Các văn bản này đã khắc phục một số điểm bất hợp lý trong hoạt động công chứng nhưng phải thừa nhận rằng nội dung của Nghị định 31/CP và Thông tư 1411 còn có quá nhiều bất cập, gây khó k
Trang 1NHỮNG BẤT CẬP TRONG NGHỊ ĐỊNH 75/CP
VỀ CÔNG CHÚNG VÀ CHỨNG THỰC
TRẦN VĂN BẢY ThS Giảng viên khoa Luật Hành chính, Trường Đại
học Luật TP HCM
Có thể nói hoạt động công chứng đã xuất hiện khá sớm ở Việt Nam(1) Khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã áp đặt kiểu mẫu công chứng của họ vào nước
ta mà điển hình là Sắc lệnh ngày 24 tháng 8 năm
1931 của Tổng thống Cộng hòa Pháp về tổ chức công chứng (được áp dụng ở Đông Dương theo Nghị định ngày 7 tháng 10 năm 1931 của Toàn quyền Đông Dương P.Pasquies) Sau Cách mạng tháng Tám năm
1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiếp tục
kế thừa mô hình công chứng đã có trước đó tuy có lược bỏ những quy định cũ trái với nền độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa Nhưng do những điều
Trang 2kiện khách quan mà trong suốt hơn 40 năm sau đó, hoạt động công chứng ở nước ta bị đình trệ, hầu như không tồn tại, mọi giao dịch, giấy tờ thuộc lĩnh vực công chứng đều do Ủy ban hành chính thực hiện Ngày 27 tháng 2 năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 45/HĐBT chính thức khôi phục lại hoạt động công chứng ở nước ta Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau Nghị định 45/HĐBT cũng đã cho phép những nơi chưa thành lập được Phòng Công chứng thì UBND tiếp tục thực hiện một số việc công chứng
Sau hơn 5 năm triển khai thực hiện Nghị định 45/HĐBT, bên cạnh những thành tựu bước đầu đã cho thấy văn bản này chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu giao dịch ngày càng gia tăng trong điều kiện nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta Ngày 18 tháng 5 năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định 31/CP về tổ chức và hoạt động của công chứng Nhà
Trang 3nước để thay thế Nghị định 45 /HĐBT Trên cơ sở
đó, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 1411-TT.CC ngày 3 tháng 10 năm 1996 để hướng dẫn thực hiện Nghị định 31/CP Các văn bản này đã khắc phục một
số điểm bất hợp lý trong hoạt động công chứng nhưng phải thừa nhận rằng nội dung của Nghị định 31/CP và Thông tư 1411 còn có quá nhiều bất cập, gây khó khăn, lúng túng trong hoạt động của các cơ quan công chứng, đặc biệt là gây nên sự phiền hà cho các cá nhân, tổ chức khi họ có yêu cầu công chứng
Để kịp thời giải quyết những bất cập đó, Chính phủ
đã ban hành Nghị định 75/CP ngày 8 tháng 12 năm
2000 (có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 năm 2001) về công chứng, chứng thực để thay thế Nghị định 31/CP Tiếp đó, ngày 14 tháng 3 năm 2001, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư 03/2001/TP-CC để hướng dẫn thực hiện Nghị định 75/CP
Trang 4Qua nghiên cứu và qua khảo sát thực tiễn hoạt động công chứng, chúng tôi nhận thấy Nghị định 75/CP còn nhiều điểm bất cập, chưa rõ ràng, thậm chí không chính xác, gây khó khăn, lúng túng trong hoạt động công chứng Trong phạm vi bài viết này, bước đầu chúng tôi xin nêu ra những vấn đề bất cập sau đây:
I VỀ KHÁI NIỆM CÔNG CHỨNG:
Điều 2 Nghị định 75/CP quy định:
Công chứng là việc Phòng Công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác, cũng như thực hiện các việc khác theo quy định của pháp luật
Chứng thực là việc UBND cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của
cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của pháp luật
