C¶i c¸ch Doanh nghiÖp Nhµ níc theo híng Cæ phÇn hoa ë níc ta hiÖn nay
Trang 1Lời nói đầu
Trên cơ sở đổi mới t duy , những năm gần đây nền kinh tế hoá tậptrung ở nớc ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trờng nh một đòi hỏi tất yếucủa sự phát triển Trong điều kiện cơ chế quản lý thay đổi , khi hiệu quảkinh doanh trở thành yêú tố sống còn của mỗi doanh nghiệp thì các doanhnghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nớc đã bộc lộ đầy đủ những yếu kém ,lâm vào tình trạng sa sút và khủng hoảng vậy vấn đề đặt ra là làm thếnào để cấu trúc lại sở hữu nhà nớc và cải cách khu vực kinh tế nhà nớcnhằm nâng cao hiệu quả và vai trò của nó theo tinh thần nghị quyết đạihội VI và VII của đảng vấn đề này đã đợc nhiều nhà kinh tế hòc , lý luậnhọc nghiên cứu kỹ lỡng và họ đã đa ra những giải pháp cơ bản , phù hợpvới tình hình kinh tế nớc ta hiện nay Một trong những giải pháp có tínhchất chiến lợc nhất là “Tiến hành cổ phần hoá DNNN” nhằm đa dạng sởhữu , đa yếu tố cạnh tranh làm động lực tăng hiệu quả kinh doanh và xáclập một mô hình hữu hiệu trong nền kinh tế thị trờng
Xét trên một mức độ quan trọng của chiến lợc này Em quyết định
chọn tiểu luận “ Cải cách Doanh nghiệp Nhà nớc theo hớng Cổ phần
hoa ở nớc ta hiện nay” với t cách là một công trình khoa học nhỏ Vì
vậy trong khuôn khổ bài viết này em chỉ xin đề cập một vài suy nghĩ liênquan đến đề tài
Trang 2Chơng I - Sự cần thiết phải cổ phần hoá các
DNNN ở Việt Nam
I Công ty cổ phần – một hình thức tổ chức kinh doanh một hình thức tổ chức kinh doanh
1 Công ty cổ phần là sản phẩm của sự phát triển kinh tế thị ờng.
tr-Công ty cổ phần ra đời trong quá trình xã hội hóa sở hữu t nhântrong nền kinh tế thị trờng Quá trình này đợc thể hiện thông qua trao đổi
và thông qua tín dụng Trong toàn bộ qúa trình tái sản xuất xã hội , mộtngời chủ sở hữu có thể tham gia nhiều hoạt động chiếm hữu thực tế vàngợc lại , một hoạt động chiếm hữu thực tế cũng có nhiều chủ sở hữutham gia Sự phát triển của hệ thống trao đổi và tín dụng đã giúp cho quátrình xã hội hoá sở hữu đạt đến trình độ cho phép hình thành hệ thốngngân hàng , thi trờng tài chính và các công ty cổ phần
Lịch sử hình thành và phảt triển hình thái công ty cổ phần bắt đầu
từ hình thái kinh doanh một chủ phát triển lên hình thái kinh doanh chungvốn (là hình thái kinh doanh hợp tác của những ngơì sản xuất nhỏ và làhình thái chung vốn nh công ty hợp danh của các nhà t sản ) và sau đóphát triển lên hình thái công ty cổ phần Các bớc phát trên diễn ra mộtcách có tuần tự về phơng diện lịch sử , tuy rằng các bớc chuyển tiếp củacác giai đoạn không có ranh giới rạch ròi nào ,và do sự phát triển không
đều giữa các nền kinh tế nên ở bất kỳ một quốc gia nào cũng có kết cấu
đa sở hữu với sự có mặt của tất cả các loại hình sở hữu nói trên Tuynhiên nền kinh tế càng phát triển ở mức độ cao (đặc biệt là sự phát triểncủa tín dụng thơng nghiệp và tín dụng ngân hàng) thì vai trò của công ty
cổ phần càng lớn ở các nền kinh tế này số lợng công ty cổ phần nhỏ hơn
so với các loại hình công ty sở hữu khác nhng nó chiếm tỷ trọng rất lớn
