1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thay thế phân bón hóa học N bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ Đậu để tăng thu nhập cho nông dân và bảo vệ môi trường MS7

73 376 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những điểm nổi bật Đo lường năng lực và mức độ thành tạo của các cán bộ được đào tạo về sản xuất chế phẩm chất lượng cao và đào tạo nông dân và cán bộ khuyến nông trong việc áp dụng thà

Trang 1

Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn

Chương trình Hợp tác nông nghiệp và phát triển

nông thôn (CARD)

013/06VIE

Thay thế phân bón hoá học N bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu để tăng thu nhập cho nông dân và

bảo vệ môi trường

MS7: Báo cáo Tăng cường năng lực

Tháng 9 năm 2009

Trang 2

5 Báo cáo chi tiết 8

5.4 Đào tạo và khuyến nông 25

Trang 3

1 Thông tin các cơ quan tham gia dự án

Tên dự án: Thay thế phân bón N hóa học bằng chế phẩm vi

sinh cố định đạm cho cây họ đậu tại Việt nam để tăng thu nhập cho nông dân và cải thiện môi trường

Cơ quan Việt nam chủ trì dự án Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu (OPI)

Chủ nhiệm dự án Việt nam Ths Trần Yên Thảo

Cơ quan Úc NSW Department of Primary Industries

Đại học Sydney

Dr Roz Deaker

Bà Elizabeth Hartley Ông Greg Gemell

Thời gian hòan tất (đầu tiên) Tháng 3/2009

Thời gian hòan tất (sửa đổi) 11/2009

2 Cán bộ liên lạc

Tại Úc: trưởng nhóm

Tên: Dr David Herridge Telephone: 02 67631143

Chức vụ: Nhà Khoa học cao cấp Fax: 02 67631222

Cơ quan Sở các nghành Công

nghiệp cơ bản NSW

Email: david.herridge@dpi.nsw.gov.au

Tại Úc: cán bộ quản lý

Tên: Mr Graham Denney Telephone: 02 63913219

Chức vụ: Quản lý Tài chính Fax: 02 63913327

Cơ quan Sở các nghành Công

nghiệp cơ bản NSW

Email: graham.denney@dpi.nsw.gov.au

Tại Việt nam

8297336

Cơ quan Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có

dầu (OPI)

Email: yenthao@ioop.org.vn

yenthao9@yahoo.com

Trang 4

3 Tóm tắt dự án

4 Những điểm nổi bật

Đo lường năng lực và mức độ thành tạo của các cán bộ được đào tạo về sản xuất chế phẩm chất lượng cao và đào tạo nông dân và cán bộ khuyến nông trong việc áp dụng thành công chế phẩm ở đồng ruộng

Trong suốt thời gian 2007-08 ba viện nghiên cứu tham gia trong dụ án, OPI, IAS vàd SFI, sản xuất và sản phẩm bởi OPI Tại mỗi viện thì áp dụng các công nghệ sản xuất khác nhau chút ít Số lượng mẫu kiểm tra chất lượng là 261 mẫu từ tổng số 465 mẫu được gởi tới (60 từ IAS, 180 từ SFI và 225 từ OPI) Đã có 36, 108 và 117 mẫu được đánh giá chất lượng sản phẩm, của IAS, SFI và OPI, theo thứ tự 117 mẫu đã được kiểm tra trong năm 2007 và 144 mẫu trong năm 2008

Kết quả chỉ ra rằng số lượng rhizobia trong chế phẩm thay đổi từ <106 đến >109 cfu/g

và số lượng vi sinh vật tạp nhiễm <105 đến >106 cfu/g Tuy nhiên, hầu hết các mẫu (72%) có số lượng rhizobia cao, từ 5 x 108 và 3 x 109 cfu/g, và vi sinh vật tạp nhiễm thấp (≤106 cfu/g) Số lượng MNP từ <105 đến >108 rhizobia/g chế phẩm ẩm và có (75%) ≥108 rhizobia/g Tiêu chuẩn hiện tại của Úc là ≥ 1x109 rhizobial cfu/g chế phẩm than bùn ẩm và tạp nhiễm thì không phát hiện ỡ nồng độ pha loãng 10-6; MPN

≥108 Do đó, theo nghĩa tương đối, tỷ lệ cao các chế phẩm vi khuẩn nốt sần sản xuất

Nông dân Việt nam hiện nay bón phân đạm cho cây họ đậu như đậu tương và lạc mà không nhiễm chế phẩm vi sinh cố định đạm rhizobia Thay thế phân đạm hoá học bằng chế phẩm vi sinh sẽ tiết kiệm cho nông dân Việt nam khoảng 50-60 triệu đô la Úc/năm dùng vào đầu tư phân N hoá học, và cùng lúc, thúc đẩy mở rộng diện tích sản xuất cây

họ đậu Cũng có các lợi ích về môi trường khi sử dụng chế phẩm này Dự án này có mục tiêu là tăng sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm rhizobium thông qua tăng cường năng lực sản xuất, thực hiện chương trình bảo đảm chất lượng sản phẩm ở mức độ quốc gia (QA) và tăng cường nghiên cứu và phát triển R&D Tham gia trong dự án này là Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu (OPI), Viện Khoa học Nông nghiệp Miền nam (IAS) và Viện Quốc gia Nông hoá Thổ nhưỡng (NISF; hiện nay đổi tên là Viện Nông hoá Thổ nhưỡng (SFI)) Cơ quan Úc tham gia trong dự án là Sở Các nghành Công nghiệp cơ bản NSW và Trường Đại học Sydney Sử dụng chế phẩm vi sinh cố định đạm bởi nông dân

sẽ tăng lên thông qua sự phát triển và thực hiện một chương trình khuyến nông hiệu quả

và chương trình đào tạo ho cán bộ nghiên cứu, cán bộ khuyến nông của MARD và nông dân Lợi ích của chế phẩm và cố định đạm sinh học sẽ được trình diễn trên đồng ruộng

và thảo luận trong các hội thảo, hội nghị đầu bờ và các ấn bản khuyến nông Để chắc chắn tính ổn định của sản xuất và sử dụng, dự án này có sự tham gia của các công ty tư nhân trong việc marketing và “sản xuất thử” với mục đích là các công ty này sẽ mở rộng sản xuất và việc cung cấp chế phẩm sẽ tăng dần lên cùng lúc khi công nghệ và thị trường phát triển

Trang 5

bởi 3 viện tham gia trong dự án tại Việt nam có thể đạt được các tiêu chuẩn cho sản xuất chế phẩm chất lượng cao

Thay đổi về số lượng rhizobia và tạp nhiễm trong các mẻ sản xuất khác nhau là do khác nhau trong quá trình sản xuất và sự thành thạo của các phòng thí nghiệm Số lượng rhizobia sản xuất trong năm 2007 không ổn định nhưng đã được cải thiện trong năm 2008, chủ yếu do sự cải thiện về ẩm độ của chế phẩm tại OPI và quá trình khử trùng tại SFI Tại IAS, vấn đề với ẩm độ và khử trùng chưa được giải quyết một cách triệt để, kết quả là sự ổn định thấp và chất lượng chế phẩm thấp hơn Tuy nhiên, IAS tiếp tục cải thiện thành phần chất mang để cải thiện than bùn có chất lượng thấp

Chương trình đào tạo cho nông dân và cán bộ khuyến nông đựa trên các trình diễn đồng ruộng, tham gia trong các hội thảo, tài liệu khuyến nông và sự áp dụng chế phẩm trên đồng ruộng Thiết kế của các trình diễn đồng ruộng thì đơn giản, đa diểm trong các vùng sản xuất cây họ đậu chính tại Việt nam

Trong suốt 2007-2009 dã có 168 điểm trình diễn đồng ruộng sử dụng chế phẩm trên

10 tỉnh Các thí nghiệm trình diễn này có hai nghiệm thức: nhiễm với chế phẩm + không sử dụng hoặc sử dụng một lượng nhỏ phân hoá học N và nghiệm thức của nông dân là không nhiễm chế phẩm + sử dụng phân bón N Nông dân đã được mời đến các điểm trình diễn ít nhất là một lần Ở nhiều diểm ví dụ như DakNong, DakLak, Đồng Tháp nông dân đến lấy mẫu nốt sần, sinh khối cũng như năng suất hạt Ở mỗi điểm trình diễn, ít nhất 20 nông dân, cán bộ khuyến nông, cán bộ nông nghiệp đã đến và đánh giá (hơn 3400+ lượt người) Cán bộ dự án tại các viện nghiên cứu đào tạo nông dân và cán bộ khuyến nông về bản chất của chế phẩm vi khuẩn nốt sần, nó hoạt động

ra sao, nhiễm vào hạt như thế nào, xác định làm sao để biết chế phẩm đang hoạt động tốt, cố định N từ không khí và thu thập số liệu, tính toán hiệu quả như thế nào Nông dân và cán bộ khuyến nông quan sát sự phát triển của cây, so sánh sự mạnh khoẻ của

nó giữa các cây sử dụng chế phẩm và cây sử dụng phân bón hoá học N Họ đào rễ cây lên và quan sát nốt sần và học cách nhận diện các nốt sần hữu hiệu với màu hồng bên trong, khác với các nốt sần không hiệu quả có màu trắng Nông dân và cán bộ khuyến nông cũng học cách đánh giá hiệu quả bằng cách lấy mẫu cây đậu tương và lạc, cân sinh khối và cân hạt Nông dân rất hứng thú học về cố định đạm sinh học và đặt nhiều câu hỏi

Cũng như vậy, có 20 hội thảo đào tạo cho nông dân đã được tổ chức tại 10 tỉnh Trong mỗi hội thảo có 30–50 nông dân và cán bộ khuyến nông, cán bộ nông nghiệp tham gia, với tổng số khoảng 800 người tham dự Nông dân và cán bộ khuyến nông những người đã tham gia trong thí nghiêm đồng ruộng và trình diễn thường là có mặt trong các buổi hội thảo này Tại hội thảo nông dân và cán bộ khuyến nông được cung cấp thông tin về cố định đạm sinh học và chế phẩm vi khuẩn nốt sần, sử dụng như thế nào

Ở mỗi viện tự chuẩn bị bài nói chuyện với nông dân Các tờ bướm (khoảng 1500) đã được phát cho nông dân và cán bộ khuyến nông

Năng lực của công ty tư nhân cung cấp hệ thống phân phối chế phẩm chất lượng cao, cùng với việc tư vấn cho nông dân cách sử dụng