Trang 5Tinh thần của Điều 2 nói trên thể hiện sự cố gắng phân định công chứng với chứng thực Tuy nhiên, việc chỉ dựa vào tiêu chí duy nhất là chủ thể có thẩm quyền thực hiện chứng nhận để phân định là không chính xác Theo chúng tôi, để làm rõ hoạt động nào là công chứng, hoạt động nào là chứng thực cần phải dựa vào bản chất của hoạt động ấy Bản chất của hoạt động công chứng là thông qua sự chứng nhận của cơ quan công quyền làm cho các văn bản, giấy tờ trở nên có độ tin cậy cao hơn so với các văn bản, giấy tờ chưa được công chứng, hay nói một cách khác là đem lại cho các văn bản, giấy tờ này “ dấu ấn” của công quyền Từ cách hiểu đó, chúng tôi cho rằng những loại việc gọi là chứng thực như quy định tại Điều 2 Nghị định 75/CP xét về bản chất phải được gọi là công chứng, để phân biệt với hành vi thị thực hành chính của Ủy ban nhân dân Bởi lẽ, xét về bản chất thì hành vi công chứng (và cả hành vi chứng thực có tính chất công chứng như quy định của Nghị định
Trang 6Hai là, bản chất của hành vi thị thực hành chính là sự nhận xét, áp đặt mang tính chất hành chính của chính quyền đối với một sự kiện pháp lý cụ thể nào đó và đối với công dân thuộc quyền quản lý của mình; còn bản chất của hành vi công chứng là việc chứng nhận
ý chí, nguyện vọng của đương sự khi họ lập các văn bản, giấy tờ phục vụ cho các giao dịch của họ(2)
Trang 7Như vậy, đã khá rõ là hành vi công chứng và hành vi thị thực hành chính là khác nhau Về mặt nguyên tắc, hành vi công chứng phải do cơ quan công chứng thực hiện; còn hành vi thị thực hành chính sẽ do cơ quan hành chính thực hiện Tuy nhiên, xuất phát từ lịch sử
và điều kiện thực tế ở nước ta, cũng như để giải quyết
sự quá tải của cơ quan công chứng, giảm thiểu sự phiền hà trong nhân dân thì không nhất thiết mọi việc công chứng đều quy định cho Phòng Công chứng Chúng tôi ủng hộ việc tiếp tục giao cho Ủy ban nhân dân thực hiện một số việc công chứng đơn giản, phổ biến nhưng cần nói rõ những việc ấy vẫn phải được gọi là công chứng chứ không vì giao cho Ủy ban nhân dân (hoặc một cơ quan nào đó) mà dẫn đến việc gọi khác đi là chứng thực hay thị thực Khi đó, bên cạnh việc thực hiện một số hành vi công chứng, Ủy ban nhân dân còn thực hiện các hành vi thị thực hành chính, một loại việc vốn dĩ thuộc chức năng quản lý của Ủy ban nhân dân
Trang 8Cần nói thêm rằng, theo Nghị định 75/CP và Pháp lệnh lãnh sự ngày 13 tháng 11 năm 1990 thì cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cũng có thẩm quyền chứng nhận một số loại việc Tuy nhiên, trong khái niệm về công chứng như đã nói trên không đề cập đến hành vi chứng nhận của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài Vậy hành vi chứng nhận của cơ quan này sẽ được gọi là gì? Tại Điều 25 Nghị định 75/CP quy định cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thẩm quyền công chứng các việc thuộc thẩm quyền của Phòng Công chứng và các việc khác theo quy định của Pháp lệnh lãnh sự, trừ việc giao kết hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, thế chấp bất động sản tại Việt Nam Như vậy, câu trả lời đã khá rõ là hành vi chứng nhận của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phải được xem là hành vi công chứng Bởi các lý do nói trên, chúng tôi kiến nghị trong các văn bản pháp luật điều chỉnh về công chứng cần đưa
Trang 9ra khái niệm chính xác về công chứng theo hướng những việc gì xét về bản chất là việc công chứng thì gọi là công chứng bất luận việc đó pháp luật giao cho
cơ quan nào đảm trách Việc làm rõ khái niệm công chứng chẳng những có ý nghĩa giúp phân biệt công chứng với thị thực hành chính mà nó còn có ý nghĩa quan trọng trong việc quy định trình tự, thủ tục công chứng, cũng như giá trị pháp lý của chứng thư
II VỀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN CÔNG CHỨNG:
Giá trị pháp lý của văn bản công chứng là một nội dung quan trọng nói lên bản chất nền công chứng của mỗi quốc gia
Điều 14 Nghị định 75/CP quy định:
Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp được thực hiện không đúng thẩm quyền hoặc không tuân theo quy định của pháp luật hoặc bị Tòa
án tuyên bố vô hiệu
Trang 10Quy định trên được hiểu là về mặt nguyên tắc văn bản đã được công chứng thì có giá trị chứng cứ, còn nếu văn bản mặc dù đã được công chứng nhưng rơi vào một trong ba trường hợp nói trên thì nó không phải là chứng cứ Trong khi đó, theo lý luận chứng cứ thì chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự pháp luật quy định, được các cơ quan tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ chứng minh trong vụ
án Như vậy, văn bản đã được công chứng bất luận trong trường hợp nào nếu nó thỏa mãn tính hợp pháp, tính khách quan, tính liên quan thì đều có thể trở thành chứng cứ (còn việc sử dụng chứng cứ đó để chấp nhận hay bác bỏ yêu cầu của đương sự nào đó lại là vấn đề khác)
Ví dụ: Hợp đồng mua bán động sản có giá trị trên 50 triệu đồng, theo quy định của Nghị định 75/CP phải
do Phòng Công chứng chứng nhận nhưng giả sử lại được chứng thực tại UBND cấp huyện Trong quá
Trang 11trình thực hiện hợp đồng phát sinh tranh chấp, các bên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết Trong trường hợp này, hợp đồng nói trên đã được chứng thực không đúng thẩm quyền nhưng vẫn có thể được Tòa án xem là chứng cứ trong vụ án
Tương tự như trên, các văn bản giấy tờ chưa được công chứng nhưng vẫn có thể được các cơ quan tiến hành tố tụng xem là chứng cứ để giải quyết vụ án Bởi các lý do như đã trình bày, chúng tôi cho rằng việc xác định giá trị pháp lý của chứng thư bằng cách xem nó có giá trị chứng cứ là chưa chính xác, vì nó không làm tăng giá trị pháp lý của chứng thư so với các văn bản, giấy tờ chưa được công chứng
Điều 14 Nghị định 75/CP sau khi xác định giá trị công chứng của các chứng thư có quy định thêm rằng: đối với hợp đồng đã được công chứng thì sẽ có giá trị thi hành đối với các bên giao kết
Trang 12Việc xác định giá trị thi hành chỉ “đối với các bên giao kết”, theo chúng tôi là chưa đầy đủ, bởi ngoài các bên giao kết, việc thực hiện hợp đồng, giao dịch còn có thể xuất hiện loại chủ thể thứ ba Ví dụ: trong hợp đồng mua bán nhà, sau khi đã được công chứng thì đương sự phải liên hệ với cơ quan thuế để đóng thuế trước bạ, sau đó làm thủ tục đăng bộ tại Sở địa chính - nhà đất Các cơ quan này căn cứ vào hợp đồng mua bán nhà đã có chứng nhận của cơ quan công chứng để tiếp nhận hồ sơ và giải quyết yêu cầu của đương sự (từ đó cũng có thể hiểu rộng ra là nếu hợp đồng mua bán nhà mà không có sự chứng nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì cơ quan thuế và cơ quan đăng bộ có quyền từ chối giải quyết yêu cầu của đương sự) Do vậy, chúng tôi cho rằng giá trị thi hành đối với hợp đồng, giao dịch đã được công chứng không chỉ đối với các bên giao kết mà nó còn có hiệu lực thi hành đối với các chủ thể có liên quan
Trang 13Cũng tại Điều 14 có quy định: “trong trường hợp bên
có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật”
Tuy nội dung trên không nói rõ là cơ quan Nhà nước nào có thẩm quyền giải quyết và giải quyết như thế nào, nhưng theo những quy định của pháp luật hiện hành thì trong trường hợp này đương sự phải khởi kiện ra Tòa án Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành điều tra, xác minh thu thập chứng cứ, hòa giải và xét xử theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Dĩ nhiên, các bên đương sự phải xuất trình chứng cứ để bảo vệ cho yêu cầu của mình Rõ ràng, trong trường hợp này mặc dù hợp đồng, giao dịch đã có sự chứng nhận của
