa chữa xe Honda trên phạm vi toàn ĐBSCL
− Trung tâm NIIT: xem xét hướng mở rộng đào tạo các ngành phổ thông như dạy lắp ráp phần cứng, dạy tin học văn phòng theo hướng sủ dụng giáo trình bám sát thực tế không theo giáo trình dạy để lấy bằng A,B,C
− Ngành gạo trong tương lai xu hướng vẫn còn sự điều hành của Chính phủ, nên Cty cần phải giảm thiểu và dần tách rời khỏi sự lệ thuộc này, chuyển dịch cơ cấu: giảm tỷ lệ xuất khẩu, sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ tạo ra các sản phẩm tiêu dùng nhằm gia tăng tỷ suất lợi nhuận, hạn chế rủi ro và chiếm lĩnh thị trường nội địa, đồng thời kinh doanh nguồn phụ phẩm rẻ tiền (trấu sản xuất từ chế biến lúa gạo mang lại) để tăng lợi nhuận cho Cty
− Ngành thương mại dịch vụ hiện nay chưa có mô hình của riêng Cty mà toàn bộ là liên kết với các thương hiệu mạnh (Honda, S-Fone, kinh doanh siêu thị), các ngành hàng liên kết này độc lập không có sự liên kết với nhau như ngành lương thực, như vậy khi kinh doanh mà doanh thu tăng thì điều đó là phát triển, nhưng phát triển ở đây là cho thương hiệu của đơn vị mà công ty liên kết, không phải cho sự phát triển của chính thương hiệu công ty, Điều này cần sự nghiên cứu phát triển và có chiến lược lâu dài để dần tách khỏi các thương hiệu lớn
Trang 9CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH RỦI RO TRONG XUẤT KHẨU GẠO
CỦA CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU AN GIANG,3.1 Rủi ro nguồn nguyên liệu:
Yếu tố đầu vào là yếu tố quan trọng đối với bất kỳ đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh nào Sự biến động của yếu tố đầu vào về số lượng, giá cả, nguồn cung cấp… cũng tác động không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của đơn vị Cách riêng các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu gạo, lẽ dĩ nhiên lúa là nguyên liệu không thể thiếu và nguyên liệu này cũng biến động không ít, điểm đáng lưu
ý là sản lượng, giá mua nguyên liệu có sự tương tác với tình hình sản xuất nông nghiệp, giá cả sản phẩm đầu ra, cung cầu thị trường Phân tích mối quan hệ trên nhằm thấy được ảnh hưởng của nó đến công ty như thế nào?
Tình hình thu mua của công ty những năm vừa qua như sau:
Bảng 3.1: Số lượng thu mua lúa nguyên liệu từng xí nghiệp (tấn)
2004 83.527,73 20.927,57 43.503,39 43.915,12 15.261,56 207.135,37
2005 90.907,16 32.419,01 35.948,90 58.256,02 30.720,89 248.251,98
2006 96.110,86 32.267,64 31.612,10 60.515,31 28.394,20 248.900,11
(Nguồn: phòng kế toán công ty Angimex)
Bảng 3.2 : Giá mua lúa nguyên liệu của từng xí nghiệp (đ/kg).