Trang 6

Năng lực của các công ty tư nhân về phân phối chế phẩm và hỗ trợ nông dân đã tăng lên Ba công tư tư nhân hiện nay tham gia tích cực vào dự án này – Công ty Tư nhân Ngọc Trung tại Tp Sơn La, tỉnh Sơn La, Công ty Cổ phần Việt Á Nghĩa Đàn tại Nghĩa Đàn, Nghệ An, Công ty Cổ phần Thiên Sinh (Komix) Công ty Cổ phần Sinh hoá Củ chi muốn phân phối chế phẩm nhưng họ không thể sắp xếp nhân sự của họ dể theo sát các trình diễn của nông dân Hy vọng rằng IAS có thể kết hợp với công ty này trong tương lai về phân phối và marketing Ngoc Trung và Viet A Nghia Dan là các công ty còn trẻ nhưng họ quan tấm đến sản xuất các sản phẩm sinh học như là chế phẩm vi khuẩn nốt sần và có khả năng lớn trong phân phối và sản xuất Với trợ giúp của ISF về phân phối giống mẹ và công nghệ, hai công ty này đã sản xuất và cung cấp cho nông dân chế phẩm cho đậu tương và lạc với diện tích trồng là 90 ha mỗi loại tại Nghệ An

và Sơn La

Komix hiện nay có một hệ thống phân phối phân bón sinh học trên hầu như ½ đất nước, trải từ miền trung đến miền nam Komix đã thực hiện các thí nghiệm và trình diễn với sự cung cấp chế phẩm từ OPI Trong năm 2008, họ đã làm một thí nghiệm đồng ruộng tại DakNong và hoàn tất 15 điểm trình diễn khác tại DakNong và Tây Ninh Komix cũng đã cung cấp chế phẩm cho vài ha trồng d8ậu tương và lạc cho nông dân khi họ thực hiện các điểm trình diễn tại địa phương

Đánh giá khả năng của các công ty tư nhân trong việc sản xuất chế phẩm nốt sần chất lượng cao

Tiềm năng thị trường của Việt nam khoảng 500 tấn/năm, dựa vào giả định liều lượng

sử dụng là 1 kg chế phẩm/ha và 50% diện tích áp dụng chế phẩm Số lượng này hoàn toàn vượt quá khả năng cung cấp của các viện nghiên cứu (hiện tại <20 tấn/năm) Do

đó, cần có sự tham gia của các công ty tư nhân

Sản xuất chế phẩm tại Sơn La và Nghệ An – SFI sản xuất giống dịch thể và cung cấp giống này cho công ty Dịch thể này được dùng tạo chế phẩm với than bùn đã khử trùng được chuẩn bị từ công ty ISF chuyển giao công nghệ khử trùng than bùn, nhiễm vào than bùn, đóng gói và bảo quản Chất lượng được kiểm tra bởi SFI trong quá trình sản xuất Sản phẩm cuối cùng được kiểm tra bởi một đơn vị độc lập Một số mẻ sản xuất đã được thực hiện và chế phẩm làm ra đã cung cấp cho 90 ha trồng đậu tương và đậu nảnh tại Nghệ An và Sơn La Tuy nhiên, giá sản phẩm cao do giá vận chuyển cao Sơn La và Nghệ An cách Hà nội nơi mà ISF sản xuất giống dịch thể khoảng 300 km Hơn nữa, luôn có các rủi ro xầy ra trong quá trình vận chuyển từ Hà nội đến Sơn La

và Nghệ An

Komix làm việc với OPI trong khuôn khổ dự án Có hai giai đoạn của quá trình Giai đoạn đầu là công ty thực hiện các thử nghiệm dựa vào chế phẩm sản xuất bởi OPI, thăm dò thị trường và phân phối cho nông dân Komix đánh giá tiềm năng của chế phẩm dựa vào s75 đánh giá sinh học và hiệu quả kinh tế tại các tỉnh tham gia OPI chuyển giao công nghệ cho Komix bao gồm thực hành thí nghiệm đồng ruộng với chế phẩm, tài liệu khuyến nông, các hoạt động khuyến nông (hội thảo đầu bờ, hội thảo) và cùng với Komix theo dõi các thí nghiệm và trình diễn Giai đoạn thứ 2 là để hình thành sản xuất tại Komix và sau đó tăng dần sản xuất tại đây OPI quản lý chất lượng

Trang 7

sản phẩm do Komix tạo ra, cung cấp giống mẹ hàng năm, cải tiến công nghệ và thúc đẩy cho sản xuất OPI đang chuẩn bị cho một sản xuất thử tại Komix vào tháng 12/2009 Chế phẩm tạo ra sẽ cung cấp theo đặt hàng của tỉnh Đồng Tháp cho đậu tương và lạc (100 ha cho đậu tương và 20 ha cho lạc)

Cung cấp tài liệu đào tạo và khuyến nông bao gồm các báo cáo đào tạo

và các bài học từ các chuyến thực tế

Các tài liệu này được trình bày trong các phụ lục Có 4 sự kiện chính liên quan đến đào tạo nhân lực cho các viện nghiên cứu tham gia dự án về công nghệ sản xuất

Hội thảo Quản lý Chất lượng, IAS, Tp HCM tháng 2- 2 năm 2007 Có 17 thành viên

từ các viện nghiên cứu và công ty tư nhân tham gia Hội thảo này được thiết kế bởi ALIRU và trình bày bởi Elizabeth Hartley (ALIRU), Greg Gemell (ALIRU) và Rosalind Deaker (Đại học Sydney) Mổi thành viên tham gia được nhận một tài liệu (workbook) và các ghi chú về tiến hành kiểm tra chất lượng sản phẩm:

Workbook: Hội thảo về Quản lý Chất lượng chế phẩm Vi khuẩn Nốt sần, 26thFebruary – 9th March 2007, soạn thảo bởi E Hartley, G Gemell, J Hartley (01/02/2007) 37 trang

Tài liệu hướng dẫn thực hành: Hội thảo về Quản lý Chất lượng chế phẩm Vi khuẩn Nốt sần, 26th February – 9th March 2007, soạn thảo bởi E Hartley, G Gemell, J Hartley (01/02/2007) 32 trang

• Đào tạo về công nghệ sản xuất chế phẩm, Suranaree University of Technology, Thailand, tháng 6/2007 Có 3 cán bộ khoa học của các viện nghiên cứu tham gia Hoạt động chú trọng đến các bài giảng, đào tạo trong phòng thí nghiệm và thăm các cơ sở sản xuất tại Thái lan Đào tạo này bao gồm các thông tin cơ bản

về rhizobia, công nghệ lên men bao gồm hệ thống lên men lớn và đơn vị sản xuất nhỏ (MPU), nguồn dinh dưỡng cho rhizobia, các vi sinh vật vùng rễ (PGP) và kỹ thuật xác định số lượng rhizobia và tạp nhiễm

• Đào tạo về chế phẩm vi khuẩn cố định đạm, Suranaree University of Technology, Thailand, tháng 10/2008 Bốn cán bộ nghiên cứu tham gia Hoạt động nhấn mạnh vào thực hành hơn là lý thuyết và bao gồm nhận diện các chủng rhizobia, sản xuất qui mô nhỏ và lớn và kiểm tra chất lượng sản phẩm Thành viên từ các viện nghiên cứu khác nhau tập trung vào các vấn đề họ quan tâm

• Study tour, Yên Thảo tại Úc, 11 – 12/2008 Trong một tháng các hoạt động chủ yếu là thực hiện nghiên cứu về nhận diện các chủng rhizobia, sự tồn tại của các chủng rhizobium của Úc, Việt nam và các chủng khác từ các nước khác nhau; tham gia tổng hợp chất lượng sản phẩm và hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm hiện tại ở Úc; chuẩn bị tài liệu cho thực hành sản xuất, xây dựng tiêu chuẩn và quản lý chất lượng để áp dụng tại Việt nam

Trang 8

Nghiên cứu đã thực hiện tại Khoa Nông nghiệp, Thực phẩm và Nguồn Thiên nhiên, Trường Đại học Sydney, từ 20 đến 28 tháng 11 năm 2008 và từ 15 đến 20 tháng 11, tại Đon vị Nghiên cứu Chế phẩm vi khuẩn Nốt sần (ALIRU), Công nghiệp Cơ bản NWS, Gosford

5 Báo cáo chi tiết

Báo cáo này bao gồm các điểm đòi hỏi như sau:

1 Đánh giá định hướng năng lực của nhân sự được đào tạo sản xuất chế phẩm chất lượng cao và để đào tạo nông dân và cán bộ khuyến nông áp dụng thành công chế phẩm

2 Năng lực của bộ phận tư nhân cung cấp hệ thống phân phối chế phẩm chất lượng cao cùng với việc hướng dẫn nông dân cách sử dụng

3 Đánh giá năng lực được cải thiện của các công ty tư nhân trong sản xuất chế phẩm chất lượng cao

4 Tài liệu đào tạo và khuyến nông bao gồm các báo cáo, bài học từ chuyến công tác thực tế

5.1 Đánh giá định hướng năng lực của nhân sự được đào tạo để sản xuất chế phẩm chất lượng cao và để đa tạo nông dân, cán bộ khuyến nông áp dụng thành công chế phẩm

5.1.1 Kiểm tra chất lượng chế phẩm sản xuất bởi 3 viện tham gia dự án

Tất cả các viện tham gia dự án đều tiến hành sản xuất chế phẩm sử dụng công nghệ của họ và gởi chế phẩm đến OPI để đánh giá chất lượng Chúng tôi sử dụng các phương pháp kiểm nghiệm chuẩn của ALIRU (úc) và có thay đổi chút ít cho phù hợp với điều kiện tại Việt nam Trong suốt 2 năm 2007-2008, số lượng mẫu được gởi đến phòng thí nghiệm chất lượng là 465 (60 từ IAS, 180 của SFI và 225 của OPI) Có 36,

108 và 117 mẫu được kiểm tra chất lượng từ IAS, SFI và OPI, theo thứ tự 117 mẫu kiểm trong năm 2007 và 144 năm 2008

Thông tin từ các mẫu kiểm tra chất lượng chỉ ra trong bảng 1 Đó là nguồn chế phẩm,

ký hiệu mẻ sản xuất, loại chế phẩm, cây chủ, chủng rhizobium, ngày nhận mẫu, ngày kiểm tra chất lượng và mã của mẫu Chế phẩm hầu hết là trên nền chất mang than bùn cho lạc và đậu tương Một số chế phẩm dạng dịch từ OPI (OPI-L-S-B3-CB1809, OPI-L-S-B3-SL1, OPI-L-S-B3-SL2) NC 92, CB 1809 and 4 local strains (GL1, GL2 cho lạc và SL1, SL2 cho đậu tương)