về vốn đầu t và quy mô kinh tế mà nó chi phối
Sự ra đời và phát triển loại hình công ty cổ phần đánh dấu sựchuyển hớng nền kinh tế từ trạng thái vay mợn chủ yếu ( thông qua ngânhàng hoặc chung vốn ) sang huy động vốn trên thị trờng tài chính Cáccông ty cổ phần là nguồn cung cấp sản phẩm cho sự phồn thịnh của thị tr-
Trang 3ờng tài chính và ngợc lại ,sự thịnh vợng của thị trờng tài chính sẽ tạo điềukiện cho các công ty cổ phần phát triển Sự hình thành thị trờng chứngkhoán là bớc tiếp theo để giúp các công ty cổ phần mở rộng và xâm nhậpngày càng mạnh mẽ vào hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế thị trờng Thị trờng chứng khoán là trung tâm phản ánh trạng thái hoạt động củacác công ty trong nền kinh tế thị trờng
2 Đặc điểm của các công ty cổ phần
Xét về mặt pháp lý: Công ty cổ phần là một tổ chức kinh doanh có
t cách pháp nhân , trong đó vốn kinh doanh là do nhiều ngời đóng góp dóihình thức mua cổ phần , mà họ là cổ đông Các cổ đông chỉ có tráchnhiệm với các cam kết tài chính của công ty trong giới hạn số tiền mà họ
đóng góp , có nghĩa họ chỉ có trách nhiệm về các khoản nợ của công tytrong phạm vi số tiền mà họ đóng góp , với đặc điểm này ,nếu công ty bịphá sản họ không chịu trách nhiệm vô hạn nh hình thức kinh doanh mộtchủ hoặc chung vốn Vì vậy hình thức này vừa thu hút đợc lợng vốn đầu
t lớn trong toàn xã hội lại vừa san sẻ sự rủi ro trên thơng trờng cho nhữngngời bỏ vốn đâù t để kinh doanh Hơn nữa qua thị trờng chứng khoán ,sự
di chuyển của các cổ phiếu với t cách là hàng hóa vốn đầu t ,công chúng(là các cổ đông ) đã “bỏ phiếu tín nhiệm “ cho những ngành những lĩnhvực , những công ty mà họ cho là có triển vọng Cơ chế này giúp cho ng -
ời đầu t phân tán đợc nguồn vốn của mình vào nhiều lĩnh vực khác nhau
để giảm rủi ro trong kinh doanh
Vậy là sự tham gia có tính chất xã hội của công chúng vào quan hệ
sở hữu và quá trình quản lý , lựa chọn cơ cấu nghành …đã trở thànhđã trở thànhnhững gợi ý thiết thực cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế ở tầm vĩmô
Có thể nói về mặt pháp lý hình thức cổ phần có t cách hoàn hảonhất so với các hình thức trớc để chia sẻ các rủi ro của đời sống kinhdoanh, không có trách nhiệm pháp lý hữu hạn và công ty thì đều đơn giản
là một nền kinh tế thị trờng không thể nào thu hái lợi ích có đợc khinhững lợng t bản lớn cần đợc thu hút vào những công ty với quy mô cóhiệu quả , sản xuất ra nhiều loại sản phẩm bổ sung cho nhau , chia sẻ
Trang 4những rủi ro và sử dụng tốt nhất kinh tế của những đơn vị nghiên cứu lớn
và kiến thức quản lý
Xét về mặt huy động vốn: công ty cổ phần đã giải quyết hết sức
thành công ,với phần đông dân chúng thì họ không đủ để thành lập mộtcông ty riêng , do đó không thể tự kinh doanh đợc Nhng với cách mua
cổ phiếu để trở thành cổ đông của cùng một lúc nhiều công ty thì họ cóthể làm đợc Các công ty cổ phần đã tạo điều kiện cho họ có cơ hội để
đầu t một cách có lợi và an toàn với những khoản vốn nhỏ Họ có thể gửitiết kiệm hoặc mua trái phiễu của ngân hàng , song tham gia vào công ty
cổ phần có sức hấp dẫn và hứa hẹn hơn:
- Thứ nhất: mua cổ phiếu của công ty cổ phần ngoài việc hởng lợitức cổ phần ( thờng cao hơn lãi suất ngân hàng) họ còn hy vọng khoảnthu nhập ngầm nhờ việc gia tăng giá trị cổ phiếu khi công ty làm ăn cóhiệu quả
- Thứ hai: các cổ đông có quyền tham gia quản lý theo điều lệ công
ty và đợc pháp luật đảm bảo , do đó làm cho quyền sở hữu của cổ đôngtrở nên cụ thể hơn
- Thứ ba: cổ đông có quyền đợc u đãi trong việc mua những cổphiếu mới phát hành của công ty trớc khi đợc đem bán rộng rãi cho côngchúng Vì vậy công ty cổ phần có sức thu hút vốn đầu t rộng rãi trongcông chúng Tính xã hội hoá sở hữu của công ty cổ phần vợt trội hơn cáchình thức khác là ở chỗ đó
Hình thái công ty cổ phần đã thực hiện đợc việc tách quan hệ sởhữu ra khỏi quá trình kinh doanh ,tách quyền sở hữu với quyền quản lý và
sử dụng Nói cách khác công ty cổ phần tạo nên một hình thái xã hội hoá
sở hữu của một bên là đông đảo quần chúng, còn bên kia là tầng lớp cácnhà quản trị, quản lý kinh doanh chuyên nghiệp đợc tự do sử dụng nguồn
t bản xã hội lớn cho những mục đích, qui mô kinh doanh của công ty
Những ngời góp vốn trong công ty cổ phần không trực tiếp đứng rakinh doanh mà uỷ thác cho một bộ máy quản lý của công ty ( hội đồngquản trị, ban giám đốc ) Bản thân công ty cũng đợc pháp luật thừa nhận
Trang 5Nhờ đó công ty cổ phần tiến hành mọi hoạt động kinh doanh dới danhnghĩa của chính và nhận trách nhiệm với các cam kết tài chính chung củacông ty.
Cơ cấu tổ chức giản đơn của công ty cổ phần là đại hội cổ đông( là tổ chức đại diện quyền sở hũ tối cao của công ty , có trách nhiệm vàbãi nhiệm hội đồng quản trị , ban giám đốc )
Bản thân công ty cũng đợc pháp luật thừa nhân là một pháp nhân
độc lập tách rời các cá nhân góp vốn và kiểm soát nó Nhờ đó công ty cổphần tiến hành mọi hoạt động kinh doanh dới danh nghĩa của nó Nhờ đócông ty cổ phần tiến hành mọi hoạt động kinh doanh dới danh nghĩa củachính mình và nhận trách nhiệm với các cam kết tài chính của công ty
Cơ cấu tổ chức đơn giản đơn của công ty cổ phần hoá là đại hội
cổ đông ( là tổ chức đại diện quyền tổ chức tố cáo của công ty , có tráchnhiệm lựu chọn và bãi miễn hội đồng quản trị , sửa chữa điều lệ công ty ,phân chia lợi nhuận cổ phần , phát hành thêm trái phiếu hoặc hợp nhấtcác công ty khác …đã trở thành) Hội đồng quản trị có trách nhiệm bảo toàn và pháttriển vốn đầu t của cổ đông , hoạch định chiến lợc tài chính và đầu t , kinhdoanh của công ty , trong đó đại diên quyền lực và trách nhiệm là bangiám đốc đIều hành ) Ban kiểm soát (thực hiện việc kiểm tra ,giám sáthoạt động của các công ty để bảo đảm lợi ích ngời góp vốn )
Với hệ thống tổ chức nh vậy ,công ty cổ phần phát triển với quy môkhổng lồ , hình thành các công ty quốc gia , xuyên quốc gia Sự phân chiarạch ròi chức năng sở hữu , phân phối và điều hành quản lý trong công ty
cổ phần , góp phần to lớn vào hiệu quả hoạt động của công ty , bởi độingũ các nhà quản lý tài năng sáng tạo , chuyên nghiệp đợc “mặc sức vẫyvùng “ trong lĩnh vực kinh doanh của mình mà không bị sức ép , sự gò bócủa ngời sở hữu chi phối họ hoạt động theo điều lệ công ty