(Nguồn: phòng kế toán công ty Angimex)
Hàng năm, dựa trên những hợp đồng đã ký, phòng kinh doanh phân bổ kế hoạch thu mua nguyên liệu cho các xí nghiệp với giá cả tham khảo từ hiệp hội lương thực Việt Nam, trên cơ sở đó các xí nghiệp sẽ thỏa thuận với thương lái hay nông dân theo kiểu thuận mua vừa bán mà không hề có bất kỳ hợp đồng bao tiêu nào Khảo sát qua tình hình thu mua ở các xí nghiệp: XN 1 và XN 4 có doanh số thu mua lớn hơn các XN còn lại, do số lượng thu mua cao nên giá mua bình quân của 2 XN này cũng cao hơn giá mua trung bình của công ty mặc dù vậy mức chênh lệch là không quá lớn và có thể chấp nhận được bởi lẽ với khối lượng như thế kết hợp biến động thị trường sẽ có những lúc giá mua cao sẽ có những lúc giá mua thấp, điều này vẫn còn phụ thuộc vào cung cầu thị trường
Mặt khác nếu so sánh với giá mua bình quân của 4 đơn vị xuất khẩu gạo của tỉnh (công ty Angimex, …) thì vẫn thấp hơn (cả 3 năm đều thấp hơn khoảng 100 đồng/kg) một xu hướng rất tốt mà công ty cần phát huy Để có được kết quả tốt này công ty đã luôn bám sát thị trường qua các chương trình:
− Chương trình báo cáo nhanh khối lương thực: số lượng mua trong ngày, giá mua trong ngày Thống kê sản lượng, giá mua bình quân tháng, quí, năm Thể hiện số liệu cùng kỳ để so sánh Vẽ biểu đồ sản lượng mua, giá mua bình quân theo tháng
Trang 10− Chương trình báo cáo ngày: lưu trữ thông tin về tình hình mua bán trong ngày ở các xí nghiệp gửi về Thống kê sản lượng, giá mua bình quân theo tháng, quý, năm Thống kê hàng tồn kho.
− Chương trình tổng hợp giá thành: lưu trữ giá thành của mỗi ngày của các XN, tổng hợp mua để tính giá thành bình quân cho công ty Cập nhật lại số lượng và giá vốn hàng tồn kho mỗi ngày
Nhờ thiết lập những chương trình như thế này các phòng, ban liên quan nhất là ban giám đốc sẽ theo dõi sát sao tình hình của các xí nghiệp, của công ty và của ngành hàng lương thực từ đó kịp thời chỉ đạo
Biểu đồ 3.1: Giá mua nguyên liệu
Biểu đồ 3.2: Giá xuất khẩu
(Nguồn: Sở thương mại tỉnh An Giang)
Trang 11Có một điểm đáng lưu ý là giá thu mua nguyên liệu của công ty nói riêng và của các đơn vị trong tỉnh nói chung đang có xu hướng tăng.
Vì lý do gì giá thu mua nguyên liệu lại tăng?
Có thể lý giải vấn đề này ở một số khía cạnh:
Bảng 3.3: Cung cầu gạo thế giới 1 / (Triệu tấn) 2003/2004
Tổng cộng nước ngoài 109,36 382,71 23,88 410,09 22,68 84,81 Các nhà XK chính 4 17,81 131,88 0,04 114,72 18,73 16,29
223 USD/tấn) điều này đã đẩy giá thu mua nguyên liệu lên cao, bên cạnh đó cũng còn một số nguyên nhân như:
1 Tập hợp từ thị trường các nước.
2 Chỉ số tổng cộng của nước ngoài và thế giới được sử dụng để phản ánh sự khác biệt của xuất khẩu và nhập khẩu.
3 Xuất nhập khẩu thế giới có thể không cân bằng bởi có sự khác biệt giữa các quốc gia.
4 India, Pakistan, Thailand, and Vietnam
5 Brazil, Indonesia, Hong Kong, Nigeria, Philippines, selected Middle East, and the EU-25.
6 Bao gồm Iran, Iraq, and Saudi Arabia.
Trang 12− Một là: Giá gạo thị trường thế giới tăng ở mức cao.