Ẩm độ được ghi ntrong bảng 2 Tổng quát chế phẩm sản xuất tại Việt nam có ẩm độ trong kgoảng 20–52%, phụ thuộc vào chất lượng than bùn và công nghệ từ các viện khác nhau Tuy nhiên ẩm độ của đa số mẫu trong khoảng 38–49% (80% mẫu) (Đồ thị 1) Đối với chế phẩm than bùn thì ẩm độ thích hợp là 40–50%

Trang 9

Tại IAS ẩm độ thay đổi trong khoảng 20 đến 52% (Đồ thị 2) trong khi đó ẩm độ ổn

định hơn ở SFI và OPI (79% số mẫu)

M oistur e content of inoculants tested dur ing 2007-2008

Số lượng rhizobium trong chế phẩm xác định bằng phương pháp đếm trực tiếp và gián

tiếp (MPN) Số lượng rhizobiua bằng phương pháp trực tiếp là từ <106 đđdến >109

(Bảng 3) Phương pháp cây trồng MPN tương quan chặt chẽ và giao động từ <105

đđdến to >108 (Bảng 4) Hầu hết chế phẩm (71%) có số lượng rhizobium 108 to 109

Trang 10

tế bào/g, đây là một kết quả tốt 26% mẫu có số lượng tế bào rhizobium từ 105 to 107

Có một số mẫu trong đó không có rhizobium hoặc là không phát hiện được cho tạp

nhiễm (chủ yếu cho nấm) cản trở rhizpbium

Sự cần thiết của phương pháp MPN được chỉ rõ trong mẫu IAS mẻ 3 và ISF mẻ 1 khi

mà phương pháp xác định trực tiếp không thực hiện được do quần thể tạp nhiễm quá

lớn (Bảng 5)

Số lượng tạp nhiễm trong chế phẩm chỉ ra trong bảng 5 Hầu hết các mẫu chế phẩm có

số lượng tế bào tạp nhiễm là 105 đdến 106 tế bào/g than bùn(75%) Một số mẫu có

lượng tế bào tạp nhiễm rất thấp i.e <10 cells/g, trong khi vài mẫu khác thì rất lớn 107

Groundnut Soybean Rhizobium strain name NC 92

IAS-P-B1-S-BC1809 (1-5)

IAS-P-B2-G-NC92 (1-5) IAS-P-B2-S-BC1809 (1-5)

IAS-P-B3-G-NC92 5)

(1-IAS-P-B3-S-BC1809 (1-5)

NC 92 GL1 GL2

-

Date of arrival 15/5/2008 10/9/2008 -

Date the batch tested 15/5/2008 12/9/2008 -

Lab code of samples IAS-P-B1-G-NC92 (1-5)

IAS-P-B1-G-GL1 (1-5) IAS-P-B1-G-GL2 (1-5)

IAS-P-B2-G-NC92 (1-5) IAS-P-B2-G-GL1 (1-5) IAS-P-B2-G-GL2 (1-5)

-

SFI-produced inoculants

Year 2007

Trang 11

Type of inoculants Peat Peat Peat Legume host Groundnut

Soybean

Groundnut Soybean

Groundnut Soybean Rhizobium strain name NC 92

GL1 GL2

CB 1809 SL1 SL2

NC 92 GL1 GL2

CB 1809 SL1 SL2

NC 92 GL1 GL2

CB 1809 SL1 SL2 Date of arrival 9/5/2007 10/10/007 20/11/2007 Date the batch tested 10/5/2007 12/10/2007 21/11/2007 Lab code of samples ISF-B1-NC92 (1-5)

ISF-B1-SL1 (1-5) ISF-B1-GL2 (1-5) ISF-B1-CB1809 (1-5) ISF-B1-SL1 (1-5) ISF-B1-SL2 (1-5)

ISF-B2 NC92 (1-5) ISF-B2 SL1 (1-5) ISF-B2 GL2 (1-5) ISF-B2-CB1809 (1-5) ISF-B2-SL1 (1-5) ISF-B2-SL2 (1-5)

ISF-B3—NC92 (1-5) ISF-B3 SL1 (1-5) ISF-B3-GL2 (1-5) ISF-B3-CB1809 (1-5) ISF-B3-SL1 (1-5) ISF-B3-SL2 (1-5)

Groundnut Soybean Rhizobium strain name NC 92

GL1 GL2

CB 1809 SL1 SL2

NC 92 GL1 GL2

CB 1809 SL1 SL2

NC 92 GL1 GL2

CB 1809 SL1 SL2 Date of arrival 22/5/2008 20/8/008 1/9/2008 Date the batch tested 23/5/2008 22/8/2008 4/9/2008 Lab code of samples ISF-B1-G-NC92 (1-5)

ISF-B1-G-SL1 (1-5) ISF-B1-G-GL2 (1-5) ISF-B1-CB1809 (1-5) ISF-B1-SL1 (1-5) ISF-B1-SL2 (1-5)

ISF-B2-G-NC92 (1-5) ISF-B2-G-SL1 (1-5) ISF-B2-G-GL2 (1-5) ISF-B2-CB1809 (1-5) ISF-B2-SL1 (1-5) ISF-B2-SL2 (1-5)

ISF-B3-G-NC92 (1-5) ISF-B3-G-SL1 (1-5) ISF-B3-G-GL2 (1-5) ISF-B3-CB1809 (1-5) ISF-B3-SL1 (1-5) ISF-B3-SL2 (1-5)

Soybean

Rhizobium strain name NC 92

GL1 GL2

CB 1809

NC 92 GL1 GL2

Trang 12

SL1 SL2

SL1 SL2

SL1 SL2 Date of arrival 2/4/2007 20/10/2007 22/12/2007 Date the batch tested 4/4/2007 25/10/2007 25/12/2007 Lab code of samples OPI-G-B1-NC92 (1-5)

OPI-G-B1-SL1 (1-5) OPI-G-B1-GL2 (1-5) OPI-S-B1-CB1809 (1-5) OPI-S-B1-SL1 (1-5) OPI-S-B1-SL2 (1-5)

OPI-G-B2-NC92 (1-5) OPI-G-B2-SL1 (1-5) OPI-G-B2-GL2 (1-5) OPI-S-B2-CB1809 (1-5) OPI-S-B2-SL1 (1-5) OPI-S-B2-SL2 (1-5)

-

-

- OPI-L-S-B3-CB1809 (1-5)

OPI-L-S-B3-SL1 (1-5) OPI-L-S-B3-SL2 (1-5)

Groundnut Soybean Rhizobium strain name NC 92

GL1 GL2

CB 1809 SL1 SL2

NC 92 GL1 GL2

CB 1809 SL1 SL2

NC 92 GL1 GL2

CB 1809 SL1 SL2 Date of arrival 1/3/2008 6/4/2008 1/7/2008 Date the batch tested 1/3/2008 6/4/2008 1/7/2008 Lab code of samples OPI-G-B1-NC92 (1-5)

OPI-G-B1-SL1 (1-5) OPI-G-B1-GL2 (1-5) OPI-S-B1-CB1809 (1-5) OPI-S-B1-SL1 (1-5) OPI-S-B1-SL2 (1-5)

OPI-G-B2-NC92 (1-5) OPI-G-B2-SL1 (1-5) OPI-G-B2-GL2 (1-5) OPI-S-B2-CB1809 (1-5) OPI-S-B2-SL1 (1-5) OPI-S-B2-SL2 (1-5)

OPI-G-B3-NC92 (1-5) OPI-G-B3-SL1 (1-5) OPI-G-B3-GL2 (1-5) OPI-L-S-B3-CB1809 (1-5)

OPI-L-S-B3-SL1 (1-5) OPI-L-S-B3-SL2 (1-5)

Groundnut Soybean Rhizobium strain name NC 92

OPI-B4-CB1809(1-10)

OPI-B5-NC92 (1-10) OPI-B5-CB1809 (1-10)

OPI-B6-NC92 (1-10) OPI-B6-CB1809 (1-10)

Trang 13

Bảng 2 Ẩm độ của chế phẩm

Moisture content (%) Inoculants

43.3

54.6 49.5

39.4

19.8 20.4 20.6

42

34.9 38.6 34.7 37.0 31.8 34.5

35.2

45.6 43.2 44.8 46.1 43.7 42.5

36.0

41.3 31.9 30.2 41.6 38.2 45.3

38.9

41.3 31.9 30.2 41.6 38.2 45.3

38.1 IOOP

45.5 46.6 45.8 44.7 44.6 45.8

Trang 14

37.0

37.3 38.2 37.9 38.4 40.0 39.3

38.5

41.1 37.5 36.4 38.6 39.2 37.3

37.7

38.3 37.4 38.2 34.8 39.4 40.2

38.2

39.2 37.4 40.5 38.7 39.6 40.7

39.4

Trang 15

Bảng 3 Số lượng tế bào rhizobium sống bằng phương pháp trực tiếp

Number/g Samples

Trang 17

Bảng 4 Số lượng rhizobiun bằng phương pháp gián tiếp MPN

Number/g Samples

Trang 18

damaged groundnut root (turned to black color)

Trang 19

Bảng 5 Số lượng tạp nhiễm trong chê phẩm

Number/g Samples

Trang 20

độ pha loãng 10-6; MPN ≥108 Do đó, theo nghĩa tương đối, một tỷ lệ cao của chế phẩm hiện tại sản xuất tại Việt nam có thể đáp ứng đòi hỏi đối với sản xuất chế phẩm chất lượng cao

Sự thay đổi số lượng rhizobia và tạp nhiễm trong các mẻ sản xuất khác nhau là kết quả

từ khác nhau trong cách tiến hành sản xuất và kinh nghiệm của mỗi viện Số lượng rhizobia không ổ định giũa các mẻ sản xuất trong năm 2007 (Đồ thị 3) nhưng đã ổn định trong năm 2008 Kết quả này là do có cải thiện trong công nghệ sản xuất Trong năm thứ hai chất lượng chế phẩm của ISF và OPI đã cải thiện rất nhiều, 108–109rhizobia/g và tạp nhiễm <107 cells/g và không có mẻ sản xuất nào bị nhiễm hoàn tàon

