ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VỀ SÁP NHẬP, HỢP NHẤT DOANH NGHIỆP – PHÂN TÍCH 3 VỤ VIỆC MA TRONG THỰC TIỄN Ở VIỆT NAMCHƯƠNG 1: PHÂN TÍCH QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VỀ SÁP NHẬP, HỢP NHẤT DOANH NGHIỆP1.Quy định của pháp luật Việt Nam về sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp1.1.Khái niệm về sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệpCác khái niệm về sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp của Việt Nam tồn tại ở nhiều văn bản luật khác nhau như Luật doanh nghiệp 2005, Luật đầu tư 2005, Luật cạnh tranh 2004, Bộ luật Dân sự 2005, Thông tư số 042010TTNHNN ngày 11022010 quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng. Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu các quy định về hợp nhất và mua lại trong từng văn bản luật khác nhau.•Theo Luật doanh nghiệp 2005:Hợp nhất doanh nghiệp (khoản 1, điều 152, Luật doanh nghiệp 2005): Hai hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất.Sáp nhập doanh nghiệp (khoản 1, điều 153, Luật doanh nghiệp 2005): Một hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.•Theo Luật đầu tư 2005, hoạt động sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp được thể hiện theo nhiều dạng khác nhau:Điều 17, khoản 1, Luật đầu tư năm 2005, “Nhà đầu tư có quyền chuyển nhượng, điều chỉnh vốn hoặc dự án đầu tư”. Như vậy, đây chính là hoạt động sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp của dự án chứ không phải là hoạt động liên quan đến mua bán cổ phần.Ngoài ra, Theo điều 21, khoản 56, Luật đầu tư 2005, hình thức sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp còn được thể hiện như một trong những hình thức đầu tư trực tiếp: “Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp”.•Luật cạnh tranh 2004, Theo điều 17, thì sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp được thể hiện dưới các hình thức sau:Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất.•Bộ luật Dân sự, điều 94 và 95 có quy định về hợp nhất pháp nhân và sáp nhập pháp nhân như sau:Hợp nhất pháp nhân: Các pháp nhân cùng loại có thể hợp nhất thành một pháp nhân mới theo quy định của điều lệ, theo thoả thuận giữa các pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi hợp nhất, các pháp nhân cũ chấm dứt; các quyền, nghĩa vụ dân sự của các pháp nhân cũ được chuyển giao cho pháp nhân mới.Sáp nhập pháp nhân: Một pháp nhân có thể được sáp nhập (sau đây gọi là pháp nhân được sáp nhập) vào một pháp nhân khác cùng loại (sau đây gọi là pháp nhân sáp nhập) theo quy định của điều lệ, theo thoả thuận giữa các pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi sáp nhập, pháp nhân được sáp nhập chấm dứt; các quyền, nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được sáp nhập được chuyển giao cho pháp nhân sáp nhập.•Thông tư số 042010TTNHNN ngày 11022010 quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng thể hiện cụ thể như sau (khoản 1 và 2, điều 4):Sáp nhập tổ chức tín dụng là hình thức một hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng bị sáp nhập) sáp nhập vào một tổ chức tín dụng khác (sau đây gọi là tổ chức tín dụng nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của tổ chức tín dụng bị sáp nhập.Hợp nhất tổ chức tín dụng là hình thức hai hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng bị hợp nhất) hợp nhất thành một tổ chức tín dụng mới (sau đây gọi là tổ chức tín dụng hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợp nhất.Như vậy, theo quy định hiện tại thì pháp luật Việt Nam chưa đưa ra một định nghĩa thống nhất và cụ thể về hợp nhất và sáp nhập doanh nghiệp. Ở Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Canh tranh 2004 đều có quy định khái niệm về sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp. Thế nhưng hai khái niệm ở hai luật này lại không thống nhất với nhau. Cụ thể nếu so sánh về mặt từ ngữ thấy theo Luật Doanh nghiệp 2005 thì các công ty sáp nhập, hợp nhất phải là công ty “cùng loại” còn ở Luật Cạnh tranh 2004 thì không quy định cụm từ này. Đây cũng là một cụm từ dễ gây tranh cãi bởi rất khó có thể đoán được chính xác ý nghĩa thật sự mà các nhà làm luật ở đây muốn hướng tới. Không những thế, đến các văn bản hướng dẫn thì các nhà quản lý cũng bỏ qua việc hướng dẫn thế nào là “cùng loại”. Thực chất hiện tại cơ quan đăng ký kinh doanh của các địa phương cũng đang hiểu “cùng loại” ở đây là cùng về loại hình tổ chức doanh nghiệp. Và trong quá trình thực hiện thủ tục cho các doanh nghiệp thì các cơ quan đăng ký kinh doanh cũng xử lý theo cách hiểu này. Và từ thực tế này có thể suy ra rằng các công ty thuộc các loại hình tổ chức khác nhau thì không tiến hành các hoạt động sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp lại với nhau được. Từ đây, lại phát sinh thêm “cái khó” cho các doanh nghiệp khi thực hiện. Bởi các doanh nghiệp khi tiến hành xác định mục tiêu sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp thì yếu tố cùng mô hình tổ chức không phải là yếu tố hàng đầu mà họ quan tâm. Vì vậy các doanh nghiệp phải chuyển đổi loại hình tổ chức doanh nghiệp mình cho “cùng loại” nhau. Ở Luật Doanh nghiệp 2005 và Nghị định số 1392007NĐCP còn có hướng mở cho vấn đề này và các doanh nghiệp đành phải chấp nhận phương án này để có thể đạt được mục tiêu sáp nhập, hợp nhất của mình. Mặc dù cả hai luật này cùng điều chỉnh vấn đề sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp, thế nhưng để thực hiện vấn đề này chủ yếu phải dựa vào Luật Doanh nghiệp 2005 bởi đây là luật gốc quy định vấn đề này. Đặc biệt là đối với thủ tục thực hiện sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp là hầu như hoàn toàn phụ thuộc vào Luật Doanh nghiệp 2005. Do đó, việc giải thích sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp ở Luật Doanh nghiệp 2005 có ảnh hưởng rất lớn đến thủ tục thực hiện.