− Hai là: Về tổng thể thì nguồn cung lúa gạo cân đối đủ nhu cầu (theo báo cáo của
Bộ NN-PTNT, sản lượng thóc năm 2004 của cả nước đạt 35,7 triệu tấn tăng 1,2 triệu tấn so với năm 2003, trừ nhu cầu tiêu dùng trong nước khoảng 27,6-28,1 triệu tấn, khả năng lúa hàng hóa giành cho xuất khẩu quy gạo khoảng 3,9-4 triệu tấn) nhưng tiến độ xuất khẩu gạo một vài tháng quá cao đã tác động làm tăng giá trong nước
− Ba là: Giá gạo tại quốc gia láng giềng Trung Quốc tăng mạnh Các doanh nghiệp xuất khẩu cũng triển khai mua nhiều đã có tác động và ảnh hưởng làm giá gạo thị trường nội địa tăng mạnh hơn
− Bốn là: Do nhu cầu can thiệp thị trường lúa vụ chính từ tháng 9/2004 đến tháng 2/2005 của Chính phủ Thái Lan đã hỗ trợ giá gạo chào bán tăng, nhiều nhà nhập khẩu
từ Philippin, Iraq, châu Phi đang quan tâm đến gạo Việt Nam bởi giá gạo của Việt Nam thấp hơn so với gạo cùng loại của Thái Lan, cùng với nguồn cung thóc ở đồng bằng sông Cửu Long về cuối năm hạn chế, là những nguyên nhân chính đẩy giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng và đứng ở mức cao
Bảng 3.4: Cung cầu gạo thế giới (Triệu tấn) 2004/2005
Trang 13khiến cho nhu cầu tiêu thụ tăng cao tác động đến giá xuất khẩu Tính riêng Việt Nam, năm 2005 sản xuất được 22,63 triệu tấn gạo (tăng so với năm trước khoảng gần 2 triệu tấn) nhu cầu tiêu dùng là 18,5 triệu tấn như vậy Việt Nam chỉ còn khoảng 4,13 triệu tấn dành cho xuất khẩu nhưng trong năm đã xuất đến 5,2 triệu tấn mang về khoảng 1,279
tỷ USD (trị giá FOB), so cùng kỳ năm 2004 tăng 28% về số lượng và 49% về trị giá (sử dụng luôn cả dự trữ để xuất do xuất được giá trung bình giá xuất khẩu gạo năm 2005 là
253 USD/tấn tham khảo từ bảng 4 ) điều này đã đẩy giá thu mua nguyên liệu lên cao, bên cạnh đó cũng còn một số nguyên nhân như:
− Một là: Theo báo cáo của của tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO), sản lượng thóc thế giới năm 2005 đạt khoảng 614 triệu tấn, tương đương với 409,3 triệu tấn gạo tăng 1,5% so với năm 2004 Nhu cầu tiêu thụ gạo thế giới năm 2005 khoảng 413 triệu tấn, cao hơn nguồn cung 3,7 triệu tấn Tồn kho gạo cuối năm 2005 dự đoán sẽ tiếp tục giảm 4,2%, sau khi đã giảm khoảng 23% so với cuối năm trước Cũng theo tổ chức này dự đoán xuất khẩu gạo thế giới năm 2005 chỉ đạt 25,5 triệu tấn giảm 2,8% so với năm trước Trong đó xuất khẩu gạo năm 2005 dự đoán sẽ giảm chủ yếu ở Thái Lan do sản lượng thóc của Thái Lan giảm và việc áp dụng chính sách giá thóc gạo nội địa cao làm giảm khả năng cạnh tranh của gạo xuất khẩu Thái Lan Giá gạo của Thái Lan tăng
do nhu cầu mua gạo của Thi Lan tiếp tục tăng lên ở Nigeria, Nam Phi, Yemen, mặt khác đồng Baht tăng giá
− Hai là: Do hạn hán tiếp tục kéo dài, đặc biệt là sự trở lại của hiện tượng EL NINO càng làm cho hạn hán thêm nghiêm trọng tại nhiều nước Châu Á, khu vực chiếm 75% lượng gạo xuất khẩu hàng năm trên thị trường thế giới
− Ba là: Do ảnh hưởng của trận động đất sóng thần xảy ra cuối năm 2004 tại một
số nước Nam á và Đông Nam á càng làm cho nhu cầu nhập khẩu gạo tăng mạnh như Philippin, Indonesia, Bangladesh và châu Phi, các nước Trung Mỹ…