Trang 21

(D9ồ thị 3 và 4, Bảng 3–5) Kết quả này chủ yếu từ sự cải thiện ẩm độ của chế

phẩm tại OPI và khử trùng tại SFI Tại IAS, vấn đề với khử trùng và ẩm độ vẫn chưa

được cải thiệm mốt cách triệt để kết quả là ít ổn định và chất lượng chế phẩm thấp

hơn Tuy nhiên, IAS tiếp tục cải thiện công thức chất mang để mà tăng chất lượng chế

The quality control process at OPI worked extremely well and, clearly, the foundation

has been laid for a formal and expanded QA program in Vietnam in line with the

proposed expansion of inoculant production

Trang 22

Graph 5 Number of contaminants in inoculants

5.1.3 Năng lực của cán bộ các viện để đào tạo nông dân và cámn bộ

khuyến nông sử dụng chế phẩm

Chương trình đào tạo cho nông dân và cán bộ khuyến nông dựa vào các trình diễn

đồng ruộng, tham dự hội thảo, tài liệu khuyến nông và áp dụng chế phẩm trên đồng

ruộng Các trình diễn thì đon giản, thực hiện ở nhiều điểm khác nhau trong các vùng

trồng trọng điểm cây họ đậu tại Việt nam Các thí nghiệm có sự tham gia của nông

dân và cán bộ khuyến nông ở mọi khía cạnh, từ thiết kế thí nghiệm đến gieo hạt, lấy

mẫu, thu hoạch và đọc kết quả Các trung tâm khuyến nông và trung tâm khuyến nông

quốc gia đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động khuyến nông Số liệu thu được

từ các trình diễn đồng ruộng đã được so sánh hiệu quả kinh tế của sử dụng với sử

dụng phân bón hoá học N Trong tương lai, sau khi dự án này kết thúc các đào tạo

thêm vào sẽ được tổ chức cho nông dân, cán bộ khuyến nông và cán bộ nghiên cứu về

cách sử dụng, lợi ích kinh tế cũng như lợi ích môi trường của chế phẩm

Trong suốt 2007-2009 dã có 168 điểm trình diễn đồng ruộng sử dụng chế phẩm trên

10 tỉnh Các thí nghiệm trình diễn này có hai nghiệm thức: nhiễm với chế phẩm +

không sử dụng hoặc sử dụng một lượng nhỏ phân hoá học N và nghiệm thức của nông

dân là không nhiễm chế phẩm + sử dụng phân bón N Nông dân đã được mời đến các

điểm trình diễn ít nhất là một lần Ở nhiều diểm ví dụ như DakNong, DakLak, Đồng

Tháp nông dân đến lấy mẫu nốt sần, sinh khối cũng như năng suất hạt Ở mỗi điểm

trình diễn, ít nhất 20 nông dân, cán bộ khuyến nông, cán bộ nông nghiệp đã đến và

đánh giá (hơn 3400+ lượt người) Cán bộ dự án tại các viện nghiên cứu đào tạo nông

dân và cán bộ khuyến nông về bản chất của chế phẩm vi khuẩn nốt sần, nó hoạt động

ra sao, nhiễm vào hạt như thế nào, xác định làm sao để biết chế phẩm đang hoạt động

tốt, cố định N từ không khí và thu thập số liệu, tính toán hiệu quả như thế nào Nông

dân và cán bộ khuyến nông quan sát sự phát triển của cây, so sánh sự mạnh khoẻ của

nó giữa các cây sử dụng chế phẩm và cây sử dụng phân bón hoá học N Họ đào rễ cây

Trang 23

lên và quan sát nốt sần và học cách nhận diện các nốt sần hữu hiệu với màu hồng bên trong, khác với các nốt sần không hiệu quả có màu trắng Nông dân và cán bộ khuyến nông cũng học cách đánh giá hiệu quả bằng cách lấy mẫu cây đậu tương và lạc, cân sinh khối và cân hạt Nông dân rất hứng thú học về cố định đạm sinh học và đặt nhiều câu hỏi, như sau:

- Giá cả của chế phẩm như thế nào?

- Sử dụng bao nhiêu cho 1000m2 hay 1 ha?

- Mua chế phẩm ở đâu?

- Có các lọi ích gì bên cạnh tiết kiệm phân urea?

- Có thể sử dụng chế phẩm với các hoá chất bảo vệ thực vật?

- Có thể sử dụng chế phẩm cho các cây khác?

- Có phải nó bị ảnh hưởng bởi thời tiết xấu như là mưa to, nóng?

- Có thể sử dụng chế phẩm chung với phân bón hoá học N?

Và các đòi hỏi chính:

- Cung cấp chế phẩm cho nông dân để họ thử nghiệm trên ruộng của họ

- Trợ giúp về kỹ thuật cho nông dân sử dụng

Nông dân đã được cung cấp các tờ bướm giới thiệu cố định đạm sinh học, lợi ích theo nghĩa thay thế phân bón hoá học N, cải thiện năng suất và sử dụng chế phẩm như thế nào

Tất cả các viện tham gia tyrong dự án đều thành công các hoạt động khuyến nông tuy

có khác nhau về phương pháp thực hiện SFI và IAS tổ chức các thí nghiệm đồng ruộng, mời nông dân và cán bộ khuyến nông đến và đào tạo họ OPI sử dụng các nhân viên khuyến nông nhiều hơn cho công việc này với vai trò chính trong các thí nghiệm đồng ruộng Họ chuẩn bị các thí nghiệm từ ban đầu và liên lạc với nông dân trong khi OPI cung cấp cho họ cách thực hiện thí nghiệm đồng ruộng và tài liệu khuyến nông sau khi đã trao đổi Nhân viên OPI và nhân viên khuyến nông cùng nhau đến các điểm trình diễn ở các thời điểm quan trọng (gieo, nốt sần, sinh khối và thu hoạch, hội thảo đầu bờ) và giữa liên lạc chặt chẽ với nông dân trong suốt quá trình thực hiện Mục tiêu chính của sự hợp tác này là để các nhân viên khuyến nông trở nên quen thuộc với các thí nghiệm đồng ruộng và trình diễn về chế phẩm cho cây

họ đậu và sẽ trở thành nhân vật chính đào tạo nông dân một khi sử dụng chế phẩm được phát rộng rãi Bởi vì người địa phương sẽ biết rõ hơn ai hết về các kỹ thuật canh tác cho đậu tương hay lạc ở mỗi vùng nghĩa là giống tốt nhất, phương thức bảo vệ thực vật, tưới tiêu, áp dụng phân bón… Trường hợp này ở các tỉnh Bình Định (Miền Trung), dong Tháp, An Giang và Trà Vinh (Đồng bằng Mekong)

Liên quan đến hoạt động khuyến nông, có 20 hội thảo đào tạo cho nông dân đã được

tổ chức tại 10 tỉnh Trong mỗi hội thảo có 30–50 nông dân và cán bộ khuyến nông, cán bộ nông nghiệp tham gia, với tổng số khoảng 800 người tham dự Nông dân và cán bộ khuyến nông những người đã tham gia trong thí nghiêm đồng ruộng và trình diễn thường là có mặt trong các buổi hội thảo này Tại hội thảo nông dân và cán bộ

Trang 24

khuyến nông được cung cấp thông tin về cố định đạm sinh học và chế phẩm vi khuẩn nốt sần, sử dụng như thế nào Ở mỗi viện tự chuẩn bị bài nói chuyện với nông dân Các tờ bướm (khoảng 1500) đã được phát cho nông dân và cán bộ khuyến nông

5.2 Năng lực của công ty tư nhân cung cấp hệ thống phân phối chế phẩm chất lượng cao, cùng với tư vấn cho nông dân sử dụng chế phẩm

Ở giai đoạn này có ba công tư tư nhân hiện nay tham gia tích cực vào dự án này – Công ty Tư nhân Ngọc Trung tại Tp Sơn La, tỉnh Sơn La, Công ty Cổ phần Việt Á Nghĩa Đàn tại Nghĩa Đàn, Nghệ An, Công ty Cổ phần Thiên Sinh (Komix) Công ty

Cổ phần Sinh hoá Củ chi muốn phân phối chế phẩm nhưng họ không thể sắp xếp nhân

sự của họ dể theo sát các trình diễn của nông dân Hy vọng rằng IAS có thể kết hợp với công ty này trong tương lai về phân phối và marketing Ngoc Trung và Viet A Nghia Dan là các công ty còn trẻ nhưng họ quan tấm đến sản xuất các sản phẩm sinh học như là chế phẩm vi khuẩn nốt sần và có khả năng lớn trong phân phối và sản xuất Với trợ giúp của ISF về phân phối giống mẹ và công nghệ, hai công ty này đã sản xuất

và cung cấp cho nông dân chế phẩm cho đậu tương và lạc với diện tích trồng là 90 ha mỗi loại tại Nghệ An và Sơn La

Komix hiện nay có một hệ thống phân phối phân bón sinh học trên hầu như ½ đất nước, trải từ miền trung đến miền nam (Phụ lục 5, trong báo cáo lần thứ hai) Komix

đã thực hiện các thí nghiệm và trình diễn với sự cung cấp chế phẩm từ OPI Trong năm 2008, họ đã làm một thí nghiệm đồng ruộng tại DakNong và hoàn tất 15 điểm trình diễn khác tại DakNong và Tây Ninh Komix cũng đã cung cấp chế phẩm cho vài

ha trồng đậu tương và lạc cho nông dân khi họ thực hiện các điểm trình diễn tại địa phương

5.3 Đánh giá sự cải thiện năng lực của các công ty tư nhân trong sản xuất chế phẩm chất lượng cao

Tiềm năng thị trường của Việt nam khoảng 500 tấn/năm, dựa vào giả định liều lượng

sử dụng là 1 kg chế phẩm/ha và 50% diện tích áp dụng chế phẩm Số lượng này hoàn toàn vượt quá khả năng cung cấp của các viện nghiên cứu (hiện tại <20 tấn/năm) Do

đó, cần có sự tham gia của các công ty tư nhân

Tại Việt nam chưa có lịch sử các công ty tư nhân sản xuất một số lượng đáng kể chế phẩm cố định đạm nốt sần Ban đầu công ty tư nhân Fitohoocmon được dự định như

là một công ty chính tham gia vào dự án cho sản xuất chế phẩm tại Việt nam do tài liệu của công ty cho thấy công ty sản xuất chế phẩm Tuy nhiên sau đó công ty này đã rút ra khỏi dự án sau khi họ đề xuất sản xuất chế phẩm cùng với cách sản xuất phân bón sinh học tại Việt nam, tức là sử dụng lượng than bùn không khử trùng rất lớn và trộn với các loại phân bón khác (sử dụng tới 5 tấn/ha) Điều này không đáp ứng với mục tiêu của dự án là sản xuất và thị trường hoá sản phẩm chất lượng cao, sử dụng liều lượng khoảng 1 kg/ha