Trang 1ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VỀ SÁP NHẬP, HỢP NHẤT DOANH NGHIỆP – PHÂN TÍCH 3 VỤ VIỆC M&A TRONG THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
CHƯƠNG 1: PHÂN TÍCH QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DOANH
NGHIỆP VỀ SÁP NHẬP, HỢP NHẤT DOANH NGHIỆP
1 Quy định của pháp luật Việt Nam về sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp
1.1 Khái niệm về sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp
Các khái niệm về sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp của Việt Nam tồn tại ở nhiều văn bản luật khácnhau như Luật doanh nghiệp 2005, Luật đầu tư 2005, Luật cạnh tranh 2004, Bộ luật Dân sự 2005, Thông
tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010 quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng.Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu các quy định về hợp nhất và mua lại trong từng văn bản luật khác nhau
Theo Luật doanh nghiệp 2005:
Hợp nhất doanh nghiệp (khoản 1, điều 152, Luật doanh nghiệp 2005): Hai hoặc một số công ty cùng
loại (sau đây gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công tyhợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất,đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất
Sáp nhập doanh nghiệp (khoản 1, điều 153, Luật doanh nghiệp 2005): Một hoặc một số công ty cùng
loại (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công tynhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhậnsáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập
Theo Luật đầu tư 2005, hoạt động sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp được thể hiện theo nhiềudạng khác nhau:
Điều 17, khoản 1, Luật đầu tư năm 2005, “Nhà đầu tư có quyền chuyển nhượng, điều chỉnh vốn hoặc
dự án đầu tư” Như vậy, đây chính là hoạt động sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp của dự án chứ khôngphải là hoạt động liên quan đến mua bán cổ phần
Ngoài ra, Theo điều 21, khoản 5&6, Luật đầu tư 2005, hình thức sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệpcòn được thể hiện như một trong những hình thức đầu tư trực tiếp: “Đầu tư thực hiện việc sáp nhập vàmua lại doanh nghiệp”
Luật cạnh tranh 2004, Theo điều 17, thì sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp được thể hiện dưới cáchình thức sau:
Trang 2Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ
và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanhnghiệp bị sáp nhập
Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ
và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của cácdoanh nghiệp bị hợp nhất
Bộ luật Dân sự, điều 94 và 95 có quy định về hợp nhất pháp nhân và sáp nhập pháp nhân như sau:
Hợp nhất pháp nhân: Các pháp nhân cùng loại có thể hợp nhất thành một pháp nhân mới theo quy
định của điều lệ, theo thoả thuận giữa các pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩmquyền Sau khi hợp nhất, các pháp nhân cũ chấm dứt; các quyền, nghĩa vụ dân sự của các pháp nhân cũđược chuyển giao cho pháp nhân mới
Sáp nhập pháp nhân: Một pháp nhân có thể được sáp nhập (sau đây gọi là pháp nhân được sáp nhập)
vào một pháp nhân khác cùng loại (sau đây gọi là pháp nhân sáp nhập) theo quy định của điều lệ, theothoả thuận giữa các pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Sau khi sápnhập, pháp nhân được sáp nhập chấm dứt; các quyền, nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được sáp nhập đượcchuyển giao cho pháp nhân sáp nhập
Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010 quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổchức tín dụng thể hiện cụ thể như sau (khoản 1 và 2, điều 4):
Sáp nhập tổ chức tín dụng là hình thức một hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín
dụng bị sáp nhập) sáp nhập vào một tổ chức tín dụng khác (sau đây gọi là tổ chức tín dụng nhận sáp nhập)bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng nhận sápnhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của tổ chức tín dụng bị sáp nhập