3 Vai trò của công ty cổ phần
- Thứ nhất công ty cổ phần thông qua thị trờng chứng khoán cókhả năng tập trung vốn nhanh và nhiều để đủ sức thực hiên các hoạt độngsản xuất kinh doanh với qui mô khổng lồ mà từng nhà khing doanh riêngbiệt không thể làm nổi Tất nhiên không chỉ các công ty cổ phần mới có
Trang 6khả năng hoạt động và tập trung vốn mà có thể thông qua hệ thống ngânhàng , tàI chính nhng công ty cổ phần là cơ sở kinh tế chủ yếu cho ngânhàng và các tổ chức tàI chính hìng thành thị tròng vốn của nền kinh tế
- Thứ hai :công ty cổ phần góp phần nâng cao sản xuất kinh doanh
do chính công ty quyết định Hơn nữa do hình thức tự cấp phát tàI chínhbắng huy động các nguồn vốn trong dân c đã đề cao trachs nhiêm củacông ty và nâng cao sự quan tâm của công ty đến hiệu quả sử dụng tiềnvốn Mặt khác do sức ép của cổ đông trong việc đòi chia lãi cổ phần vàmuốn duy trì giá cổ phiếu cao trên thị trờng chứng khoán khiến cho côngtyphảI phấn đáu và muốn duy trỳ giá cổ phiếu cao trên thị trờng chứngkhoán khiến cho công ty phải phấn đấu nâng cao hiệu quả sử dụng tiềnvốn
+ Do lợi nhuận các công ty cổ phần khác nhau traong các lĩnh vựckhác nhau thúc đẩy , nên có thể dẫn dắt tiền vốn nhàn rỗi từ nhiều kênhkhác nhau trong xã hội vào các lĩnh vực , vào các nghành có năng suất lao
động và tỷ suất lợi nhuận cao,làm cho vốn đợc phân bổ và sử dụng cóhiệu quả trong nền kinh tế
+ Công ty cổ phần cho phép xác nhận quyền sở hữu về tàI sản củangời sở hữu và xác định số vốn của những mỗi thành viên thông qua số l-ợng cổ phần mà cổ đông nắm giữ Theo cơ chế quản lý tài chính của cácDNNN trớc đây thì trách nhiệm và quyền hạn đối với số vốn ( tài sản) củadoanh nghiệp không ràng với mọi thua lỗ của doanh ngiệp nhà nớc phảigánh chịu Cách quản lý tổ chức kinh doanh theo kiểu hình thức cổ phầnkhắc phục đợc nhợc điểm này và thực chất đã tách đợc quyền sở hữu rakhỏi quyền quản lý kinh doanh ĐIều đó cho phép ngời giám đốc chủ
động linh hoạt tìm kiếm và thực thi các giảI pháp kinh doanh có lợi nhất
Trang 7- Thứ t : công ty cổ phần là hình thức liên doanh tốt nhất để tranhthủ sự tham gia đầu t đầu t nớc ngoài Đối với các nớc đang phát triển ,
đặc biệt là nớc ta hiên nay thì việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài cho sựnghiệp phát triển kinh tế là hết sức cần thiết Thông qua hình thức liêndoanh góp vốn cổ phần vào các công ty cổ phần sẽ giúp cho các công ty
cổ phần sẽ giúp cho các nớc phát huy đợc sức mạnh về mọi mặt nh vốntiềm lực công nghệ kỹ thuật , năng lực quản lý …đã trở thành góp phần nâng cao hiệuquả và phát triển kinh tế chung của đất nớc
Trong lịch sử, loại hình CTCP có thể đợc hình thành bằng nhữngcon đờng khác nhau : thành lập mới một CTCP hoặc chuyển đổi ( tức làCPH ) các loại hình doanh nghiệp khác thành CTCP khác với hình thứcthành lập mới từ đầu , CTCP mới , hình thức CPH 1 doanh nghiệp cũ
đang hoạt động liên quan tới việc đánh giá và lựa chọn lại loài hình tổchức đã và đang là 1 khuynh hớng mạnh mẽ của cảI cách kinh tế nhằm có
đợc những u thế của CTCP