cơ quan công chứng, nhưng khi có tranh chấp thì việc giải quyết tranh chấp cũng không khác gì với trường hợp hợp đồng, giao dịch chưa được công chứng Điều
đó có nghĩa là việc đương sự mất nhiều thời gian,
Trang 14công sức, tiền bạc (trong quá trình công chứng) cũng không bảo đảm sự an toàn pháp lý cho các giao dịch của mình và cũng có nghĩa hoạt động công chứng chưa thật sự “góp phần bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ
xã hội khác, phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN” như mục đích của hoạt động công chứng mà ngay trong Điều 1 Nghị định 75/CP
đã khẳng định
Việc xác định giá trị pháp lý của văn bản công chứng không thể không đề cập đến trường hợp văn bản công chứng vô hiệu Như trên đã nêu, Điều 14 Nghị định 75/CP quy định: văn bản công chứng có giá trị chứng
Trang 153 Văn bản công chứng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu Chúng tôi cho rằng, khi văn bản công chứng rơi vào trường hợp 1 hoặc trường hợp 2 sẽ là căn cứ pháp lý
để Tòa án tuyên bố vô hiệu chứ không phải khi rơi vào các trường hợp nói trên thì sẽ làm cho văn bản công chứng mặc nhiên vô hiệu Bởi ngoài Tòa án ra, không có cơ quan nào có quyền phán quyết văn bản công chứng vô hiệu Ngay trong Nghị định 75/CP cũng chỉ quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành chính đối với việc từ chối công chứng, chứ không có quy định nào cho phép các cơ quan hành chính được giải quyết khiếu nại về việc văn bản công chứng có vi phạm pháp luật để từ đó tuyên nó vô hiệu Trong khi đó, các văn bản pháp luật
về tố tụng đều có quy định cho phép Tòa án trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án có quyền tuyên
bố hủy bỏ văn bản của các cơ quan, tổ chức khác
Từ những phân tích nói trên chúng tôi kiến nghị:
Trang 16Một là, cần khẳng định các văn bản công chứng có giá trị bắt buộc thi hành đối với các chủ thể có liên quan
Hai là, khi có tranh chấp đối với hợp đồng, giao dịch
đã được công chứng thì đương sự có quyền yêu cầu Tòa án phán quyết Nếu có căn cứ cho rằng văn bản công chứng đó là hợp pháp thì Tòa án có quyền bắt buộc các chủ thể phải thi hành mà không cần giải quyết theo trình tự, thủ tục như các vụ tranh chấp hợp đồng, giao dịch chưa được công chứng Nếu kiến nghị này được chấp nhận thì đương nhiên phải xem xét, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan đến tố tụng và thi hành án dân sự
Ba là, chỉ có Tòa án mới có quyền phán quyết văn bản công chứng vô hiệu
III VỀ PHẠM VI VÀ THẨM QUYỀN CÔNG CHỨNG:
1 Về phạm vi công chứng:
Trang 17Điều 3 Nghị định 75/CP quy định: hợp đồng, giao dịch được công chứng trong trường hợp sau đây:
1 Hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải công chứng;
2 Hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định không phải công chứng nhưng cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu
Đây là quy định mới trong Nghị định 75/CP thể hiện
sự thông thoáng và mở rộng phạm vi công chứng so với Nghị định 31/CP trước đây Việc công chứng đối với hợp đồng, giao dịch trong trường hợp thứ hai, theo chúng tôi sẽ gặp phải những vướng mắc, lúng túng trong thực tiễn Trong điều kiện hiện nay, pháp luật nước ta chưa hoàn thiện, chưa làm rõ việc gì phù hợp pháp luật, việc gì không phù hợp pháp luật, do vậy phạm vi công chứng như đã nói trên là quá rộng, nếu triển khai thực hiện sẽ rất phức tạp Xin đơn cử trường hợp: giả sử trong thực tiễn đương sự yêu cầu