Hợp nhất tổ chức tín dụng là hình thức hai hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín
dụng bị hợp nhất) hợp nhất thành một tổ chức tín dụng mới (sau đây gọi là tổ chức tín dụng hợp nhất)bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng hợp nhất,đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợp nhất
Như vậy, theo quy định hiện tại thì pháp luật Việt Nam chưa đưa ra một định nghĩa thống nhất và cụ
thể về hợp nhất và sáp nhập doanh nghiệp Ở Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Canh tranh 2004 đều cóquy định khái niệm về sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp Thế nhưng hai khái niệm ở hai luật này lại khôngthống nhất với nhau Cụ thể nếu so sánh về mặt từ ngữ thấy theo Luật Doanh nghiệp 2005 thì các công tysáp nhập, hợp nhất phải là công ty “cùng loại” còn ở Luật Cạnh tranh 2004 thì không quy định cụm từnày Đây cũng là một cụm từ dễ gây tranh cãi bởi rất khó có thể đoán được chính xác ý nghĩa thật sự màcác nhà làm luật ở đây muốn hướng tới Không những thế, đến các văn bản hướng dẫn thì các nhà quản lýcũng bỏ qua việc hướng dẫn thế nào là “cùng loại” Thực chất hiện tại cơ quan đăng ký kinh doanh của
Trang 3các địa phương cũng đang hiểu “cùng loại” ở đây là cùng về loại hình tổ chức doanh nghiệp Và trong quátrình thực hiện thủ tục cho các doanh nghiệp thì các cơ quan đăng ký kinh doanh cũng xử lý theo cáchhiểu này Và từ thực tế này có thể suy ra rằng các công ty thuộc các loại hình tổ chức khác nhau thì khôngtiến hành các hoạt động sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp lại với nhau được Từ đây, lại phát sinh thêm
“cái khó” cho các doanh nghiệp khi thực hiện Bởi các doanh nghiệp khi tiến hành xác định mục tiêu sápnhập, hợp nhất doanh nghiệp thì yếu tố cùng mô hình tổ chức không phải là yếu tố hàng đầu mà họ quantâm Vì vậy các doanh nghiệp phải chuyển đổi loại hình tổ chức doanh nghiệp mình cho “cùng loại” nhau
Ở Luật Doanh nghiệp 2005 và Nghị định số 139/2007/NĐ-CP còn có hướng mở cho vấn đề này và cácdoanh nghiệp đành phải chấp nhận phương án này để có thể đạt được mục tiêu sáp nhập, hợp nhất củamình Mặc dù cả hai luật này cùng điều chỉnh vấn đề sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp, thế nhưng để thựchiện vấn đề này chủ yếu phải dựa vào Luật Doanh nghiệp 2005 bởi đây là luật gốc quy định vấn đề này.Đặc biệt là đối với thủ tục thực hiện sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp là hầu như hoàn toàn phụ thuộc vàoLuật Doanh nghiệp 2005 Do đó, việc giải thích sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp ở Luật Doanh nghiệp
2005 có ảnh hưởng rất lớn đến thủ tục thực hiện
Một vấn đề khác liên quan đến khái niệm sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp
2005 đó là ở phần nội dung lại dùng thuật ngữ “công ty” chứ không sử dụng thuật ngữ “doanh nghiệp”
Mà theo Luật Doanh nghiệp 2005 thì doanh nghiệp tư nhân không được xem là công ty, dẫn đến việc cácdoanh nghiệp tư nhân không được phép tham gia sáp nhập, hợp nhất với nhau Tuy nhiên ở Luật Cạnhtranh 2004 thì dùng ngay thuật ngữ “doanh nghiệp” trong khái niệm đưa ra, cho thấy rằng một trongnhững vấn đề vướng mắc của việc sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp lại xuất phát từ sự không nhất quán vềkhái niệm từ các nguồn luật chi phối
Ta có thể thấy rằng, Luật đầu tư 2005 chỉ đề cập đến hoạt động sáp nhập, hợp nhất chứ không nêu lênkhái niệm Luật doanh nghiệp 2005 có khác biệt với Luật đầu tư 2005 về đối tượng điều chỉnh Luật doanhnghiệp 2005 xem xét hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp như là hình thức tổ chức lại doanh nghiệp xuất phát
từ nhu cầu tự thân của doanh nghiệp còn Luật đầu tư 2005 chủ yếu điều chỉnh hoạt động sáp nhập và hợpnhất một cách chung chung, chưa rõ ràng