Trang 25

Tại miền bắc, Công ty Tư nhân Ngọc Trung tại Sơn La và công ty Việt Á Nghĩa Đàn tại Nghệ An và tại miền nam công ty Thiên Sinh (Komix) đã quan tâm đến mục tiêu của dự án và tham gia tích cực vào dự án

Sản xuất chế phẩm tại Sơn La và Nghệ An – SFI sản xuất giống dịch thể và cung cấp giống này cho công ty Dịch thể này được dùng tạo chế phẩm với than bùn đã khử trùng được chuẩn bị từ công ty ISF chuyển giao công nghệ khử trùng than bùn, nhiễm vào than bùn, đóng gói và bảo quản Chất lượng được kiểm tra bởi SFI trong quá trình sản xuất Sản phẩm cuối cùng được kiểm tra bởi một đơn vị độc lập Một số mẻ sản xuất đã được thực hiện và chế phẩm làm ra đã cung cấp cho 90 ha trồng đậu tương và đậu nảnh tại Nghệ An và Sơn La Tuy nhiên, giá sản phẩm cao do giá vận chuyển cao Sơn La và Nghệ An cách Hà nội nơi mà ISF sản xuất giống dịch thể khoảng 300 km Hơn nữa, luôn có các rủi ro xầy ra trong quá trình vận chuyển từ Hà nội đến Sơn La

và Nghệ An

Komix làm việc với OPI trong khuôn khổ dự án Có hai giai đoạn của quá trình Giai đoạn đầu là công ty thực hiện các thử nghiệm dựa vào chế phẩm sản xuất bởi OPI, thăm dò thị trường và phân phối cho nông dân Komix đánh giá tiềm năng của chế phẩm dựa vào đánh giá sinh học và hiệu quả kinh tế tại các tỉnh tham gia OPI chuyển giao công nghệ cho Komix bao gồm thực hành thí nghiệm đồng ruộng với chế phẩm, tài liệu khuyến nông, các hoạt động khuyến nông (hội thảo đầu bờ, hội thảo) và cùng với Komix theo dõi các thí nghiệm và trình diễn Komix đã được OPI mời tham gia các hội thảo do OPI tổ chức cho nông dân và cán bộ khuyến nông Komix đã thực hiện 16 thí nghiệm đồng ruộng và trình diễn đồng ruộng tại DakNong và tây Ninh cho đậu tương và lạc Komix đã tham gia hội thảo tại tỉnh Trà Vinh Giai đoạn thứ 2 là để hình thành sản xuất tại Komix và sau đó tăng dần sản xuất tại đây OPI quản lý chất lượng sản phẩm do Komix tạo ra, cung cấp giống mẹ hàng năm, cải tiến công nghệ và thúc đẩy cho sản xuất OPI đang chuẩn bị cho một sản xuất thử tại Komix vào tháng 12/2009 Chế phẩm tạo ra sẽ cung cấp theo đặt hàng của tỉnh Đồng Tháp cho đậu tương và lạc (100 ha cho đậu tương và 20 ha cho lạc)

5.4 Cung cấp các tài liệu đào tạo và khuyến nông bao gồm các báo cáo đào tạo và các bài học từ các chuyến đi thực tế

Sản xuất chế phẩm Các hội thảo đào tạo tại Trường Đại học Suranaree, Thailand

Mục tiêu của các đào tạo này (4-22/6/2007) là để tăng cường năng lực của các cán bộ khoa học Việt nam để mà cải thiện công nghệ sản xuất chế phẩm tại Việt nam Bản chất lý thuyết và thực hành của đào tạo này sẽ nhanh chóng áp dụng vào công nghệ tại Việt nam Hoạt động chú trọng đến các bài giảng, đào tạo trong phòng thí nghiệm và thăm các cơ sở sản xuất tại Thái lan Đào tạo này bao gồm các thông tin cơ bản về rhizobia, công nghệ lên men bao gồm hệ thống lên men lớn và đơn vị sản xuất nhỏ (MPU), nguồn dinh dưỡng cho rhizobia, các vi sinh vật vùng rễ (PGP) và kỹ thuật xác định số lượng rhizobia và tạp nhiễm (xem chi tiết Phụ lục 2) Có 3 cán bộ nghiên cứu tham gia trong khoá học này

Trang 26

Đào tạo thứ hai cho 4 cán bộ nghiên cứu của các viện tham gia dự án về công nghệ sản xuất chế phẩm và QA tại trường Đại học Công nghệ Suranaree (Thailand), from 5–19 tháng 10/2008 Báo cáo chi tiết xem trong Phụ lục 3 Mục tiêu của đào tạo này là tăng cường kỹ năng của cán bộ nghiên cứu khoa học Việt nam để cải thiện công nghệ sản xuấtvà quản lý chất lượng tại Việt nam Đào tạo này chú trọng đến thực hành hơn

là lý thuyết và bao gồm nhận diện các chủng rhizobium, sản xuất chế phẩm qui mô nhỏ và lớn và kiểm tra chất lượng sản phẩm Học viên từ các viện chú trọng đến các vấn đề cần quan tâm riêng của mình Nhận diện các chủng rhizobium thì vô cùng quan trọng ở tất cả các viện Tính thuần chủng của chủng giống trên cả hai, agar và dung dịch có thể được xác định bởi hình thái khuẩn lạc, hình thái tế bào và kỹ thuật FA Tuy nhiên, kỹ năng thuộc về vi sinh vật của mỗi người mà thực hiệm các test này thì rất quan trọng Hầu hết các cán bộ tham gia cần thiết được đào tạo hơn nữa và tự họ tích luỹ kinh nghiệm

Hội thảo QA Workshop, IAS, Tp HCM

Hội thảo (26/2 – 9/3, 2007) có mục tiêu là trang bị cho cán bộ nghiên cứu của Việt nam và kỹ thuật viên với tổng kết đòi hỏi và qui trình thực hiện cho kiểm tra chất lượng chế phẩm nốt sần cho cây họ đậu, và để tăng cường kỹ năng sao cho chế phẩm này tại Việt nam được kiểm soát thường xuyên về chất lượng Cho rằng hiểu biết rõ về các chỉ tiêu của chất lượng sẽ cải thiện sản xuất chế phẩm và tăng sự sẵn có cũng như

sự áp dụng tại Việt nam Các hướng dẫn thực hành đã được trình bày dựa trên chương trình kiểm tra chất lượng sử dụng bởi Sở Các Nghành Công nghiệp Cơ bản của NSW – Đơn vị Nghiên cứu Chế phẩm vi khuẩn nốt sần cho cây họ đậu (ALIRU) tại Úc Hội thảo chia ra làm hai học phần Đầu tiên học viên được trang bị kinh nghiệm thực hành trong thực hiện kiểm tra chất lượng và thứ hai, thực hành kiểm tra chất lượng được thảo luận theo hướng phù hợp với điềui kiện của Việt nam

Danh sách các cán bộ và 17 học viên chỉ trong Phụ lục 1 Hội thảo được thiết kế bởi cán bộ ALIRU và được trình bày bởi Elizabeth Hartley (ALIRU), Greg Gemell (ALIRU) và Rosalind Deaker (Đại học Sydney)

Mổi thành viên tham gia được nhận một tài liệu (workbook) và các ghi chú về tiến hành kiểm tra chất lượng sản phẩm:

Workbook: Hội thảo về Quản lý Chất lượng chế phẩm Vi khuẩn Nốt sần, 26thFebruary – 9th March 2007, soạn thảo bởi E Hartley, G Gemell, J Hartley (01/02/2007) 37 trang

Tài liệu hướng dẫn thực hành: Hội thảo về Quản lý Chất lượng chế phẩm Vi khuẩn Nốt sần, 26th February – 9th March 2007, soạn thảo bởi E Hartley, G Gemell, J Hartley (01/02/2007) 32 trang

Chuyến đi nghiên cứu thực tế

Thực hiện bởi Trần Yên Thảo Hoạt động chủ yếu là nghiên cứu về nhận diện các chủng rhizobium cho đậu tương và lạc Các chủng có nguồn gốc từ Úc, Việt nam cũng như từ các nước khác; tham gia tổng kết chất lượng và quản lý chất lượng các chế

Trang 27

phẩm hiện nay tại Úc và chuẩn bị các tài liệu cho việc soạn thảo thực hành sản xuất và quản lý chất lượng để mà áp dụng tại Việt nam

Nghiên cứu đã thực hiện tại Khoa Nông nghiệp, Thực phẩm và Nguồn Thiên nhiên, Trường Đại học Sydney, từ 20 đến 28 tháng 11 năm 2008 và từ 15 đến 20 tháng 11, tại Đon vị Nghiên cứu Chế phẩm vi khuẩn Nốt sần (ALIRU), Công nghiệp Cơ bản NWS, Gosford

Bộ các chủng vi khuẩn cố định đạm cho cây đậu tương và lạc bao gồm 34 chủng có nguồn gốc từ Úc, Mỹ, Achentina, Hàn Quốc và Việt nam đã được sử dụng trong quá trình nghiên cứu Các chủng này đầu tiên được cấy ria trên môi trường YEM có bổ sung Cogo red trong vònh 7 ngày để xác định tính thuần chủng Các chủng này sau đó được cấy chuyền trên môi trường YEM để giữ giống và thực hiện các nghiên cứu

Trong nghiên cứu và sản xuất các chế phẩm vi sinh vật nói chung và chế phẩm vi sinh cố định đạm nói riêng, sự nhận diện các vi sinh vật đóng vai trò quan trọng Trong quá trình cấy chuyền vi sinh vật rất nhiều khả năng vi sinh vật bị tạp nhiễm và có thể xảy ra quá trình thay đổi về di truyền dẫn đến sự thay đổi hoạt tính sinh học Nhận diện các chủng bao gồm nhận diện về hình thái, nhận diện về bản chất di truyền của chủng Các nhận diện về hình thái bao gồm: các đặc tính hình thái khuẩn lạc, hình thái tế bào Các chủng (34 chủng) đã được xác định về hình thái khuẩn lạc trên môi trường YEM, tiến hành nhuộm Gram và quan sát hình thái tế bào thông qua kính hiển vi Các chủng này cũng được tiến hành PCR Các bước bao gồm ly trích DNA, nhân PCR 16S rDNA, kiểm tra sản phẩm DNA trên gel agarose Nghiên cứu này đang được tiếp tục với nội dung giải mã gien sử dụng bộ genome của Úc