− Bốn là: Giá gạo Việt Nam hiện đang thấp hơn so với gạo cùng loại của Thái Lan, cùng với nhu cầu của khách nước ngoài nhập khẩu gạo Việt Nam tăng mạnh, khách hàng chính là Philipines, Cu Ba, Nga, các nước châu Phi, châu Âu… Mặt khác các nhà xuất khẩu vẫn đang đẩy mạnh tìm kiếm nguồn cung để đáp ứng nhu cầu đã ký kết trong khi nguồn cung hạn chế
Năm 2006: sản lượng lương thực năm 2006 của toàn thế giới là 415,49 triệu tấn trong khi nhu cầu chỉ cần 413,35 triệu tấn, nguồn cung vựơt cầu.Tính riêng Việt Nam, năm 2006 sản xuất được 22,00 triệu tấn gạo (giảm so với năm trước khoảng gần 0,6 triệu tấn) nhu cầu tiêu dùng là 18,25 triệu tấn như vậy Việt Nam chỉ còn khoảng 3,75 triệu tấn dành cho xuất khẩu nhưng trong năm đã xuất đến 4,8 triệu tấn (sử dụng luôn cả
dự trữ để xuất do xuất được giá trung bình giá xuất khẩu gạo năm 2005 khoảng 251 USD/tấn tham khảo bảng 4) trong bối cảnh chung của thế giới là sản xuất vuợt tiêu dùng khoảng 2 triệu tấn lý ra giá phải giảm nhưng giá xuất khẩu của Việt Nam vẫn tăng
do các nước như Indonesia, Malaysia và Nigeria có nhu cầu nhập cao hơn, trong năm đã xảy ra cơn sốt giá lúa gạo chưa từng có ở Việt Nam mà nguyên nhân là:
− Thứ nhất và sâu xa là ở thời điểm đó vẫn chưa khống chế được dịch (vàng lùn và lùn xoắn lá chính là do tác động của cơn sốt giá gạo thế giới đối với hạt gạo của nước ta.Trước hết, theo các số liệu thống kê của WTO, nếu như chỉ số giá gạo thế giới năm
2003 là 62 điểm (năm gốc 1995 = 100 điểm), thì năm 2004 tăng vọt lên 77 điểm, năm
2005 lên 90 điểm, còn giữa năm nay đứng ở mức 94 điểm, Hiển nhiên, diễn biến này
trở thành “chiến lược” trong gần 3 năm qua Như vậy, trong gần 3 năm qua, giá xuất khẩu lúa gạo tăng tổng cộng 45% Nguồn lợi quá hấp dẫn đã khiến cả nông dân lẫn các chi cục bảo vệ thực vật và các cấp chính quyền địa phương bỏ ngoài tai các khuyến cáo
Trang 14chuyên môn về giống và nguy cơ dịch bệnh Lịch thời vụ, giống không được tuân thủ, đất không được nghỉ làm lúa liền 3 vụ/năm, thậm chí có nơi còn cố sức làm 7 vụ trong 2 năm… Môi trường độc canh trong thời gian dài như thế chắc chắn sẽ gây ra dịch bệnh
Và dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá xảy ra ở chính ngay vựa lúa của cả nước – ĐBSCL Năm 2006, Việt Nam có tới 10 cơn bão trong đó, cơn bão số 9 (Durian) xảy ra ngày 5/12 đã gây thiệt hại nặng nề về người và của cho các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long Ở các tỉnh phía Bắc, năm nay không có mưa to, bão lớn, nhưng bất chợt, vào thượng tuần tháng 11/2006 có ngay mưa đá ở nhiều nơi Thời gian mưa không dài, nhưng thiệt hại cũng không nhỏ.7
Bảng 3.5 : Cung cầu gạo thế giới / (triệu tấn) 2005/2006
− Thứ hai, cơn sốt giá lúa gạo chưa từng có hiện nay còn do chúng ta đã xuất khẩu
“quá đà” Sản lượng lúa năm 2004 tăng tương đương với gần 1,5 triệu tấn gạo so với năm 2003, nhưng gạo xuất khẩu chỉ tăng gần 1 triệu tấn Ấy thế mà, khi sản lượng lúa năm 2005 giảm tương đương với khoảng 240 nghìn tấn thì lượng gạo xuất khẩu lại đạt
kỷ lục trên 5 triệu tấn! Rõ ràng việc tăng này là do chúng ta đã “vét kho” để đẩy mạnh xuất khẩu trong điều kiện rất được giá như đã nói ở trên Trong khi đó, tổng sản lượng lúa của miền Bắc chỉ tăng được 800 nghìn tấn, còn ĐBSCL lại giảm xấp xỉ 1 triệu tấn,
mà lượng gạo xuất khẩu thì vẫn cứ tăng đến 1 triệu tấn so với cả 4 năm trước đó
(2001-7 (trích từ bài viết trên website http://vndgforcus.vietnamgateway.org/show.php?