Tóm lại, có thể nói rằng, theo pháp luật Việt nam hiện hành, sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp đượcxem xét dưới nhiều góc độ: như một trong các hành vi tập trung kinh tế, như một trong những hình thức tổchức lại doanh nghiệp và như một trong những hình thức đầu tư trực tiếp
1.2 Phân loại sáp nhập, hợp nhất
Sáp nhập, hợp nhất được phân loại theo nhiều tiêu chí và hình thức khác nhau như theo chiều dọc, theochiều ngang và hỗn hợp Pháp luật Việt Nam không quy định việc phân loại sáp nhập và hợp nhất, việcphân loại này chỉ nhằm mục đích tìm hiểu về các xu hướng sáp nhập, hợp nhất diễn ra trên thực tế
- Sáp nhập theo chiều ngang: sáp nhập giữa các công ty trên cùng một tuyến kinh doanh và trên cùngmột thị trường nhằm tăng hiệu quả và để chiếm được quyền lực thị trường;
Trang 4- Sáp nhập theo chiều dọc: sáp nhập giữa các công ty tham gia vào các giai đoạn khác nhau của quátrình sản xuất và tiếp cận thị trường, nhằm giảm chi phí giao dịch và các chi phí khác thông qua việc quốc
tế hóa các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất và phân phối;
- Sáp nhập hỗn hợp: sáp nhập giữa các công ty trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau và không cóliên quan, nhằm giảm cơ bản rủi ro và để khai thác các hình thức kinh tế khác nhau trong các lĩnh vực tàichính, tài nguyên…
1.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp
Hiện nay, khung pháp lý liên quan đến hoạt động sáp nhập và hợp nhất doanh nhiệp ở Việt Nam nằm
ở nhiều văn bản luật khác nhau như: Luật doanh nghiệp 2005, Luật đầu tư 2005, Luật cạnh tranh 2004,Luật chứng khoán 2006 và Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010 quy định về việc sáp nhập,hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng Mỗi văn bản luật trên chi phối hay điều chỉnh các vấn đề khác nhauliên quan đến hoạt động sáp nhập và hợp nhất
1.3.1 Luật doanh nghiệp 2005
Liên quan đến hoạt động sáp nhập và hợp nhất doanh nhiệp, luật này điều chỉnh cách thức tổ chức lạicông ty và các thủ tục đăng ký kinh doanh cần thực hiện với cơ quan nhà nước (khoản 2, điều 152 vàkhoản 2, điều 153)
1.3.2 Luật đầu tư 2005
Hoạt động sáp nhập doanh nghiệp được coi là một trong những hình thức đầu tư trực tiếp
1.3.3 Luật cạnh tranh 2004
Theo luật này, việc sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp là hành vi tập trung kinh tế, do đó việc sápnhập và hợp nhất doanh nghiệp bị cấm trong trường hợp tạo ra thị phần kết hợp của các doanh nghiệptham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan (khoản 2, điều 11, Luật cạnh tranh2004) Điều chỉnh của Luật cạnh tranh 2004 đối với hoạt động sáp nhập và hợp nhất chủ yếu là vấn đề liênquan đến tính cạnh tranh của ngành, hoặc sản phẩm nào đó trên thị trường Chẳng hạn, nếu một công nào
đó mua lại công ty khác mà tổng thị phần quá lớn sẽ dẫn đến tình trạng độc quyền có thể ảnh hưởng đếnquyền lợi của người tiêu dùng
Trang 51.4 Kết Luận
1.4.1 Định nghĩa sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp không rõ ràng
Trở ngại đối với hoạt động sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp tại Việt Nam khung pháp lý quyđịnh còn thiếu rõ ràng và không đầy đủ Việt Nam không có một đạo luật riêng về sáp nhập và hợp nhấtdoanh nghiệp Luật Doanh nghiệp chỉ quy định về sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp dừng lại ở mức độhướng dẫn về trình tự, thủ tục Luật Đầu tư coi sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp như là một trongnhững hình thức đầu tư trực tiếp và không có quy định cụ thể, rõ ràng về thủ tục đầu tư đối với nhà đầu tưnước ngoài khi tham gia thương vụ sáp nhập và hợp nhất
Luật doanh nghiệp 2005 không đưa ra một định nghĩa cụ thể về sáp nhập và hợp nhất doanhnghiệp, mà chỉ liệt kê và nêu lên cách thức tổ chức lại doanh nghiệp như: hợp nhất, sáp nhập doanhnghiệp Điều này cho thấy rằng, Luật doanh nghiệp 2005 chưa xem hoạt động sáp nhập và hợp nhất doanhnghiệp là một hàng hóa có thể kinh doanh trên thị trường