Trang 8II CPH DNNN ở Việt Nam – một hình thức tổ chức kinh doanh sự lựa chọn tất yếu
Qua nghiên cứu mô hình CTCP và xuất phát từ thực trạng vànguyên nhân SXKD kém hiệu quả của DNNN , để đáp ứng nhứng yêucầu, vững chắc trên cơ sở phát huy sức mạnh từ nội lực nền kinh tế thìviệc CPH 1 bộ phận DNNN là 1 tất yếu khách quan
Cụ thể :
- Thứ nhất , CPH 1 bộ phận DNNN là 1 giải pháp để nhà nớc giảmgánh nặng đối với các doanh nghiệp này , đồng thời nhà nớc cũng có 1khoản thu khá lớn để có thể tập trung đầu t vốn , đổi mới kỹ thuật , côngnghệ , đổi mới quản lý các DNNN còn lại để chúng có thể đứng vững vàcạnh tranh trên thị trờng , đảm bảo điều kiện để nhà nớc thực hiện có hiệuquả chức năng và hiệu quả của mình
- Thứ hai , CPH DNNN tạo ra 1 loạt những doanh nghiệp mới , đó
là 1 mô hình quản lý kinh doanh có hiệu quả nhất Một mặt , nó huy
động mọi nguồn vốn trong xã hội đa vào SXKD , khai thác và phát huytối đa và có hiệu quả nội lực nền KT- XH Mặt khác , nó là hình thức liêndoanh tốt nhất để tranh thủ sự tham gia đầu t của nớc ngoài , tạo điều kiện
để mọi thành viên trong công ty trở thành ngời chủ thực sự , phát huy đợc
đầy đủ và tối đa tính năng , sáng tạo của họ , học tập đợc nhiều kinhnghiệm quản lý quý báu từ nớc ngoài , góp phần nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp và cũng là con đờng để đa kinh tế nớc
Trang 9DNNN là một bộ phận quan trọng , cấu thành của khu vực kinh tếnhà nớc ,vì thế vai trò chủ đạo của thành kinh tế này phụ thuộc nhiều vàohiệu quả kinh tế xã hội mà DNNN mang lại Nớc ta cũng giống nh
Các nớc XHCN trớc đây , thực hiện mô hình kinh tế kế hoạch hoátập trung , lấy việc mở rộng và phát triển các DNNN làm mục tiêu chocông cuộc cải tạo và xây dựng CNXH , nên đã chiếm tỷ trọng tuyệt đốitrong nền kinh tế và dựa trên cơ sở nguồn cấp phát của ngân sách nhà nớc,tất cả các hoạt động đều chịu sự kiểm soát và chi phối trực tiếp của nhànớc song cũng giống nh nhiều nớc trên thế giới , các DNNN hoạt độnghết sức kém hiệu quả , ngày càng bộc lộ những điểm yếu , đặc biệt là ởcấp địa phơng quản lý
- Tỷ trọng tiêu hao vật chất :Tỷ trọng tiêu hao vật chất trong tổngsản phẩm xã hội của khu vực kinh tế nhà nớc cao gấp 1,5 lần và chi phí
để sáng tạo ra một đồng thu nhập quốc dân cao gấp hai lần so với kinh tế
t nhân
Mức tiêu hao vật chất của các DNNN trong sản xuất cho một giá trị
đơn vị tổng sản phẩm xã hội ở nớc ta thờng cao gấp 1,3 lần so với mứctrung bình trên thế giới VD : Chi phí vật chất của sản phẩm hoá chấtbằng 1,88 lần , sản phẩm cơ khí bằng 1,3 – 1,8 lần , phân đạm bằng 2,35lần Mức tiêu hao năng lợng của các DNNN ở nớc ta cũng cao hơn so vớimức trung bình của thế giới VD : Trong sản xuất giầy gấp 1,26 lần , hoáchất cơ bản bằng 1,44 lần , than bằng 1,75 lần , phân đạm bằng 1,83 lần
…đã trở thành
- Chất lợng sản phẩm của nhiều DNNN rất thấp và không ổn đinh Trung bình trong khu vực kinh tế nhà nớc chỉ có khoảng 15% đạttiêu chuẩn xuất khâủ ; 65% số sản phẩm đạt mức độ dới trung bình đểtiêu dùng nội địa ;20% số sản phẩm kém chất lợng Do đó , hiện tợnghàng hoá ứ đọng với khối lợng lớn và chiếm hơn 10% số vốn lu động củatoàn xã hội