id=28&lang=viet&act=event)
Trang 152004), cho nên rất có thể chúng ta đã lại một lần nữa “vét kho” để xuất khẩu! Cộng với tác nhân dịch bệnh dai dẳng trong nhiều tháng qua, hành động này tạo nên cơn sốt chưa từng có ở ngay trong ruột vựa lúa lớn nhất nước Triển vọng giá gạo thế giới vẫn tiếp tục nóng cũng là một phần nguyên nhân gây ra đầu cơ lúa gạo ở thị trường trong nước 8
Nguyên nhân đẩy giá nguyên liệu lên cao đã rõ, vấn đề cần được làm rõ là công
ty Angimex mua từ những nguồn nào và có ảnh hưởng gì đến công ty?
Bảng 3.6 : Số lượng thu mua của công ty so với sản lượng lúa toàn tỉnh và ĐBSCL
Qua phân tích thị trường lúa gạo 3 năm ta nhận thấy giá cả nguồn nguyên liệu đầu vào tăng đồng thời giá cả đầu ra cũng tăng nhưng sự tăng giá của đầu ra làm thặng
dư cho nhà xuất khẩu chẳng những bù đắp sự chênh lệch ở giá đầu vào mà còn đem lại khoản lợi nhuận lớn Ba năm vừa qua với kim ngạch tăng đều từ 55.190 triệu USD năm
2004 lên 70.409 triệu USD năm 2005 và 77.529 triệu USD năm 2006 công ty xuất nhập khẩu An Giang vẫn giữ vững tỷ lệ khoảng 50% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, ngày càng khẳng định mình là một trong những đơn vị xuất khẩu gạo hàng đầu của tỉnh Tuy nhiên, trong điều kiện giá nguyên liệu tăng như thế này, nếu như giá xuất khẩu giảm hoặc hiệp hội quản lý giá xuất hoặc cả hai cùng xảy ra thì công ty sẽ gặp khó khăn
do vậy công ty nên tính toán cho mình một hướng đi mang tính bền vững
3.2 Rủi ro thanh toán:
Trong hoạt động ngoại thương có rất nhiều hình thức thanh toán chẳng hạn như phương thức T/T, CAD, TTR, L/C… Mỗi phương thức thanh toán đều có ưu nhược điểm của riêng nó, việc sử dụng phương thức nào phụ thuộc các yếu tố:
− Quan hệ thương mại thường xuyên hay không thường xuyên
− Sự tín nhiệm lẫn nhau
− Quy mô của hợp đồng thương mại hay dịch vụ
− Khả năng cung ứng hàng hoá của người bán và khả năng tài chính của người mua,
8 (trích từ bài viết trên website http://vndgforcus.vietnamgateway.org/show.php?
id=28&lang=viet&act=event)
Trang 16− Tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi quốc gia.
Xuất phát từ đặc điểm của mình công ty Angimex đã lựa chọn các phương thức L/C, D/P, TTR và CAD làm phương thức thanh toán
Vì sao công ty Angimex lại chọn những phương thức này?