Luật đầu tư 2005 thì chỉ liệt kê các hình thức đầu tư chứ không định nghĩa một cách chính thức thếnào là sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp Theo điều 21, khoản 6 Luật đầu tư 2004 thì sáp nhập và mualại doanh nghiệp là hình thức đầu tư trực tiếp, nhưng lại không định nghĩa thế nào là sáp nhập và mua lạidoanh nghiệp
Những phân tích trên cho thấy rằng, Luật doanh nghiệp 2005 và Luật đầu tư 2005 không có sựthống nhất và chưa đưa ra một định nghĩa phù hợp cho sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp Luật cạnhtranh 2005 cũng đưa ra định nghĩa về sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp những dưới tên là hành vi tậptrung kinh tế
1.4.2 Thủ tục sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp chưa hoàn chỉnh
Xuất phát từ quan điểm của Luật doanh nghiệp 2005 không xem hoạt động sáp nhập và hợp nhấtdoanh nghiệp là một hàng hóa có thể kinh doanh, nên quy định về sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp củaLuật doanh nghiệp 2005 chưa cụ thể và hoàn chỉnh Luật doanh nghiệp 2005, không phân chia các loạicông ty mà chỉ đề cập đến công ty cổ phần nói chung Mà công ty cổ phần thì được chia thành hai nhóm:Công ty cổ phần đại chúng và công ty cổ phần chưa đại chúng, trong công ty cổ phần đại chúng thì lạiphân thành hai loại đó là công ty cổ phần đại chúng niêm yết và công ty cổ phần đại chúng chưa niêm yết
Mặc dù Luật chứng khoán 2006 điều chỉnh công ty cổ phần đại chúng, nhưng không điều chỉnhviệc tổ chức hoạt động doanh nghiệp như Luật doanh nghiệp 2005
Luật cạnh tranh 2004 hiện nay cấm các hoạt động sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp có thể dẫntới việc một doanh nghiệp có mức tập trung kinh tế lớn hơn 50% thị trường liên quan Tuy nhiên, vấn đềđặt ra là Luật cạnh tranh và các văn bản dưới luật không có quy định rõ ràng về khái niệm “thị trường liênquan” Và trong trường hợp một doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng (có nhiều thị trường khác nhau)
Trang 6thì tùy theo các cách tính khác nhau có thể dẫn đến kết quả là doanh ngghiệp đó có thể bị coi là có “tậptrung kinh tế” trên 50% hoặc có thể dưới.
1.4.3 Chưa quy định cụ thể hình thức thanh toán trong sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp
Luật doanh nghiệp 2005 quy định về sáp nhập, hợp nhất thì không quy định cụ thể hình thức thanhtoán Chẳng hạn như trường hợp, một công ty phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông của công ty khác đểđối lấy số cổ phiếu của cổ đông của công ty đó, hay nói cách khác đây là hình thức sáp nhập kiểu hoán đổi
cổ phiếu Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp 2005 vẫn chưa có khung pháp lý quy định vấn đề này Điều này
sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho các công ty, đặc biệt là các công ty cổ phần niêm yết trên thị trườngchứng khoán Việt Nam khi tiếp hành sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp
Từ các phân tích ở trên có thể thấy, các quy định liên quan đến hoạt động sáp nhập và hợp nhấtdoanh nghiệp ở Việt Nam được quy định trong nhiều văn bản khác nhau Tuy nhiên, các quy định này hầunhư mới chỉ dừng lại ở việc xác lập về mặt hình thức của hoạt động sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp,tức là mới chỉ giải quyết được các vấn đề về mặt“thay tên, đổi họ” cho doanh nghiệp Trong khi đó, sápnhập và hợp nhất doanh nghiệp là một giao dịch thương mại, tài chính, nó đòi hỏi phải có quy định cụ thể,phải được cung cấp thông tin nhanh chóng, chuyển giao và xác lập sở hữu, chuyển dịch tư cách phápnhân, cổ phần, cổ phiếu, các nghĩa vụ tài chính, người lao động, thương hiệu Đồng thời, còn hàng loạtvấn đề liên quan trực tiếp đến sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp mà pháp luật nước ta còn chưa có quyđịnh cụ thể như kiểm toán, định giá, tư vấn, môi giới, bảo mật, thông tin, cơ chế giải quyết tranh chấp…
Trang 7CHƯƠNG II PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ 3 VỤ M& A Ở VIỆT NAM
TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