- Hệ số sinh lời của khu vực kinh tế nhà nớc rất thấp
Trang 10VD : hệ số sinh lời của vốn lu động mang tính chất chung chỉ đạo7% /năm , trong đó ngành giao thông vận tảI đạt 2% / năm , ngành côngnghiệp khoảng 3%/năm , nghành thơng nghiệp 22%/năm …đã trở thành
Hệ số sinh lời của vốn lu động đạt 11%/năm trong đó các ngành
- Số các doanh nghiệp thua lỗ chiếm một tỷ trọng lớn :
Theo số liệu của tổng cục thống kê năm 1990 trong số 12084 cơ sởquốc doanh thì có tới 4584 đơn vị sản xuất kinh doanh thua lỗ , chiếmhơn 30% tổng số các doanh nghiệp nhà nớc Trong đó , quốc doanh trung
ơng kinh doanh thua lỗ có tới 501 cơ sở thua lỗ bằng 26,6 % số cơ sở do
TW quản lý , quốc doanh địa phơng có 4.083 cơ sở thua lỗ chiếm 39,9%
số đơn vị do địa phơng quản lý Các đơn vị thua lỗ trên đây có giá trị tàIsản cố định bằng 38% tổng giá trị tàI sản của toàn bộ khu vực kinh tế nhànớc Các số liệu đó cho thấy việc làm ăn thua lỗ của các DNNN đã gâytổn thất cho cho ngân sách nhà nớc và là một nguyên nhân gây bội chingân sách nhà nớc triền miên trong những năm qua Thêm vào đó nhà n-
ớc lại có hàng loạt chính sách bù giá , bù lơng bù chênh lệch ngoại thơng
và hàng loạt các khoản bao cấp khác cho các khoản vay nợ của nhà nớcngày càng nặng nề và trầm trọng Chỉ tính trong giai đoạn 1985-1990 , tỷ
lệ thâm hụt ngân sách thờng xuyên ở trên mức 30%
- Từ năm 1989 đến nay , nền kinh tế thực sự bớc sang hoạt độngtheo cơ chế thị trờng
Trang 11Các chính sách về kinh tế , tài chính đối với doanh nghiệp nhànuớc đã đợc thay đổi theo hớng tự do hoá giá cả Chi phí ngân sách nhà n-
ớc đã bù lỗ , bù giá , bổ sung vốn lu động cho khu vực này đã giảm đáng
kể Tuy nhiên , t tởng bao cấp trong đầu t vẫn còn nặng nề Tất cả cácdoanh nghiệp đẹc thành lập đều đợc bao cấp toàn bộ số vốn từ ngân sáchnhà nớc Hàng năm trên 85% vốn tín dụng với lãi suất u đãi đợc đợc dànhcho các DNNN vay Tài sản tiền vốn của nhà nớc giao cho doanh nghiệpchủ yếu là không đợc bảo tồn và phát triển Theo báo cáo của tổng cụcthống kê , hầu hết các DNNN mới chỉ bảo tồn đợc vốn lu động , còn vốn
cố định thì mới chỉ bảo tồn ở mức 50% so với chỉ số lạm phát .Hainghành chiếm giữ vốn lớn nhất là công nghiệp và thơng nghiệp (72,52%)lạI là hai nghành có tỉ lệ thất thoát vốn lớn nhất (16,41% và 14,95%) Vấn
đề nợ nần , vòng vo , mất khả năngthanh toán còn diễn ra khá nghiêmtrọng do tình trạng quản lý của nhà nớc về tài chính đối với các doanhnghiệp chậm đợc đổi mới , đồng thời có nạn tham nhũng lãng phí diến ra
tự chủ , không có thính năng động , táo bạo trong sản xuất kinh doanh
- Các DNNN đã từ lâu không đợc đặt trong môi trờng cạnh tranh ,không gắn với cơ chế thỉ trờng do đó chậm đổi mới công nghệ và nângcao chất lơng sản phẩm
- Tổ chức bộ máy trong các DNNN cồng kềnh , không có sự phânbiệt đầy đủ quyền sở hữu và quyền quản lý Tình trang làm chủ tập thểchung chung và kéo dài mà thực chất là vô chủ phổ biến ở hầu hết cacDNNN
- Việc phân phối thực chất không dựa trên nguyên tắc phân phốilao động mà chủ yếu nhằm phục vụ chính sách xã hội, mang nặng tínhquân chủ nghĩa