Than bùn là cơ chất được sử dụng nhiếu nhất trong sản xuất, ở dạng khử trùng và không khử trùng Chế phẩm trên nền chất mang than bùn khử trùng vẫn được lựa chọn nhiều hơn bởi vì chúng có chứa số lượng tế bào sống trong chế phẩm nhiều hơn 100 lần so với chế phẩm trên nền than bùn không khử trùng Số lượng tế bào đạt tới 109 tế bào/g Tại

Úc hầu hết các chế phẩm vi sinh cố định đạm sử dụng chất mang than bùn khử trùng mặc

dù đòi hỏi của thị trường có thay đổi (chế phẩm trên hạt, chế phẩm hạt áp dụng vào đất) Than bùn được khử trùng bằng tia gamma Tuy nhiên phương pháp khử trùng này đắt tiền

và có thể là một vấn đề cho các nhà sản xuất vừa và nhỏ tại Việt nam Cần có khảo sát về việc khử trùng bằng tia gamma, đặc biệt xem xét khía cạnh hiệu quả kinh tế Nếu số lượng tế bào ít ở thời điểm sản xuất thì số lượng tế bào sẽ giảm mạnh trong quá trình bảo quản do ảnh hưởng của các vi sinh vật tạp nhiễm Các tính chất của than bùn tốt được chỉ

ra (xem chi tiết trong phụ lục 4)

Chất lượng của chế phẩm vi sinh cố định đạm có thể được định nghĩa bởi một phức hợp gồm nhiều yếu tố Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng trên nền chất mang than bùn đã được mô tả bởi Roughley và Pulsford (1982) và hình thành một nền tảng cho việc kiểm tra chất lượng được thực hiện bởi “Đơn vị Nghiên cứu vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu của Úc” (ALIRU) Chúng bao gồm:

Trang 28

Tiêu chuẩn của Úc được xây dựng trên cơ sở số lượng tế bào sống được nhiễm lên trên hạt Trong thực tế áp dụng thì số lượng được diễn đạt số lượng rhizobium/g sản phẩm và

do đó liều lượng nhiễm cần phải được xem xét khi tiêu chuẩn được tính toán Tiêu chuẩn

109 tế bào/g than bùn được tính toán dựa trên tiêu chuấn 108 tế bào/g ở lúc bán Tiêu chuẩn ở lúc bán thì được tính toán sao cho tối thiểu có 300 tế bào/hạt (Roughley 1964; Date 1970) Năm 1964 Roughley đề xuất tăng tiêu chuẩn từ 100 lên 300 tế bào/hạt Sau

đó thì tiêu chuẩn tăng lên 1000 tế bào/hạt Sự thay đổi này do công nghệ sản xuất được cải thiện dần lên

Tiêu chuẩn thì thông thường được thiết lập dựa trên 2 khả năng: lý thuyết và thực tế áp dụng Tiêu chuẩn hiện tại của chế phẩm tại Úc được trình bày trong bảng 1 (xem chi tiết phụ lục 5)

Các chế phẩm đã được thu thập tại nơi phân phối hàng và số lượng rhizobium được xác định bở ALIRU Số lượng vi sinh vật tạp nhiễm thì có mặt trong tất cả các nhóm và tỷ lệ nhiễm ở các đợt sản xuất thay đổi trong khoảng 9.8% - 26.3% Điều này chỉ ra rằng tạp nhiễm xảy ra ngay cả khi trộn sinh khối với than bùn hoặc là có vi sinh vật tạp nhiễm trong than bùn sau khi khử trùng Tỷ lệ chế phẩm không đạt chất lượng thì nhỏ hơn nhiều

tỷ lệ này Khi so sánh các số liệu này với các số liệu đã được kiểm tra khi xuất xưởng thì

có sự khác biệt Sự khác biệt này là do bảo quản Nhiệt độ bảo quản ở các mẫu này khác nhau, có nơi trong phòng lạnh nhưng có nơi ở nhiệt độ thường Điều này chứng tỏ điều kiện bảo quản là một vấn đề chính để bảo đảm chất lượng sản phẩm Một số mẫu thì đã hết hạn sử dụng và những mẫu này không đật tiêu chuẩn

Tiêu chuẩn quốc gia hiện tại là tối thiểu 106 rhizobium/g ở lúc hết hạn sử dụng Tuy nhiên nhiều mẫu không đạt mức này Chất lượng chế phẩm phụ thuộc rất nhiều vào ẩm

độ sản phẩm và do đó yếu tố môi trường rất quan trọng Một trong những lợi điểm quan trọng nhất của chế phẩm đông khô là không có vi khuẩn tạp nhiễm trong sản phẩm bên cạnh thời gian bảo quản dài Các sản phẩm đông khô của Úc có thời gian bảo quản đến 1.8 năm đối với fafa bean

Một trong những kết quả giá trị nhất của dự án này là xác định được hai chủng vi sinh cố định đạm cho đậu tương và lạc để áp dụng vào sản xuất chế phẩm tại Việt nam Tuy nhiên công nghệ sản xuất cần được cải thiện Cho đến nay thì sản xuất chế phẩm tại Việt nam phụ thuộc vào các viện nghiên cứu, chất lượng hiện tại thay đổi 104-109 cfu/g, tỷ lệ mẫu đạt số lượng cao là ít Chất lượng chế phẩm thay đổi rất lớn phụ thuộc vào chất lượng than bùn sử dụng, ẩm độ và mức độ vô trùng của than bùn Chất lượng cũng phụ thuộc vào trình độ sản xuất giữa các viện nghiên cứu Trong tương lai gần chúng ta cần chọn lọc nguồn than bùn ổn định cho sản xuất, xác định chế độ khử trùng than bùn và xác định chế độ bảo quản sản phẩm trong khi cung cấp Vấn đề xác định tiêu chuẩn cho sản xuất hết sức quan trọng, điều này bảo đảm chất lượng sản phẩm cho người nônmg dân Tiêu chuẩn cần được ban hành bởi chính phủ trong khi sự kiểm tra chất lượng cần áp dụng mô hình của Úc nghĩa là một đơn vị độc lập thực hiện

Bài học từ chuyến đi này về sản xuất và chất lượng sản phẩm cùng với các nghiên cứu của dự án là nền tảng cơ bản của soạn thảo qui trình thực hành sản xuất chế phẩm, đề xuất tiêu chuẩn quốc gia về chế phẩm vi khuẩn nốt sần cùng với qui trình thực hiện kiểm tra chất lượng sản phẩm tại Việt nam

Trang 29

PHỤ LỤC 1 Báo cáo Hội thảo Tập huấn Quản lý Chất lượng Chế phẩm Vi sinh Cố định đạm cho Cây họ đậu, tổ chức tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông

nghiệp Miền Nam, Tp Hồ Chí Minh (26/2 – 9/3/2007)

1 Giới thiệu và mục tiêu của hội thảo

Hội thảo tập huấn về quản lý chất lượng sản phẩm vi sinh cố định đạm là một phần của dự án AusAID CARD số 013/06VIE ‘Thay thế phân N hóa học bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu tại Việt nam để tăng lợi nhuận cho nông dân và cải thiện môi trường’ Hội thảo được xây dựng để cung cấp cho các học viên cơ bản về các đòi hỏi và các bước tiến hành để qủan lý chất lượng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu Mục tiêu của hội thảo là để tăng cường

kỹ năng của các nghiên cứu viên Việt nam tạo điều kiện cho họ có thể tiến hành công việc quản

lý chất lượng Hiểu biết về các chỉ tiêu chất lượng có thể góp phần cải tiến kỹ thuật sản xuất chế phẩm và tăng sản lượng và áp dụng chế phẩm vi sinh cố định đạm chất lượng cao tại Việt nam Qui trình quản lý chất lượng trình bày tại hội thảo dựa vào chương trình quản lý chất lượng tại

Úc, được áp dụng bởi Australian Legume Inoculant Research Unit (ALIRU) Hội thảo chia làm hai phần Đầu tiên các học viên học về kinh nghiệm trong quản lý chất lượng của Úc và sau đó qui trình quản lý chất lượng được thảo luận để ứng dụng sao cho phù hợp với điều kiện VN

2 Nhân sự và học viên

Danh sách nhân sự và học viên được đính kèm trong phụ lục 1 Hội thảo tập huấn này được sọan thảo bởi tập thể ALIRU và được trình bày bởi Elizabeth Hartley, Greg Gemell (ALIRU) và Rosalind Deaker (Đại học of Sydney) Chủ nhiệm dự án phía Việt nam tổ chức hội thảo và lựa chọn các học viên

Học viên được lựa chọn đại diện cho tất cả các viện và các công ty sản xuất tham gia trong dự án 013/06VIE Tất cả các học viên đều có kinh nghiệm về thực hành vi sinh vật tổng quát Tuy nhiên không phải tất cả các thành viên đều có thể tham gia trọn khóa đào tạo trong 2 tuần, 13 học viên từ OPI, IAS, CTU, SFI và công ty Fitohoocmon đã tham gia trọn khóa học Hai học viên của công ty Humix chỉ tham gia được một phần khóa học Một người tham gia được một tuần hội thảo, và một người kia thì học đến tuần thứ hai do công việc gấp của họ ở công ty đòi hỏi họ phải trở về với công việc ở thời điểm đó Một học viên của IAS có công việc ở đồng ruộng trong tuần thứ hai của hội thảo và công ty Phân bón Củ Chi không tham dự trong hội thảo Các học viên đã được trao giấy chứng nhận hòan tất hội thảo tập huấn bởi ALIRU

3 Các họat động của hội thảo

Trang 30

Bài giảng (lịch hội thảo được đính kèm) và tài liệu thực hành đã được sọan thảo và in thành nhiều bản nhưng không thể gởi bằng điện tử do dữ liệu quá lớn Hội thảo đã bắt đầu vào ngày thứ hai, 26 tháng 2 với một bài trình bày giới thiệu và phần thảo luận về định nghĩa kiểm tra và quản lý chất lượng sản phẩm liên quan đến chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu Kiểm tra chất lượng sản phẩm tại Úc đã được trình bày với các tham khảo về xây dựng các tiêu chuẩn, sự quan trọng của số lượng rhizobia sống và có hiệu quả trong sản phẩm, số lượng thấp các vi sinh vật tạp nhiễm, tầm quan trọng của chất lượng tha bùn và các điều kiện (khả năng giữ nước) Các học viên đã thảo luận một các tích cực về các chỉ tiêu chất lượng của chế phẩm vi sinh cố định đạm và sự đối đáp của họ đã chứng tỏ sự hiểu biết nhiều về các vấn đề này