A THƯƠNG VỤ VINPEARL SÁP NHẬP VÀO VINCOM
1 Vinpearl và Vincom trước khi sáp nhập
1.1 Công ty Cổ Phẩn Vinpearl – Công ty bị sáp nhập
* Lịch sử hình thành:
Công ty cổ phần Vinpearl, tiền thân là Công ty TNHH Đầu tư Phát triển Du lịch, Thương mại vàDịch vụ Hòn Tre được thành lập vào ngày 25/07/2001 với vốn điều lệ ban đầu là 60 tỷ đồng Từ tháng6/2010, công ty chính thức đổi tên thành công ty Cổ Phần Vinpearl Toàn bộ cổ phiếu của công ty đượcniêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP HCM với mã chứng khoán VPL Vốn điều lệ tại thời điểm06/2011 là 12.055 tỷ đồng
* Ngành nghề kinh doanh:
Hiện nay, các lĩnh vực kinh doanh chính mà Công ty theo giấy chứng nhận ĐKKD
1 Kinh doanh nhóm ngành nghề liên quan đến khách sạn, du lịch của Công Ty
2 Kinh doanh nhóm ngành nghề liên quan đến bất động sản của Công Ty
3 Kinh doanh nhóm ngành nghê khác phục vụ các hoạt động kinh doanh kinh doanh công ty
* Sở đồ tổ chức công ty cổ phần Vinpearl
Nguồn: http://vinpearl.com/
Trang 8* Danh sách công ty con vào ngày 30/9/2011
(tỷ đồng) Tổng tỷ lệ biểu quyết
* Tình hình kinh doanh công ty cổ phần Vinpearl
Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất Công ty Vinpearl năm 2008, 2009, 2010, 9m2011
* Những thế mạnh nổi bật của Vinpearl
- Khả năng xây dựng và quản lý chuyên nghiệp các khu resort phức hợp quy mô lớn
- Phát triển thành công các dự án BĐS nghỉ dưỡng và khách sạn tại Việt Nam
- Quỹ đất rộng lớn, nằm tại các vị trí du lịch đắc địa, trải dài trên khắp Việt Nam
- Năng lực quản lý và vận hành chuyên nghiệp
Trang 91.2 Công ty Cổ Phẩn Vincom – Công ty nhận sáp nhập
* Lịch sử hình thành:
Công ty Cổ phần Vincom (Vincom) tiền thân là Công ty Cổ phần Thương mại Tổng hợp ViệtNam, được chính thức thành lập vào ngày 3/5/2002 tại Hà Nội với vốn điều lệ ban đầu là 196 tỷ đồng.Vincom hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư, xây dựng, kinh doanh dịch vụ Bất động sản, Trung tâmthương mại và là chủ sở hữu của các dự án quy mô trên khắp các thành phố trên cả nước Toàn bộ cổphiếu của công ty được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP HCM với mã chứng khoán VIC Vốnđiều lệ tại thời điểm 06/2011 là 3.911 tỷ đồng
* Cơ cấu sở hữu và số lượng cổ đông của Công ty (tại thời điểm 09/02/2010)
* Các lĩnh vực hoạt động của Công ty
Trong quá trình hoạt động, Vincom JSC đã nhiều lần bổ sung thêm chức năng và hiện nay lĩnh vựchoạt động kinh doanh chính của Công ty theo Giấy chứng nhận ĐKKD bao gồm:
- Kinh doanh nhóm ngành nghề liên quan đến khách sạn, du lịch của Công Ty
- Kinh doanh nhóm ngành nghề liên quan đến bất động sản của Công Ty
- Kinh doanh nhóm ngành nghề khác phục vụ các hoạt động kinh doanh kinh doanh công ty
* Những thế mạnh nổi bật của Vincom:
Số lượng CP Tỷ lệ Số lượng CP Tỷ lệ Số lượng CP Tỷ lệ
Trang 10- Mô hình kinh doanh hiệu quả tại Việt Nam
- Có kinh nghiệm triển khai thành công nhiều dự án
- Sở hữu quỹ đất lớn tại các vị trí đắc địa
- Danh tiếng đã được khẳng định với các bất động sản chất lượng sao
- Đội ngũ quản lý nhiều kinh nghiệm
* Sơ đồ tổ chức của Công ty Cổ phần Vincom
Nguồn: www.vinpearl.com
Tình hình kinh doanh công ty cổ phần Vincom
Trang 11Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất Công ty Vincom năm 2008, 2009, 2010, 9m2011
2 Nguyên nhân của sự sáp nhập Vinpearl vào Vincom
Nhằm Phát huy và tập trung nguồn lực của cả hai công ty, nâng cao năng lực tài chính, phát triểnthương hiệu, mở rộng sản xuất kinh doanh và hoạt động đầu tư Vào tháng 01/2012 vừa qua công tyVinpearl đã sáp nhập vào công ty Vincom và chính thức hoạt động dưới mô hình tập đoàn Vingroup –Công ty Cổ phần