Thứ nhất xét về đặc điểm của các phương thức này:
− L/C: phương thức thông dụng nhất hiện nay và được xem là an toàn cho các bên giao dịch do nó được đảm bảo bởi các ngân hàng đồng thời được thực hiện, giải quyết trong khuôn khổ “quy tắc về tập quán và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ” (UCP 500), “quy tắc thống nhất về hoàn trả tiền giữa các ngân hàng theo tín dụng chứng
từ của ICC và “tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ trong thanh toán tín dụng chứng từ” (ISBP số 645 của ICC năm 2003), Thêm vào đó L/C có thể chỉnh sửa, bổ sung từ bất kì bên nào (có thể là người mở, người hưởng lợi) nếu có
sự đồng ý về phía ngân hàng
− T/T: phương thức chuyển tiền rẻ nhất, an toàn, chính xác và nhanh chóng Đối với hình thức này thì người nhận được tiền ít bị ảnh hưởng của tỷ giá, Được áp dụng trong thanh toán các khoản tiền tương đối nhỏ Sự an toàn cho người xuất khẩu là không chắc chắn do việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí của người nhập khẩu và ngân hàng chỉ là trung gian thực hiện việc thanh toán theo uỷ nhiệm để hưởng một khoản phí mà không bị ràng buộc nào cả
− CAD: phương thức có lợi cho nhà xuất khẩu vì họ chắc chắn thu được tiền hàng nhanh chóng, thủ tục đơn giản không phức tạp như thanh toán tín dụng chứng từ, áp dụng trong trường hợp người mua và người bán có quan hệ tốt và tin tưởng lẫn nhau
− Phương thức nhờ thu kèm chứng từ: phương thức mà nhà xuất khẩu sau khi cung cấp hàng hoá hay dịch vụ thì lập bộ chứng từ và hối phiếu nhờ ngân hàng phục vụ mình thu hộ với điều kiện ngân hàng này thay mặt nhà xuất khẩu khống chế bộ chứng từ, chỉ khi nào người mua đồng ý thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán hối phíêu thì ngân hàng mới giao bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu để làm cơ sở nhận hàng
Thứ hai, rủi ro của các phương thức:
− Trong thanh toán TTR/ DP : khách hàng trì hoãn thanh toán, trong khi hàng hóa đã đóng hàng xong vào container hoặc đã xếp lên tàu, hoặc hàng hóa đang trên đường vận chuyển sang nước ngoài, hoặc đã đến cảng dỡ
− D/P, D/A, T/T trước 1 phần, CAD đều có mức độ rủi ro nhất định đối với người bán hàng Những rủi ro đó là người mua nhận hàng mà không trả tiền (D/A), người mua không nhận hàng và không trả tiền (D/P, CAD, T/T trước 1 phần) Trong cả hai trường hợp này, người bán bị mất hàng hoặc phải tốn phí để xử lý hàng của mình (thường những phí này rất lớn)
− Trường hợp thanh toán bằng L/C: ngân hàng mở L/C cố tình vạch lá tìm sâu để từ chối thanh toán trong trường hợp người mua có vấn đề về tài chánh; bộ chứng
từ bị phát hiện có bất hợp lệ (do những sai sót trong quá trình thiết lập chứng từ) và bị ngân hàng từ chối thanh toán, người mua lẩn tránh trách nhiệm; trường hợp hàng đã xếp xong mà L/C chưa hoàn chỉnh (do những thay đổi trong quá trình giao hàng, người mua hứa sẽ tu chỉnh L/C) nhưng không được tu chỉnh hợp lệ; ngân hàng mở L/C không có