Đối với phần thực hành, các học viên đã được chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm có một trưởng nhóm Trong tài liệu thực hành trình bày các họat động cho mỗi ngày thực hành

và bao gồm một danh sách đối chiếu các họat động được tóm tắt ở cuối mỗi ngày Tại mỗi chuyên đề khác nhau các học viên được ỵêu cầu tham khảo tài liệu về các tiến hành chi tiết Các kinh nghiệm, cách tiến hành thêm vào cũng được giải thích thêm bởi các trưởng nhóm và đã dành thời gian để thảo luận nhiều vấn đề liên quan khác nhau Hầu hết tài liệu được chuyển đến Việt nam từ Úc và các học viên nhận nó như là ‘kinh nghiệm Úc” về kiểm tra chất lượng chế phẩm vi sinh cố định đạm

Các họat động hội thảo đã được chuẩn bị để các học viên nắm được qui trình QC cho chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu và trở nên rất quen thuộc với các đặc trưng hình thái và sinh trưởng của các chủng bradyrhizobium thông thường được sử dụng cho đậu tương và lạc Đặc biệt các học viên đã được quan sát sự khác nhau về đặc trưng hình thái và sinh trưởng của các chủng này khi phân lập từ các môi trường khác nhau như là trong than bùn và trong dịch thể Có kinh nghiệm với các quan sát tế bào và khuẩn lạc của rhizobia từ nhiều môi trường khác nhau sẽ tăng cường kỹ năng nhận diện Học viên cũng đã thu thập các kinh nghiệm trong thử nghiệm phản ứng huyết thanh để nhận diện các chủng Phương pháp sản xuất kháng thể sử dụng thỏ đã có tại Việt nam

Hội thảo này đã tiến hành các kỹ thuật xác định số lượng rhizobia từ các chất mang than bùn khử trùng và không khử trùng Khi mà sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm tại Việt nam không thông qua kỹ thuật khử trùng chất mang than bùn thì các học viên đã được trang bị bởi hội thảo kỹ thuật nhiễm vào cây và xác định số lượng tương đối

rhizobia trong sản phẩm Cho mục tiêu của hội thảo tập huấn cây đã được trồng trong các ống nghiệm trong môi trường Jensen Học viên đã quan sát tính phù hợp của phương pháp trồng cho các cây họ đậu có hạt nhỏ nhưng không áp dụng cho các cây họ đậu có

Trang 31

hạt lớn Hệ thống trồng thay thế đã được trình bày và có nhiều thảo luận về sự cải tiến, thay đổi của hệ thống này sử dụng các vật liệu tại Việt nam

4 Thực hiện QC tại Việt nam

Trong hai ngày vào tuần thứ hai của hội thảo đã tổ chức để thảo luận về ứng dụng tiến hành QC trong điều kiện của Việt nam Các vấn đề là quá trình và các tiến hành cụ thể

cũng như đòi hỏi thiết bị, dụng cụ, nguyên vật liệu để tiến hành QC tại Việt nam

4.1 Qui trình tiến hành QC

Học viên đã được chỉ dẫn thông qua thảo luận để đưa ra các phần cơ bản của một quá trình QC Điều này được thực hiện để mà xây dựng cấu trúc tổng quát mà bằng cách này thì QC được tiến hành tại Việt nam Học viên đã có kinh nghiệm về qui trình tiến hành

QC thông qua hội thảo này và đã thảo luận về nội dung và các vấn đề liên quan của các qui trình khác nhau Thảo luận được hướng dẫn như vậy đã đánh giá được sự hiểu biết về mục đích và cơ sở hợp lý của quá trình QC Kết quả của phần này được ghi lại trong phần phụ lục 2

Ba lĩnh vực chính thuộc trách nhiệm của các phòng thí nghiệm QC là nhận diện; duy trì một bộ giống, nhận diện và thử nghiệm các chủng cho sản xuất và xác định chất lượng sản phẩm được sản xuất ra Qui trình nhận diện và thử nghiệm thì quan trọng trước khi bảo quản giống và trước khi cung cấp cho các nhà sản xuất Rõ ràng rằng các học viên cũng đã hiểu về tầm quan trọng của một hệ thống để theo dõi các mẫu trong quá trình QC

và báo cáo cho nhà sản xuất Cũng cần thiết để xây dựng các tiêu chuẩn mà bởi nó các kết quả của QC được so sánh với nhau Kết quả QC của các mẫu chế phẩm phải được hiểu theo nghĩa của tiêu chuẩn chất lượng Đã có tiêu chuẩn quốc gia 109 tế bào/g than bùn ẩm tại Việt nam nhưng chưa có các phương pháp thử thường lệ Một điều tra, xác định chất lượng hiện tại của các sản phẩm dựa trên nền than bùn và các tiêu chuẩn sẽ được thiết lập để phản ánh chất lượng là điều sẽ đạt được một cách thực tế

Đã thống nhất rằng qui trình QC thực hiện tại hội thảo này sẽ trực tiếp chuyển thành chương trình QC tại Việt nam Chỉ có một số ít thay đổi, ví dụ như thay thế các dụng cụ dùng một lần (như đĩa petri nhựa và Eppendorf) bằng các dụng cụ dùng nhiều lần (như đĩa petri thủy tinh và ống nghiệm thủy tinh) Phòng thí nghiệm QC sẽ dùng ống nghiệm trồng cây cho MPN hơn là ống Gemell hoặc là các hệ thống trồng cây tương tự cho các cây có hạt lớn do không gian giới hạn Để thực hiện điều này các học viên sẽ có được hạt siratro để xác định rhizobia cho lạc và đậu tương giống hạt nhỏ cho thử nghiệm rhizobia đậu tương từ ALIRU

4.2 Thiết kế phòng thí nghiệm QC và thiết bị

Trang 32

Các học viên được đề nghị thiết kế QC lab ở Việt nam bao gồm phòng chuẩn bị, phòng

QC và phòng nuôi trồng cây, kèm theo tất cả các thiết bị Phác họa và bảng liệt kê các thiết bị được ghi trong Phụ lục 3 Các phác họa đã chứng tỏ mức đô cao của sự hiểu biết

về điều kiện và thiết bị, vật liệu đòi hỏi cho QC của chế phẩm vi sinh cố định đạm Các liệt kê thiết bị và phác họa phòng thí nghiệm có thể được sử dụng như một chỉ dẫn cho việc tổ chức phòng thí nghiêm QC tại Việt nam và việc mua sắm thiết bị

Nơi chuẩn bị được thiết kế để cho phép một chuỗi logic các họat động liên quan đến chuẩn bị môi trường và hóa chất, nhận và xử lý các vật liệu và dụng cụ đã sử dụng của phòng QC; duy trì một nơi sạch để chuẩn bị môi trường đã khử trùng Phòng QC được thiết kế chuyên dụng, gắn liền với qui trình tiến hành QC Vị trí đặt tủ cấy không gần kề với đường đi Nên dùng đèn Bunsen sử dụng gas hơn là dùng đèn cồn như hiện nay ở Việt nam vì nó hiệu quả hơn Phòng nuôi trồng cây có nơi để các bàn/kệ và các phương tiện phù hợp để có thể điều chỉnh nhiệt độ và ánh sáng Quạt hút sẽ giúp giảm đi nhiệt tỏa

ra từ đèn và một cân để đo trọng lượng nước trong quá trình tăng trưởng của cây Tất cả nơi làm việc cần đặt điều hòa nhiệt độ theo cách mà quạt của nó không tạo ra khí hoặc là bụi bẩn làm nhiễm môi trường

5 Đánh giá và điều tra các học viên

Cuối hội thảo tập huấn các học viên đã hòan tất một bài tập để áp dụng hiểu biết và kinh nghiệm mà họ đã thu thập được sau khóa học và bộ câu hỏi được sọan thảo để đánh giá thành công chung của hội thảo và các vấn đề cần hòan thiện

5.1 Giải quyết các vấn đề

Các câu hỏi đã được chuẩn bị để mà đo lường khả năng các học viên áp dụng qui trình

QC đã được thực hiện tại hội thảo trong các trường hợp giả định Các vấn đề và cách giải quyết được chỉ ra trong phần Phụ lục 4 Các kết quả thu được không phải để cho điểm mà các học viên nhận được các gợi ý giải quyết các vấn đề đó và các feedback cá nhân bằng email do thời gian hạn chế của hội thảo cũng đã được đề nghị thực hiện Điều này tạo điều kiện trao đổi liên tục giữa các nghiên cứu viên Việt nam và Úc Hầu hết các câu hỏi đựoc trả lời tốt và điều này cho thấy sự tiếp thu về QC đạt ở mức độ cao

5.2 Điều tra các học viên

Học viên đã được hỏi để đánh giá về các vấn đề khác nhau nói lên đánh giá của họ về hội thảo Hệ thống này được sọan thảo dựa vào 5 mức Likert mà 5 là mức cao nhất (rất đồng ý) và 1 là mức thấp nhất (rất không đồng ý) Điều tra thể hiện trong Phụ lục 5 và kết quả điều tra trong Phụ lục 6 Tất cả các phần đều được đánh giá cao và không có đánh giá nào dưới 4, phản ánh rằng hội thảo đã thành công lớn và thành công đối với tất cả các học viên Điểm số cao nhất thuộc về sự tiện dụng của các giáo trình mà hội thảo cung cấp Nó rất tốt cho áp dụng sau hội thảo Tất cả học viên cho điểm 5 ở câu hỏi này Điểm số thấp

Trang 33

nhất là ở câu hỏi về sự áp dụng thông tin và kỹ thuật ở mỗi phòng thí nghiệm Điều này cho rằng chỉ một phòng thí nghiệm tại Việt nam sẽ chịu trách nhiệm cho công việc QC đối với chế phẩm vi sinh cố định đạm Tuy nhiên, hầu hết các phòng thí nghiệm sẽ áp dụng một số điểm của qui trình QC Gợi ý từ các học viên bao gồm là có thêm thời gian cho thảo luận và hội thảo tổ chức tại Úc có lẽ sẽ có hiệu quả cao hơn