Sự kiện sáp nhập này nhằm tạo ra sức mạnh mới trong hoạt động quản trị doanh nghiệp, tập trung trítuệ và thống nhất chỉ đạo trong các phương thức, chiến lược đầu tư kinh doanh… Vincom hoạt động chínhtrong lĩnh vực BĐS còn Vinpearl là Du lịch Đây là hai lĩnh vực có sự liên quan mật thiết và bổ trợ chonhau nên sự sáp nhập này là rất hợp lý và chắc chắn sẽ tạo ra một sức bật mới trên thị trường Mặt khác,trong chiến lược vươn ra biển lớn, tham gia sâu rộng vào quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu, với sự sápnhập này, hứa hẹn sẽ hình thành một pháp nhân tập đoàn có tầm vóc quốc tế và đủ sức mạnh cạnh tranhvới các tập đoàn nước ngoài Ngoài ra, việc sáp nhập cũng hoàn toàn phù hợp với thông lệ Quốc tế và xuthế phát triển của các Tập đoàn bất động sản lớn trong khu vực và trên thế giới
3 Thương vụ sáp nhập công ty cổ phần Vinpearl (Vinpearl) vào công ty cổ phần Vincom (Vincom)
* Phương thức sáp nhập:
Công ty cổ phần Vincom (“Vincom”) sẽ nhận sáp nhập Công ty cổ phần Vinpearl (“Vinpearl”).Việc sáp nhập được thực hiện theo hình thức hoán đổi cổ phần Theo đó, Vincom sẽ phát hành thêm cổphần Vincom cho các cổ đông của Công ty Vinpearl để hoán đổi lấy 100% tổng số cổ phần Vinpearl đanglưu hành trên cơ sở tỉ lệ hoán đổi nêu dưới đây
Trang 12* Tỷ lệ hoán đổi: VPL:VIC = 1:0,77
01 cổ phần Công ty Vinpearl (Mã chứng khoán: VPL) đổi lấy 0,77 cổ phần Công ty Vincom (Mãchứng khoán: VIC)
* Nguyên tắc hoán đổi:
Cổ phần VIC hoán đổi mà cổ đông Công ty Vinpearl nhận được sẽ được làm tròn xuống đến hàngđơn vị, số cổ phần VIC lẻ (phần thập phân) phát sinh (nếu có) sẽ được hủy
Ví dụ: Cổ đông A sở hữu 1.243 cổ phần VPL, khi hoán đổi theo tỷ lệ VPL:VIC = 1: 0,77 sẽ được957,11 cổ phần VIC Sau khi làm tròn xuống đến hàng đơn vị, cổ đông A sẽ nhận được 957 cổ phần VIC
* Hình thức hoạt động của Công ty Vinpearl sau khi sáp nhập:
Sau khi hoàn thành việc hoán đổi cổ phần, Công ty Vincom sẽ tổ chức lại Công ty cổ phầnVinpearl thành Công ty TNHH một thành viên do Công ty Vincom sở hữu 100% vốn điều lệ Công ty cổphần Vinpearl sẽ chấm dứt tồn tại Công ty TNHH một thành viên sẽ được hưởng mọi quyền và lợi íchhợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và mọi nghĩa vụ tài sảnkhác từ Công ty cổ phần Vinpearl
* Phương án sử dụng lao động
Toàn bộ người lao động của Công ty Vinpearl vẫn tiếp tục làm việc tại Công ty TNHH một thànhviên (sau đây gọi tắt là “Đơn Vị Mới”) sau khi thực hiện sáp nhập Đơn Vị Mới sẽ kế thừa toàn bộ laođộng, các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ lao động từ Vinpearl Đơn Vị Mới có quyền sắp xếp lạilao động (nếu cần)
4 Tình hình hoạt động của Vingroup sau sáp nhập
Sau khi sáp nhập thì Vincom hoạt động dưới tên mới là Công ty Cổ phần Vingroup, nâng tổng sốvốn điều lệ lên gần 5.500 tỷ đồng và thông qua chiến lược xây dựng và phát triển Tập đoàn với 4 nhómthương hiệu:
- Vincom (Bất động sản)
- Vinpearl (Du lịch – giải trí)
- Vincharm (Chăm sóc sắc đẹp và sức khoẻ)
- Vinmec (Dịch vụ y tế chất lượng cao)
Trang 13Với tổng vốn điều lệ gần 9.300 tỷ đồng và giá trị vốn hóa đạt hơn 62 ngàn tỷ đồng (tính đến ngày28/2/2013), Vingroup là một trong những Tập đoàn kinh tế tư nhân hàng đầu Việt Nam, đang sở hữu vànắm quyền chi phối tại 30 dự án bất động sản quy mô lớn có vị trí đắc địa tại khắp các đô thị và địa danh
du lịch của cả nước
Ở bất cứ lĩnh vực nào, khi tham gia, Vingroup đều chứng tỏ vai trò người tiên phong và dẫn dắt sựthay đổi xu hướng tiêu dùng với việc đem đến cho thị trường những sản phẩm – dịch vụ theo tiêu chuẩnquốc tế Tính đến tháng 9/2012, với việc sở hữu và giữ quyền chi phối tại gần 30 dự án BĐS và du lịchcao cấp; có mức vốn hoá lớn nhất thị trường chứng khoán Việt Nam (gần 2,5 tỷ USD), Vingroup đangđược đánh giá là một trong những tập đoàn có sự phát triển năng động và bền vững nhất Việt Nam vớinhiều tiềm lực hội nhập quốc tế để vươn lên tầm khu vực và thế giới
Hoạt động chủ yếu của Vingroup là phát triển dự án, bán và cho thuê các trung tâm thương mại,văn phòng, căn hộ, biệt thự và bất động sản cao cấp tại các Thành phố lớn của Việt Nam Chiến lược củaTập đoàn là tận dụng những kinh nghiệm quý báu tại thị trường bất động sản Việt Nam để phát triển các