uy tín; ngân hàng mở L/C phá sản… ; nước nhập hàng bị cấm vận
− Do biến động của thị trường mà điển hình là khi giá giảm, khách hàng có thể tìm cách thoái thác để không phải nhận hàng gây ra rủi ro chậm hoặc trì hoãn hoặc không thanh toán (thí dụ nêu bất hợp lệ trong chứng từ để không thanh toán, khiếu nại hàng không đúng chất lượng để yêu cầu giảm giá,…)
Trang 17Thứ ba, công ty Angimex đã hơn 30 năm hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo với số lượng bạn hàng lớn (ước trên 40 khách hàng) và mỗi khách hàng lại có những đặc trưng khác nhau do vậy trên thực tiễn giao dịch, các phương thức được áp dụng như sau:
− Phương thức T/T: Dành cho khách hàng quen với số lượng không nhiều dao động từ 250 tấn đến 500 tấn tương đương từ 10 đến 20 container Sau khi ký hợp đồng khách hàng sẽ trả 10% - 30% giá trị hợp đồng, phần còn lại sẽ thanh toán theo 2 cách: thanh toán trước khi đóng hàng vào container hoặc là thanh toán khi hàng cập cảng đến (ở kho ngoại quan), trường hợp này công ty sẽ giữ lại bộ chứng từ gốc và phát lệnh yêu cầu chủ tàu giao hàng cho khách hàng mà không cần chứng từ Những khách hàng uy tín giao dịch với số lượng khoảng 2000 tấn chỉ phải trả trước 10% giá trị hợp đồng, phần còn lại khách hàng sẽ chuyển tiền và công ty chuyển bộ chứng từ (công đoạn này tiến hành song song với nhau)
− Kết hợp phương thức T/T và D/P hoặc CAD: cũng giống như phương thức T/T nhưng chỉ khác nhau ở cách thanh toán phần còn lại thay vì khách hàng sẽ chuyển tiền cho công ty thì công ty sẽ chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng nhờ thu hộ Phương thức này áp dụng cho những khách hàng mà công ty đánh giá là chưa uy tín
− Phương thức L/C: áp dụng cho các tập đoàn hoặc những hợp đồng có giá trị lớn
từ vài trăm ngàn USD trở lên Thời gian mở L/C có hai hướng: (1) mở L/C sau 3 ngày
kể từ khi ký hợp đồng, (2) mở L/C trước khi tàu đến khoảng 15 ngày Trong quá trình thương lượng hợp đồng với khách hàng về hình thức thanh toán sau khi ngân hàng phục
vụ nhà xuất khẩu chấp nhận bộ chứng từ nếu công ty thỏa thuận với khách hàng chấp nhận thanh toán khi nhận được điện báo thì sẽ thu ngắn thời gian quay vòng của vốn chịu chi phí lãi vay ít hơn (do công ty hàng năm vay nợ ngắn hạn từ ngân hàng rất lớn)
so với cách thanh toán thông thường nghĩa là nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ cho ngân hàng phục vụ của mình sau khi kiểm tra ngân hàng sẽ chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu, nơi đây bộ chứng từ sẽ được kiểm tra lần nữa rồi mới thanh toán
Theo thống kê từ phòng kinh doanh tỷ lệ các phương thức thanh toán theo giá trị thanh toán hàng năm không có sự thay đổi lớn cụ thể: L/C dao động quanh tỷ lệ 40%, T/T dao động quanh tỷ lệ 35%, D/A dao động quanh tỷ lệ 20%, và D/P dao động quanh
tỷ lệ 5%
Trang 18Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ các phương thức thanh toán theo giá trị thanh toán.