Danh sách nhân sự và học viên

Elizabeth Hartley Đơn vị Nghiên cứu Chế phẩm Vi sinh cố định đạm

cho cây họ đậu của Úc (ALIRU), Sở Các nghành Công nghiệp Cơ bản NSW

Greg Gemell Đơn vị Nghiên cứu Chế phẩm Vi sinh cố định đạm

cho cây họ đậu của Úc (ALIRU), Sở Các nghành Công nghiệp Cơ bản NSW

Rosalind Deaker Khoa Nông nghiệp, Thực phẩm và Tài nguyên tự

nhiên, Đại học Sydney

1 Trần Yên Thảo Viện NC Dầu và Cây có dầu (OPI)

2 Ngô Thị Kiều Dương Viện NC Dầu và Cây có dầu (OPI)

3 Trấn Ngọc Thảo Viện NC Dầu và Cây có dầu (OPI)

4 Nguyễn Thị Phương Tâm Trường Đại học Cần Thơ (CTU)

5 Phạm Thị Khánh Vân Trường Đại học Cần Thơ (CTU)

6 Lê Thị Thanh Thủy Viện Nông hóa Thổ nhưỡng (NISF)

7 Trần Minh Hiền Viện Khoa học Nông nghiệp Miền nam (IAS)

8 Trần Đăng Dũng Viện Khoa học Nông nghiệp Miền nam (IAS)

9 Trầ Thị Kim Cúc Viện Khoa học Nông nghiệp Miền nam (IAS)

10 Đỗ Thị Thanh Trúc* Viện Khoa học Nông nghiệp Miền nam (IAS)

11 Mai Thanh Trúc Viện Khoa học Nông nghiệp Miền nam (IAS)

12 Nguyễn Đức Hòang Viện Khoa học Nông nghiệp Miền nam (IAS)

13 Phạm Thị Thu Hiền Fitohoocmon

14 Nguyễn Thị Bích Liên Fitohoocmon

15 Nguyễn Thị Tuyết Trinh* Humix Company

16 Nguyễn Trường Thọ* Humix Company

17 Cao Mạnh Hùng* Cu Chi Company

Trang 34

Thảo luận về Kiểm tra Chất lượng Chế phẩm Vi sinh Cố định đạm (thứ Tư, 7/3)

Bộ giống

• Kiểm tra giống – tốc độ tăng trưởng, thuần khiết, hình thành nốt sần, tính ổn định trong môi trường, phù hợp với cây họ đậu, thử nghiệm đồng ruộng? (phòng QC hay nhà nghiên cứu nông học)

• Bảo quản giống (nhiệt độ, 2 phiên bản giống…)

Chủng cho mục đích sử dụng

• Thông tin cần đi kèm với chủng vi sinh (cây chủ, hình ảnh chụp trên môi trường agar, ngày nhận được, tên chủng, tốc độ sinh trưởng)

• Ghi nhận tất cả các thông tin trong sổ phòng thí nghiệm/database

• Cấy chuyền các chủng nhiều lần để dùng cho nuôi cấy

• Cần mô tả hình thái khuẩn lạc (Nó có phù hợp với mô tả trước ki? – nguồn gốc của nó)

• Nhuộm Gram

• Phả ứng huyết thanh (nếu có kháng nguyên)

• Kiểm tra sự tăng trưởng trong môi trường lỏng (có số lượng tế bào cao, thuần chủng/tạp nhiễm, tốc độ sinh trưởng, hình thái khuẩn lạc/tính ổ định)

• Khả năng hình thành nốt sần với cây chủ

• Tồn tại bao lâu trong môi trường (giữ giống)

• Khả năng tồn tại trong than bùn (có tăng trưởng không? Và bao lâu?)

• Theo dõi tính ổ định của chủng về tăng trưởng, hình thái, nốt sần và hiệu quả cố định đạm)

• Bảo quản nhiều copy giống ban đầu (đông khô, bảo quản bằng parafin, N lỏng, cấy chuyền thường xuyên)

• Cung cấp giống giống đã được bảo quản cho nhà sản xuất (sau khi kiểm tra)

• Thông báo cho nhà sản xuất kiểm tra tính thuần chủng của giống

QC lab kiểm tra chất lượng sản phẩm

• Ghi nhận trong số lab/database (nguồn, chủng, ngày sản xuất, cây chủ, ngày nhận, ngày thử,

số sản xuất, trọng lượng hoặc kích cỡ, kiểm tra túi sản phẩm có còn nguyên vẹn không)

• Kiểm tra một vài túi trong số các túi nhận được và giữ lại một số túi còn lại cho tái kiểm tra khi cần)

• Kiểm tra chất lượng (nhiễn, số lượng/g – MNP/đếm khuẩn lạc trên môi trường)

• Nhận diện các chủng (phản ứng với kháng nguyên chuyên biệt, nhuộm gram, nốt sần)

• Kiểm tra than bùn (ẩm độ)

• Xác định sản phẩm có đáp ứng với tiêu chuẩn hay không?

• Báo cáo (cho nhà sản xuất và cho bản thân QC lab)

• Bằng cách nào nông dân biết sản phẩm họ sử dụng đã đạt tiêu chuẩn?

Xây dựng tiêu chuẩn

• Có bao nhiêu tế bào/g than bùn? (cao hay thấp?)

• Quyết định như thế nào? (cần có các số liệu đồng ruộng và điều tra sản phẩm được sản xuất

để xem xét như thế nào là phù hợp))

• Mọi người có đồng ý với tiêu chuẩn quốc gia hay là mỗi phòng thí nghiệm có tiêu chuẩn của mình?

• Ai làm cho tiêu chuẩn này được thực thi? Bô Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hay là một phòng thí nghiệm QC

Trang 35

Hình A2.1 Phác họa phòng chuẩn bị

Các thiết bị

1 Water purification unit – tinh sạch nước

2 Drying oven for glassware and for determining moisture content – Tủ sấy dụng cụ thủy tinh và đo ẩm độ

3 Two balances (2 and 3 decimal places) – Hai cân

4 Chemical storage including desiccators for hygroscopic chemicals - nơi để hóa chất gồm descicator để hút ẩm hóa chất

5 Magnetic stirrer and pH meter for media preparation – Khuyấy từ và dụng cụ đo

pH để chuẩn bị môi trường

6 Fume cupboard – Tủ hút

7 A fridge for chemical storage – Tủ đựng hóa chất

8 Water bath for maintaining temperature of agar media – Bain marie để duy trì nhiệt độ cho môi trường thạch

9 A fridge/freezer for storage of prepared media – Tủ lạnh để dự trữ môi trường

Dirty glassware

Washing area

Distilled water

Clean glassware storage

Chemical storage with desiccators (list)

Balance 1 (0.00)

Balance 2 (0.000)

Magnetic stirrer

pH meter

Fume cupboard

Chemical fridge

Window and fire exit Oven

Racks for drying

Bench for media

Dirty glassware

Washing area

Distilled water

Clean glassware storage

Chemical storage with desiccators (list)

Balance 1 (0.00)

Balance 2 (0.000)

Magnetic stirrer

pH meter

Fume cupboard

Chemical fridge

Window and fire exit Oven

Racks for drying

Bench for media

Gas/flame

First aid kit

Fire extinguisher

Trang 36

Hình A2.2 Phác họa QC lab

Các thiết bị bao gồm

1 Balance for moisture contents – Cân xác định ẩm độ

2 Waterbath for preparation of cultures for serological assays – Bain marie để thực hiện phản ứng huyết thanh

3 Microscope for observation of cells – Kính hiển vi

4 Incubators – Tủ ấm

5 Contaminated waste bin – Bể rửa

6 Freeze dryer for preservation of cultures – Máy đông khô

7 Fridge/freezer for storage of samples/cultures - Tủ lạnh chức giống

8 Trolley for safe transport of materials – Xe đẩy

9 Laminar flow cabinet – Tủ cấy

10 Vortex mixer - Vortex

Microscope

Work station Gram

stain and serology

Microscope

Work station Gram

stain and serology

Ngày đăng: 04/08/2014, 21:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Thông tin mẫu chế phẩm - Thay thế phân bón hóa học N bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ Đậu để tăng thu nhập cho nông dân và bảo vệ môi trường MS7
Bảng 1. Thông tin mẫu chế phẩm (Trang 10)
Bảng 2. Ẩm độ của chế phẩm. - Thay thế phân bón hóa học N bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ Đậu để tăng thu nhập cho nông dân và bảo vệ môi trường MS7
Bảng 2. Ẩm độ của chế phẩm (Trang 13)
Bảng 3. Số lượng tế bào rhizobium sống bằng phương pháp trực tiếp - Thay thế phân bón hóa học N bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ Đậu để tăng thu nhập cho nông dân và bảo vệ môi trường MS7
Bảng 3. Số lượng tế bào rhizobium sống bằng phương pháp trực tiếp (Trang 15)
Hình A2.1 Phác họa phòng chuẩn bị - Thay thế phân bón hóa học N bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ Đậu để tăng thu nhập cho nông dân và bảo vệ môi trường MS7
nh A2.1 Phác họa phòng chuẩn bị (Trang 35)
Hình A2.2  Phác họa QC lab - Thay thế phân bón hóa học N bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ Đậu để tăng thu nhập cho nông dân và bảo vệ môi trường MS7
nh A2.2 Phác họa QC lab (Trang 36)
Hình A2.3  Phác thảo phòng trồng cây - Thay thế phân bón hóa học N bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ Đậu để tăng thu nhập cho nông dân và bảo vệ môi trường MS7
nh A2.3 Phác thảo phòng trồng cây (Trang 37)
Hình A6.1  Kết quả điều tra học viên.  Học viên được hỏi để sắp theo thứ tự phản hồi của - Thay thế phân bón hóa học N bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ Đậu để tăng thu nhập cho nông dân và bảo vệ môi trường MS7
nh A6.1 Kết quả điều tra học viên. Học viên được hỏi để sắp theo thứ tự phản hồi của (Trang 42)
Bảng 1. Tiêu chuẩn hiện tại của chế phẩm vi sinh cố định  đạm cho cây họ  đậu tại úc - Thay thế phân bón hóa học N bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ Đậu để tăng thu nhập cho nông dân và bảo vệ môi trường MS7
Bảng 1. Tiêu chuẩn hiện tại của chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu tại úc (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w