dự án đa năng, các khu đô thị, khách sạn và khu nghỉ dưỡng cao cấp tại các vị trí đắc địa ở những thànhphố lớn và các địa điểm du lịch nổi tiếng trên khắp Việt Nam Vingroup đã niêm yết trên sàn chứng khoán
TP HCM vào ngày 19/09/2007 và hiện là tập đoàn bất động sản niêm yết lớn nhất Việt Nam theo giá trịvốn hóa thị trường
- Tình hình tài chính của Vingroup:
Trang 14Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất tập đoàn Vingroup năm 2011 và 2012
* Đối tới tập đoàn Vingroup
Thuận lợi
- Tạo thành Tập đoàn BĐS lớn nhất Việt Nam và mang tầm khu vực, hoạt động trên toàn bộ các lĩnhvực BĐS tại Việt Nam, với mức vốn hoá lớn nhất thị trường Việt Nam
- Vingroup sẽ có quỹ đất gấp hơn 5 lần quỹ đất hiện có của Vincom
- Tận dụng được thế mạnh vốn có của hai công ty, tạo sức mạnh tổng hợp: Kinh nghiệm triển khai dự
án và kinh doanh BĐS của Vincom cộng hưởng với Quỹ đất dồi dào của Vinpearl
- Tăng cường năng lực tài chính và linh hoạt dòng tiền từ hệ thống các dự án đang triển khai mạnh
mẽ của Vincom và các dự án biệt thự nghỉ dưỡng cao cấp có mức sinh lời cao của Vinpearl
Như vậy: Ngoài những lợi ích kinh tế từ hoạt động kinh doanh của công ty thì từ việc sát nhập này
còn tạo ra một doanh nghiệp mới với quy mô vốn và tài sản lớn hơn Điều đó tăng năng lực cạnh tranh huy động vốn của doanh nghiệp trên thị truờng tài chính trong nước và đặc biệt trên thị trường quốc tế Bên cạnh đó, việc thu hút được sự quan tâm của các tổ chức và cá nhân đầu tư lớn trên thế giới sẽ tốt cho
cả thị trường nói chung.
Khó khăn
- Phải tổ chức lại “ con người, văn hóa công ty, bộ máy và hệ thống quản trị”
- Tốn nhiều chi phí, thời gian cho quá trình sáp nhập
- Chênh lệch giữa các mặt giữa 2 doanh nghiệp có thể dẫn đến mâu thuẩn
* Đối với đối thủ cạnh tranh của tập đoàn Vingroup
- Sau khi sáp nhập, Vingroup trở thành một tập đoàn có tiềm lực tài chính vững mạnh, trở thành đốithủ cạnh tranh lớn trên thị trường BĐS, góp phần thúc đẩy thị trường BĐS phát triển
B THƯƠNG VỤ MASAN MUA LẠI VINACAFE BIÊN HÒA
1 Masan và Vinacafe Biên Hòa trước khi tiến hành M& A
1.1 Công ty Masan trước khi mua Vinacafe
1.1.1 Masan group:
* Lịch sử hình thành:
Trang 15- Tên công ty: Công ty Cổ phần Tập đoàn Ma San (Masan Group),
- Trụ sở chính: Tòa nhà Central Plaza, Phòng 802, 17 Lê Duẩn Quận 1 Hồ Chí Minh
- Vốn điều lệ: 6.873 tỷ đồng
- Lịch sử hình thành: Công ty Cổ phần Tập đoàn Ma San (Masan Group) có tiền thân là Công ty Cổ
phần Hàng Hải Masan được thành lập vào 11/2004 với vốn điều lệ ban đầu là 3,2 tỷ đồng 15/11/2009,Masan Group chính thức niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, mã chứng khoán: MSN
* Ngành nghề kinh doanh:
- Nghiên cứu thị trường, sàng lọc các cơ hội kinh doanh mới và đánh giá chiến lược thâm nhập vào nhiềungành nghề; Các hoạt động tư vấn quản lý, tư vấn đầu tư (trừ tư vấn tài chính – kế toán)…
- Tăng vốn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh hiện nay và những khoản đầu tư mới
- Điều hành các công ty con và công ty liên kết, đồng thời tư vấn kế hoạch phát triển chiến lược;
* Cơ cấu tập đoàn Masan group
Trang 16Sơ đồ cấu trúc tập đoàn MASAN
Trong đó có một số công ty đáng chú ý như:
M
asan Consumer - là một trong những công ty hàng tiêu dùng nhanh lớn nhất và tăng trưởng nhanh nhất
tại Việt Nam với thị phần thống lĩnh trong các ngành hàng gia vị và thực phẩm tiện lợi
Techcombank - là ngân hàng thương mại cổ phần lớn thứ ba ở Việt Nam tính theo tổng tài sản và là ngân
hàng có lợi nhuận cao nhất Việt Nam tính theo tỷ suất lợi nhuận trên vốn trung bình (ROAE) trong năm 2011
và 2010 (Quyền sở hữu thực sự của Masan Group bao gồm cả các công cụ có thể chuyển đổi, và Masan
Group là cổ đông lớn nhất của Techcombank)
Masan Resources - Cuối năm 2010, Masan Resources hoàn thành thương vụ mua bán và sáp nhập doanh
nghiệp lớn nhất Việt Nam trong năm thông qua giao dịch mua lại Công ty liên doanh khai thác chế biếnkhoáng sản Núi Pháo với dự án khai thác vonfram và kim loại cơ bản
* Chiến lược kinh doanh:
- Chiến lược kinh doanh