(Nguồn số liệu thống kê từ phòng kinh doanh công ty Angimex)
Qua biểu đồ và những phân tích trên ta nhận thấy: mỗi phương thức đều có rủi
ro bên cạnh những ích lợi của riêng nó, điều cần làm là chọn cho mình những điều kiện
áp dụng thích hợp nhất Công ty Angimex đã thực hiện như thế, với phương châm hoạt động kinh doanh an toàn, công ty đã thiết lập những điều kiện phù hợp nhất cho mỗi phương thức chẳng hạn như:
− T/T: chỉ dành cho những khách hàng nhỏ, uy tín ; do phương thức này chiếm 35% khối lượng giao dịch, có rủi ro là phần giá trị còn lại chiếm khoảng 70 – 90% tổng giá trị, khách hàng trì hoãn thanh toán, trong khi hàng hóa đã đóng hàng xong vào container hoặc đã xếp lên tàu, hoặc hàng hóa đang trên đường vận chuyển sang nước ngoài, hoặc đã đến cảng dỡ, nếu khách hàng không thanh toán đúng hạn công ty sẽ bị chiếm dụng vốn không nhỏ
− L/C chiếm 40% khối lượng giao dịch dành cho những hợp đồng giá trị lớn thường là các tập đoàn; rủi ro lớn nhất ở phương thức này là bộ chứng từ thanh toán, thông thường các xảy ra các trường hợp như: bộ chứng từ không thõa mãn với một hoặc một vài điều kiện quy định trong L/C; sai sót về từ ngữ, con số…
Qua nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu công ty đã luôn cẩn trọng xây dựng cho mình quy trình làm việc rất chuyên nghiệp trong lựa chọn khách hàng, nhà cung ứng… cho nên công ty rất ít gặp phải những rủi ro loại này Song song đó công ty có mối quan hệ tốt với các ngân hàng nên việc thương thảo giải quyết những vấn đề liên quan đến thủ tục thanh toán cũng thuận lợi hơn
Bên cạnh phương thức thanh toán thì đồng tiền thanh toán cũng không kém quan trọng trong quan hệ ngoại thương bởi vì mỗi loại đồng tiền nó sẽ đi kèm với tỷ giá
mà tỷ giá lại có sự thay đổi khác nhau tùy theo tình hình thế giới và chính sách của chính phủ đây hàm chứa rủi ro cho nhà xuất khẩu lẫn nhà nhập khẩu Rủi ro ở đây tính riêng cho nhà xuất khẩu là làm lượng tiền kỳ vọng của mình thấp hơn mong đợi kéo theo giảm lợi nhuận cho nên việc lựa chọn đồng tiền thanh toán như thế nào là hết sức quan trọng Đối với Angimex, công ty chỉ lựa chọn duy nhất đồng tiền USD cho mọi giao dịch với khách hàng xuất khẩu và lý do chủ yếu của quyết định này không gì khác hơn là: đồng tiền USD được giao dịch rộng rãi, dễ thanh toán, tập trung đối phó với rủi
ro tỷ giá USD/VND, đây là hướng đi phù hợp trong bối cảnh thị trường hiện nay
Xét tình hình biến động tỷ giá USD/VND trong 3 năm từ 2004 đến 2006 :
Qua đồ thị thống kê tỷ giá ta thấy tỷ giá luôn có sự biến động, có lúc đồng USD tăng rất mạnh chẳng hạn vào thời điểm tháng 2 năm 2004, 1 USD = 15860 VND tăng
218 so với tháng 1 (USD/VND = 15641) đến tháng 3 năm 2004 lại giảm 111 Đến tháng
4 năm 2005 tăng đột biến 108 từ 15812 (tháng 3 năm 2005) lên 15921 Đến tháng 4 năm 2006 tỷ giá hối đoái ghi nhận thêm một biến động mới tăng 120 từ 15874 lên
15995 Nhìn chung tỷ giá có tăng có giảm nhưng hiện rõ nhất chính là xu hướng tăng giá của USD đồng nghĩa với VND giảm giá, xu hướng này hoàn toàn có lợi cho các đơn
vị xuất khẩu trong đó có Angimex Hơn nữa, quy trình của công ty là mua nguyên liệu – sản xuất – giao hàng trong công đoạn mua nguyên liệu công ty cần rất nhiều vốn nhất là thời điểm nông dân thu hoạch các vụ lúa, vay ngân hàng là giải pháp công ty thựchiện ở những thời điểm đó Thế nhưng trong khoản vay ngắn hạn của mình, công ty Angimex luôn có những khoản vay ngắn hạn bằng ngoại tệ khá lớn Cũng xin nói thêm lý do vì sao công ty lại như vậy: