Đề tài luận án “Nghiên cứu các giải pháp quản lý - kỹ thuật tổng thể nhằm phục vụ công tác cải tạo và phục hồi môi trường cho các mỏ khai thác than lộ thiên vùng Hòn Gai - Cẩm Phả” là vấ
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1: PGS.TS BÙI XUÂN NAM
2: PGS.TS.NGƯT HỒ SĨ GIAO
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập, nghiên cứu và được đào tạo nghiên cứu sinh ngành Khai thác mỏ tại Bộ môn Khai thác lộ thiên, Khoa Mỏ, Trường Đại học Mỏ - Địa chất dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Xuân Nam, Trường Đại học Mỏ - Địa chất và PGS.TS.NGƯT Hồ Sĩ Giao, Hội Khoa học và Công nghệ Mỏ Việt Nam, tôi
đã trau dồi thêm được các kiến thức chuyên sâu về lý luận và thực tiễn của chuyên ngành Khai thác mỏ lộ thiên, trong đó có kỹ thuật cải tạo và phục hồi môi trường các mỏ khai thác than lộ thiên Đặc biệt, trong quá trình thực hiện luận án, kiến thức chuyên ngành liên quan đến nội dung nghiên cứu của tôi đã được nâng cao, góp phần giúp tôi hoàn thành tốt hơn công tác của bản thân tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận án, NCS luôn nhận được sự giúp đỡ đầy trách nhiệm và tình cảm của Tiểu ban hướng dẫn, của tập thể các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp tại Bộ môn Khai thác lộ thiên; sự giúp
đỡ nhiệt tình của nhiều thầy, cô giáo trong Khoa Mỏ và Trường Đại học Mỏ - Địa chất Tôi cũng đã nhận được sự tạo điều kiện và giúp đỡ đặc biệt của Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Quảng Ninh để bản thân được tham gia những công trình nghiên cứu của địa phương có liên quan đến nội dung luận án và tập trung thời gian hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình
NCS cũng đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu của các thầy công tác tại Hội Khoa học và Công nghệ Mỏ Việt Nam, Hội Kỹ thuật Nổ mìn Việt Nam, Khoa Địa Lý - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, Bộ môn Khai thác lộ thiên - Khoa Mỏ - Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Cục thẩm định
và Đánh giá tác động Môi trường, và nhiều ý kiến bổ ích của các nhà khoa học, các chuyên gia về môi trường tại tỉnh Quảng Ninh
Với tất cả lòng chân thành, NCS xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những cá nhân và tập thể trên đã góp phần quan trọng cho sự thành công của luận án Nhân dịp này, cho phép NCS gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu Trường Đại
Trang 4học Mỏ - Địa chất, Ban Chủ nhiệm Khoa Mỏ, Ban Chủ nhiệm Bộ môn Khai thác lộ
thiên các cơ quan, các nhà khoa học cùng bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Hà Nội, ngày 08 tháng 7 năm 2014
Nghiên cứu sinh
Đặng Thị Hải Yến
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng bản Luận án này là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi Số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận án này là trung thực, chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự tham khảo cho việc thực hiện Luận án đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 08 tháng 7 năm 2014
Nghiên cứu sinh
Đặng Thị Hải Yến
Trang 62 Mục tiêu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 2
8 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 5
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC CẢI TẠO PHỤC HỒI MÔI TRƯỜNG CHO CÁC MỎ LỘ THIÊN TRÊN THẾ GIỚI VÀ
Ở VIỆT NAM
15
1.1 Tổng quan về công tác CTPHMT cho các mỏ lộ thiên trên thế giới 15
1.1.1 Khái quát công tác CTPHMT sau khai thác tại một số mỏ lộ thiên ở
khu vực ASEAN
15
1.1.2 Trồng rừng CTPHMT và cải tạo các khu khai thác khoáng sản
thành các trung tâm du lịch, giải trí, thể thao
16
1.1.3 CTPHMT khai trường khai thác thành hồ chứa nước: 22
1.1.4 CTPHMT bãi thải để sử dụng cho nông nghiệp hoặc lâm nghiệp 22
Trang 71.1.6 Hòa nhập khu vực được hoàn thổ với phong cảnh xung quanh 23
1.1.7 CTPHMT khu mỏ thành trung tâm vui chơi giải trí 24
1.2 Tổng quan về công tác CTPHMT tại các mỏ lộ thiên ở Việt Nam 25
1.2.1 Khái quát về tình hình khai thác khoáng sản ở Việt Nam 25
1.2.2 Hiện trạng công tác CTPHMT sau khai thác ở Việt Nam 28
1.3 Đánh giá chung về công tác CTPHMT tại các mỏ lộ thiên trên thế giới và ở Việt Nam
30
1.3.1 Công tác CTPHMT cho các mỏ lộ thiên trên thế giới 30
1.3.2 Công tác CTPHMT cho các mỏ lộ thiên ở Việt Nam 32
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CẢI TẠO PHỤC HỒI MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC MỎ KHAI THÁC THAN LỘ THIÊN VÙNG HÒN GAI - CẨM PHẢ
36
2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên vùng Hòn Gai - Cẩm Phả 36
2.2 Tài nguyên đất vùng Hòn Gai - Cẩm Phả 37
2.3 Thực trạng khai thác than lộ thiên vùng Hòn Gai - Cẩm Phả 39
2.3.1 Khái quát hoạt động khai thác than lộ thiên 39
2.3.2 Đánh giá chung về những tác động môi trường chính gây ra
do khai thác than lộ thiên tại vùng Hòn Gai - Cẩm Phả
41
2.4 Hiện trạng công tác cải tạo, phục hồi môi trường tại các mỏ khai thác than lộ thiên tại vùng Hòn Gai - Cẩm Phả
44
2.4.1 Cơ sở pháp lý và công tác CTPHMT giai đoạn 1993 -2008 44
2.4.2 Cơ sở pháp lý và công tác CTPHMT giai đoạn 2008 -2013 46
2.4.3 Phương án CTPHMT của các mỏ than lộ thiên được lập theo
quy định tại Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg
Trang 82.5.2 Công tác quản lý nhà nước về cải tạo và phục hồi môi trường 54
2.5.3 Vai trò của các tổ chức chính trị xã hội và cộng đồng đối với công tác quản lý tài nguyên và môi trường trong hoạt động khoáng sản
3.1.4 Các giải pháp về khoa học công nghệ 71
3.1.5 Các giải pháp về tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức công đồng 73
3.2.1 Cơ sở thực tiễn định hướng quản lý kỹ thuật CTPHMT 73
3.3 Giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng đất của khu vực CTPHMT cho các mỏ khai thác than lộ thiên vùng Hòn Gai - Cẩm Phả
3.3.3 Giải pháp quản lý bằng một số nội dung quy định cần thiết
khác liên quan đến công tác CTPHMT
Trang 9quản lý CTPHMT
3.3.7 Dự kiến kết quả mô hình định hướng vùng chức năng
CTPHMT phục vụ công tác quản lý CTPHMT cho một số mỏ than
KTLT vùng Hòn Gai
105
CHƯƠNG IV: NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP KỸ THUẬT CẢI
TẠO VÀ PHỤC HỒI MÔI TRƯỜNG CHO CÁC MỎ THAN LỘ
THIÊN VÙNG HÒN GAI – CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
116
4.2 Các dạng biến đổi địa hình do KTLT gây ra 118
4.2.1 Các dạng biến đổi địa hình khai trường mỏ lộ thiên 118
4.3.1 Phương án cải tạo, phục hồi môi trường đối với khai trường 122
4.3.2 Phương án cải tạo phục hồi môi trường đối với bãi thải đất đá 125 4.3.3 Cải tạo phục hồi môi trường đa mục tiêu 125
4.3.4 CTPHMT bờ mỏ, bãi thải bằng giải pháp lập lại thảm thực vật 126
4.4 Đề xuất các giải pháp kỹ thuật cụ thể cho mỗi mỏ than KTLT lồng
ghép trong quá trình khai thác mỏ
129
4.4.1 Giải pháp đổ thải trên một số địa hình đặc trưng 129
4.4.2 Giải pháp kỹ thuật cải tạo hình dáng khai trường 132
4.4.3 Giải pháp kỹ thuật cải tạo mặt tầng (thực hiện ngay trong quá
trình khai thác tại giai đoạn kết thúc khai thác)
134
4.4.4 Giải pháp kỹ thuật cải tạo sườn tầng khai thác 135
4.4.5 Giải pháp kỹ thuật cải tạo bãi thải 136
4.4.6 Giải pháp giảm thiểu nguy cơ tai biến sạt lở đất và nguy cơ lũ
bùn đá tại vùng khai thác than lộ thiên vùng Hòn Gai – Cẩm Phả
139
PHỤ LỤC
Trang 10KÝ HIỆU VIẾT TẮT
BVMT Bảo vệ môi trường
BT Bãi thải
CKBVMT Cam kết bảo vệ môi trường
CTPHMT Cải tạo phục hồi môi trường
ĐMC Đánh giá môi trường chiến lược
ĐMT Đánh giá môi trường tổng hợp
ĐTM Báo cáo đánh giá tác động môi trường
MXTLGN Máy xúc thủy lực gàu ngược
MXTLGT Máy xúc thủy lực gàu thuận
NCKH Nghiên cứu khoa học
QCCP Quy chuẩn cho phép
QCMT Quy chuẩn môi trường
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
TNTN Tài nguyên thiên nhiên
TN&MT Tài nguyên và môi trường
Vinacomin Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Sản lượng khai thác một số khoáng sản chủ yếu 27
Bảng 1.2: Sản lượng một số khoáng sản chủ yếu giai đoạn 20102020 27
Bảng 1.3: Kết quả điều tra sát hiện trạng và nhu cầu CTPHMT của một số
mỏ khoáng sản kim loại ở Việt Nam
29
Bảng 2.1: Tài nguyên đất vùng nghiên cứu Hòn Gai - Cẩm Phả 38
Bảng 2.2: Sản lượng than và đất đá bóc vùng Hòn Gai-Cẩm Phả 39
Bảng 2.3: Khối lượng đất đá thải của một số mỏ lộ thiên lớn 40
Bảng 2.4: Dự báo khối lượng đất đá thải vùng Hòn Gai-Cẩm Phả 40
Bảng 3.1: Giá trị hệ số Kv theo vùng, khu vực 78
Bảng 4.1: So sánh công tác đổ thải theo các phương thức đổ bãi thải 120
Bảng 4.2: Góc nghiêng của bờ mỏ phụ thuộc vào đặc tính đất đá 142
Trang 12DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 0.1: Quy trình nghiên cứu giải pháp quản lý - kỹ thuật tổng thể phục
vụ công tác CTPHMT cho các mỏ than KTLT vùng HG - CP
10
Hình 1.1: Trình tự CTPHMT trong khai thác bauxit ở Nabalco 21
Hình 1.2: Minh họa kết quả của một dự án hoàn phục môi trường tại CHLB
Đức
23
Hình 1.3: Khai trường thiếc được CTPHMT với sân golf tại Clearwater
Sanctuary Golf Resort
24
Hình 1.4: Hệ sinh thái phong phú được phục hồi ở Paya Indah 24
Hình 1.5: Minh họa kết quả của một dự án hoàn phục môi trường tại CH
Pháp
25
Hình 2.1: Vị trí vùng Hạ Long và Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 36
Hình 2.2: Bản đồ đánh giá độ dốc địa hình vùng Hòn Gai - Cẩm Phả 36
Hình 2.3: Vị trí, ranh giới khai thác than tại vùng Hòn Gai - Cẩm Phả 38
Hình 2.4: Phân bố khối lượng đổ thải các khu vực khai thác lộ thiên 41
Hình 2.5: Xói mòn đất đá thải tại bãi thải cũ khu KTLT Bù Lù - mỏ Tân Lập 42 Hình 2.6: Cảnh quan bãi thải Nam Lộ Phong sau 5 năm CTPHMT 48
Hình 2.7: Đập chắn bằng rọ đá bị mất tác dụng do đất đá bị rửa trôi tại bãi
thải mức +110 mỏ Tân Lập - Công ty Đông Bắc
59
Hình 2.8: Mặt cắt đào đắp cải tạo sườn dốc bờ moong 60
Hình 2.9: Công tác nạo vét hàng năm để duy trì hiệu quả của đập chắn đất đá trôi
tại bãi thải Nam Đèo Nai
61
Hình 2.10: CTPHMT bãi thải Đèo Nai (sử dụng Quỹ Môi trường tập trung
của Vinacomin và của Công ty than Đèo Nai)
62
Hình 2.11: Trồng cây CTPHMT trên bãi thải khu vực Khe Sim 63
Hình 3.1: Sơ đồ đề xuất các biện pháp quản lý CTPHMT cho các mỏ khai
thác lộ thiên tại vùng trọng điểm
85
Hình 3.2: Sơ đồ vị trí, ranh giới một số mỏ than KTLT vùng Hòn Gai 113
Hình 3.3: Sơ đồ phân vùng chức năng sử dụng đất CTPHMT cho một số mỏ than KTLT vùng Hòn Gai (dự kiến)
114
Hình 3.4: Sơ đồ phối cảnh kết quả CTPHMT của một số mỏ than KTLT 115
Trang 13vùng Hòn Gai (dự kiến)
Hình 4.1: Sơ đồ địa hình khai thác để lại hố sâu moong khai thác 118
Hình 4.2: Sơ đồ khai thác vỉa kéo dài, kết thúc từng khu vực làm bãi thải
trong
118
Hình 4.3: Sơ đồ địa hình đáy khai trường khi khai thác vỉa kéo dài, kết thúc
từng khu vực làm bãi thải trong
118
Hình 4.4: Sơ đồ khai thác các khai trường liền kề, khai trường kết thúc trước
sẽ làm bãi thải cho khai trường kết thúc sau
119
Hình 4.5: Sơ đồ địa hình đáy các khai trường liền kề, khai trường kết thúc
trước sẽ làm bãi thải cho khai trường kết thúc sau
119
Hình 4.6: Sơ đồ sử dụng bãi thải tạm và bãi thải trong đối với mỏ có nhiều
động tụ
119
Hình 4.7: Giải pháp đổ thải bãi thải trong khi không gian đổ thải là một
động tụ kín (là khai trường khai thác lộ thiên đã kết thúc khai thác)
130
Hình 4.8: Giải pháp đổ thải khi bãi thải cao hơn mép động tụ kín 130
Hình 4.9: Giải pháp đổ thải khi không gian đổ thải là một động tụ hở 131
Hình 4.10: Giải pháp đổ thải bãi thải trong hay bãi thải tạm tại động tụ hở 132
Hình 4.11: Hình dáng khai trường Vỉa 11, 13, 14 cánh Đông mỏ Núi Béo
khi kết thúc (theo thiết kế)
133
Hình 4.12: Hình dáng khai trường Vỉa 11, 13, 14 cánh Đông đề nghị thực
hiện tại giai đoạn kết thúc khai thác
133
Hình 4.13: Hình dáng khai trường Khu II, Bắc Hữu Nghị mỏ Hà Lầm và
Vỉa 14 cánh Tây mỏ Núi Béo khi kết thúc (theo thiết kế)
134
Hình 4.14: Hình dáng khai trường Khu II, Bắc Hữu Nghị mỏ Hà Lầm và
Vỉa 14 cánh Tây mỏ Núi Béo cải tạo
134
Hình 4.15: Hình dáng mặt tầng khai thác khi kết thúc 135
Hình 4.17: Hình dáng sườn tầng khai thác khi kết thúc 136
Hình 4.18: Hình dáng sườn tầng khai thác sau khi cải tạo 136
Hình 4.20: Tầng thải đã cải tạo bằng giải pháp đổ bổ sung thêm các phân
tầng
136
Trang 14Hình 4.21: Tầng thải đã cải tạo bằng giải pháp cắt thành các phân tầng 137
Hình 4.22: Đổ thải nhiều lớp tại thung lũng 137
Hình 4.24: Hình dáng bãi thải Chính Bắc theo thiết kế 138
Hình 4.25: Đổ thải bãi thải Chính Bắc sau cải tạo 138
Hình 4.26: Kỹ thuật đổ thải tạo vùng trũng chứa nước cải tạo đất 139
Hình 4.27: Bản đồ nguy cơ lũ bùn đá khu vực Hạ Long - Cẩm Phả 141
Hình 4.28: Sơ đồ mô phỏng công tác thoát nước mặt và nước ngầm 142
Hình 4.29: Nâng cao độ ổn định bờ mỏ bằng neo 143
Hình 4.30: Nâng cao độ ổn định bờ mỏ bằng cọc bê tống cốt thép 144
Hình 4.31: Bảo vệ bờ mỏ bằng tường chắn ở chân mái dốc 144
Hình 4.32: Bóc bỏ toàn bộ phần không ổn định hoặc có nguy cơ trượt lở 145
Hình 4.33: Sơ đồ nạp khoan lỗ khoan nổ (a) và sơ đồ phân bố lỗ khoan
biên (b)
146
Hình 4.34: Lịch trình của các bước hình thành bãi thải đổ thải theo lớp 151
Hình 4.36: Sơ đồ quay đảo chiều khi đổ lớp 4 m 152
Hình 4.37: Sơ đồ xác định bờ an toàn cho xe CAT 773E và CAT 773F 153
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Tỉnh Quảng Ninh nằm trong địa bàn động lực của vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ, cùng với Hà Nội và Hải Phòng, Quảng Ninh đóng vai trò là một trong những tỉnh đầu tàu về phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), tạo ra sức lan tỏa trong quá trình phát triển của cả vùng Tầm nhìn chiến lược của tỉnh Quảng Ninh là tạo bước phát triển đột phá, đưa tỉnh Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại vào năm 2020, giữ vai trò là một trong những đầu tàu kinh tế của miền Bắc, là địa phương đi đầu trong cả nước đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi phương thức phát triển từ “Nâu” sang “Xanh”, đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, tạo nền tảng vững chắc để Quảng Ninh phát triển nhảy vọt, toàn diện sau năm 2020
Trong tỉnh Quảng Ninh, có thành phố Hạ Long và Cẩm Phả có sự phát triển KT-XH rất sôi động, tốc độ phát triển kinh tế luôn đạt trên 10% trong những năm gần đây, đặc biệt là phát triển công nghiệp (than, xi măng), cảng biển và du lịch Hoạt động khai thác than lộ thiên vùng Hòn Gai - Cẩm Phả (HG-CP) (thuộc địa bàn thành phố Hạ Long và Cẩm Phả), phát triển ở sườn các dãy núi phía Bắc đường 18A, trên chiều dài khoảng 50 km, chiều rộng khoảng 15 km Các mỏ than đều phân bố ở khu vực có địa hình đồi núi thấp (100÷300m), thuộc phạm vi các lưu vực nước quan trọng; tiếp giáp khu vực đô thị trọng điểm, tập trung dân cư và các
hệ sinh thái cửa sông, ven biển Bái Tử Long và vịnh Hạ Long (di sản - kỳ quan thiên nhiên thế giới)
Hiện nay, toàn vùng Hòn Gai đã cơ bản kết thúc khai thác lộ thiên (KTLT),
chuyển mạnh sang khai thác hầm lò; tại vùng Cẩm Phả, hầu hết hoạt động KTLT tại
các lộ vỉa đã kết thúc khai thác và trong giai đoạn tới một số mỏ lớn ở vùng này sẽ chuyển sang giai đoạn chuẩn bị đóng cửa mỏ
Việc quản lý cải tạo và phục hồi môi trường (CTPHMT) mới được xác lập rõ ràng cách đây 5 năm, từ khi Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg, ngày 29 tháng 5 năm
Trang 162008 của Thủ tướng Chính phủ về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản than (Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg), công tác quản lý
kỹ thuật CTPHMT hiện nay còn nhiều bất cập
Lịch sử lâu dài của quá trình KTLT các mỏ than đã để lại và tiếp tục để lại những hậu quả lâu dài, toàn diện về môi trường ngay cả khi kết thúc khai thác thì các khai trường và bãi thải của vẫn mỏ tiếp tục là nguồn tiềm ẩn gây ô nhiễm môi trường và các tai biến môi trường như nguy cơ xói mòn đất, trượt lở, lũ quét, bồi lắng; môi trường không khí, môi trường đất, môi trường nước tiếp tục bị ô nhiễm trong thời gian chưa CTPHMT và khi việc CTPHMT chưa đạt hiệu quả về môi trường cảnh quan, chống xói mòn, trượt lở bền vững và chưa mang lại hiệu quả kinh tế và duy trì hiệu quả CTPHMT bền vững, thì sẽ làm ảnh hưởng đáng kể đến đời sống của nhân dân và sự phát triển của các ngành kinh tế khác từ thế hệ này sang thế hệ khác
Như vậy, việc nghiên cứu, tìm tòi các giải pháp quản lý - kỹ thuật tổng thể nhằm phục vụ công tác CTPHMT cho các mỏ khai thác than lộ thiên để phục vụ lợi ích hiện tại, tương lai cho dân cư vùng mỏ Hòn Gai - Cẩm Phả nói riêng và toàn tỉnh Quảng Ninh nói chung là cần thiết và cấp bách
Đề tài luận án “Nghiên cứu các giải pháp quản lý - kỹ thuật tổng thể nhằm phục vụ công tác cải tạo và phục hồi môi trường cho các mỏ khai thác than lộ thiên vùng Hòn Gai - Cẩm Phả” là vấn đề khoa học có tính cấp thiết và thực tiễn
cao, là cơ sở để quản lý CTPHMT khai thác than lộ thiên vùng phụ cận phát triển kinh tế với quỹ đất hạn hẹp cho việc phát triển không gian đô thị, du lịch, phù hợp với sự phát triển kinh tế đa dạng của địa bàn và môi trường tự nhiên, để tiếp tục phát huy hiệu quả sử dụng đất sau khai thác mỏ nhằm đáp ứng được các mục tiêu về CTPHMT đối với các hoạt động khai thác than lộ thiên trong khu vực
2 Mục tiêu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
2.1 Mục tiêu
Trang 17- CTPHMT và duy trì kết quả CTPHMT bền vững cho mỗi một dạng mỏ KTLT nhưng vẫn thống nhất trong mỗi cụm mỏ nhằm giảm thiểu tối đa các ảnh hưởng xấu của hoạt động KTLT trong quá trình khai thác và sau khi dừng khai thác
- Thực hiện quản lý - kỹ thuật CTPHMT đối với khu vực có các mỏ than tiếp giáp và lân cận các vùng phát triển kinh tế, đảm bảo việc CTPHMT theo hướng đa mục tiêu để thuận lợi cho việc sử dụng nguồn tài nguyên đất sau này, nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng đất, tăng quỹ đất sử dụng cho phát triển kinh tế và mang lại việc làm cho người lao động (khi mỏ dừng khai thác), nhằm tiếp tục phát triển kinh
tế địa phương
- Sử dụng nguồn tiền ký quỹ và huy động vốn đầu tư hợp lý, phù hợp với khả năng kinh tế của chủ mỏ hoặc chủ đầu tư của cộng đồng trong và ngoài nước nhằm từng bước giải quyết ô nhiễm môi trường vùng trọng điểm, cách ly khu vực có hoạt động khoáng sản than và tạo sự chuyển biến rõ nét về kết quả CTPHMT
- Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất của các mỏ than KTLT vùng HG-CP
sau khai thác và nâng cao chất lượng môi trường khu vực
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: các mỏ than KTLT vùng HG-CP, tỉnh Quảng Ninh
- Phạm vi nghiên cứu: công tác CTPHMT tại các mỏ than KTLT vùng HG-CP
4 Điểm mới của luận án
Trang 18- Lần đầu tiên đề xuất sự cần thiết phải bổ sung “Đánh giá môi trường tổng hợp” vào khung chính sách về công cụ BVMT; đồng thời xây dựng định hướng, nội
dung, nhiệm vụ và phương pháp thực hiện báo cáo ĐMT nhằm mục tiêu đảm bảo phát triển bền vững cho các tiểu vùng công nghiệp trọng điểm
- Lần đầu tiên đề xuất các tiêu chí cụ thể, có tính định lượng vào việc đánh giá kết quả hoạt động CTPHMT cho các mỏ than KTLT vùng HG-CP
- Đề xuất được giải pháp quản lý CTPHMT trên cơ sở định hướng phân vùng chức năng sử dụng đất CTPHMT sau khai thác mỏ than KTLT nhằm sử dụng hợp
lý tài nguyên đất trong khu vực nghiên cứu
- Đề xuất được các phương án CTPHMT hợp lý cho từng dạng mỏ than KTLT
- Đề xuất được giải pháp kỹ thuật lồng ghép hoạt động CTPHMT vào quá trình khai thác tại các mỏ than lộ thiên vùng HG-CP nhằm đảm bảo các tiêu chí về kỹ thuật CTPHMT, tiết kiệm thời gian và giảm chi phí vận hành
5 Luận điểm bảo vệ
- Luận điểm 1: CTPHMT đa mục tiêu cho một số mỏ than KTLT trong cụm
mỏ KTLT vùng HG-CP có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát huy Di sản thiên nhiên thế giới - Vịnh Hạ Long và Bái Từ Long, đồng thời là động lực để phát triển KT-XH khu vực
- Luận điểm 2: Các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác CTPHMT sẽ đảm bảo
sự khách quan và minh bạch trong việc nghiệm thu CTPHMT cho từng mỏ than KTLT vùng HG-CP
- Luận điểm 3: Các hoạt động kỹ thuật CTPHMT lồng ghép trong quá trình khai thác là yếu tố chính giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tai biến môi trường và chi phí CTPHMT sau khai thác tại các mỏ than KTLT vùng HG-CP
6 Cơ sở tài liệu
Tài liệu về công tác CTPHMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản của một
số mỏ lộ thiên trên Thế giới và ở Việt Nam; Các dự án CTPHMT đối với họat động
Trang 19khai thác than lộ thiên vùng HG-CP; Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020 có xét triển vọng đến năm 2030; Tài liệu quy hoạch bảo vệ môi trường của tỉnh Quảng Ninh và một số tài liệu kỹ thuật ngành mỏ
7 Nơi thực hiện đề tài
Bộ môn Khai thác lộ thiên, Khoa Mỏ, Trường Đại học Mỏ - Địa Chất
8 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
a Khái niệm cải tạo và phục hồi môi trường
- CTPHMT trong khai thác khoáng sản là hoạt động đưa môi trường, hệ sinh thái (đất nước, không khí, cảnh quan thiên nhiên, thảm thực vật,…) tại khu vực khai thác khoáng sản và các khu vực bị ảnh hưởng do hoạt động khai thác khoáng sản về trạng thái môi trường gần với trạng thái môi trường ban đầu hoặc đạt được các tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn, môi trường và phục vụ các mục đích có lợi cho con người (theo Quyết định số 18/2013/TT-Tg, ngày 29/3/2013 về CTPHMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản (Quyết định số 18/2013/TT-Tg))
- CTPHMT đa mục tiêu là CTPHMT đạt được các tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn, môi trường và tiếp tục sử dụng tài nguyên đất phát triển kinh tế
- CTPHMT thông thường là CTPHMT đạt được các tiêu chuẩn, quy chuẩn về
an toàn, môi trường
b Khái niệm đánh giá môi trường tổng hợp
Đánh giá môi trường tổng hợp (ĐMT) là việc phân tích, tổng hợp các tác động môi trường cộng hưởng; tác động môi trường tích lũy; khả năng chịu tải của nguồn tiếp nhận; các trọng điểm dẫn đến sự vượt ngưỡng các chỉ tiêu môi trường của các hoạt động phát triển kinh tế trong vùng, khu vực trọng điểm để chỉ ra các vấn đề môi trường vùng, vùng ưu tiên để đề xuất giải pháp tổng hợp và riêng lẻ nhằm tập trung nguồn kinh phí hạn hẹp của ngân sách nhà nước và của doanh nghiệp trong nền kinh tế đang phát triển để giải quyết triệt để
Trang 20c Khái niệm phân vùng chức năng sử dụng đất đối với vùng cải tạo và phục hồi môi trường sau khai thác mỏ lộ thiên
Không phải bất cứ một sự phân chia địa lý nào của bề mặt Trái đất cũng được gọi là phân vùng và cũng không phải bất cứ một phạm vi nào được chia ra trên bản
đồ cũng là một vùng, nghĩa là kết quả của công tác phân vùng phải được kết hợp giữa tính thống nhất của các yếu tố, hiện tượng bên trong và bên ngoài Như nhiều tác giả khẳng định “phân vùng trước hết là sự phân chia các vùng giữ được tính toàn vẹn lãnh thổ và giữ được thống nhất nội tại xuất phát từ tính thống nhất trong lịch sử phát triển trong địa lý, trong các quá trình địa lý và trong gắn bó về lãnh thổ
của các bộ phận cấu tạo riêng biệt” [39]
Tóm lại, “Phân vùng là một hệ thống hóa khoa học đặc biệt các sự vật và hiện tượng tạo nên các tổng thể có quy luật về mặt lãnh thổ và đặc tính của chúng phụ thuộc vào vị trí địa lý” [29]
Phân vùng chức năng sử dụng đất là phân vùng trong đó các vùng với các chức năng sử dụng đất phát triển kinh tế khác nhau phù hợp với điều kiện khách quan, đồng thời đảm bảo giá trị sử dụng thực tiễn của các vùng được phân chia Việc thực hiện CTPHMT theo định hướng phân vùng chức năng sử dụng đất của vùng CTPHMT đối với hoạt động khai thác than lộ thiên nhằm tái tạo lại môi trường; khôi phục tài nguyên đất nhằm tổ chức lại không gian, môi trường sử dụng lại tài nguyên đất, trên cơ sở các vùng đã khai thác hết tài nguyên; khắc phục cảnh quan xấu, mang lại cảnh quan mới về môi trường với một hệ sinh thái mới và tiếp tục mang lại hiệu quả phát triển kinh tế phục vụ đời sống con người
d Khái niệm lồng ghép CTPHMT trong quá trình khai thác mỏ than lộ thiên
Việc lồng ghép CTPHMT trong quá trình khai thác mỏ than lộ thiên ở đây là một quá trình lặp đi lặp lại việc lồng ghép các hoạt động CTPHMT với quá trình khai thác mỏ trong các giai đoạn từ thiết kế cải tạo mở rộng mỏ đến giai đoạn kết thúc mỏ Quá trình này là sự lỗ lực của nhiều bên liên quan cho mục tiêu giảm thiểu
Trang 21chi phí CTPHMT, rút ngắn thời gian CTPHMT và triệt tiêu nguy cơ tai biến môi trường,
9 Cách tiếp cận
Hầu hết các mỏ than lộ thiên tại vùng HG-CP đã được tiến hành khai thác từ rất lâu (có mỏ có thời gian tồn tại đã hơn 100 năm); các mỏ than này luôn được thiết kế
mở rộng, cải tạo mỏ sau mỗi một giai đoạn khai thác
Thực tế, hoạt động KTLT vùng HG-CP đã góp phần tạo ra sự phát triển kinh tế khác như cảng biển, phát triển các dịch vụ, du lịch,… nhưng cũng đã làm thay đổi địa hình, làm xấu cảnh quan và gây ra ô nhiễm môi trường xung quanh,… làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của các ngành khác như: du lịch, cảng biển, nuôi trồng thủy sản,…
Do vậy, cách tiếp cận về nghiên cứu các giải pháp quản lý - kỹ thuật CTPHMT tổng thể nhằm phục vụ cho các mỏ than KTLT vùng HG-CP như sau: coi việc CTPHMT là một trong các khâu trong quá trình của hoạt động khai thác Đó là một dòng liên tục được gắn kết, xem xét lồng ghép CTPHMT ngay từ khâu thiết kế mở rộng, trong quá trình khai thác, cho tới khi cải tạo phục hồi đất đai và việc sử dụng đất sau đó
Trước khi hoạt động mở rộng khai thác được tiếp tục, những dự định vạch ra
về CTPHMT chi tiết phải được lồng ghép trong quá trình thiết kế khai thác mở rộng, ví dụ khi xem xét, nghiên cứu tạo một cảnh quan mới (sau khi kết thúc khai thác mỏ than lộ thiên) phù hợp với địa hình, cảnh quan xung quanh, hệ thống thoát nước, Những khu vực này được thiết kế khai thác mở rộng và được dự định CTPHMT thành một số loại hình sử dụng đất Như vậy, việc chỉ rõ loại hình sử dụng đất được xem xét trước khi bắt đầu tiến hành khai thác mở rộng
Một phương án CTPHMT chi tiết được xem xét ngay từ khi thiết kế khai thác
mở rộng sẽ giúp cho việc thiết kế thực hiện lồng ghép giữa hoạt động khai thác và
Trang 22những hoạt động CTPHMT đồng thời và quá trình lồng ghép kỹ thuật này mới có thể thực hiện được
Cách tiếp cận trên cho phép xử lý toàn bộ vấn đề CTPHMT cho một mỏ trong tổng thể nhiều mỏ hơn là giải quyết CTPHMT cho mỗi một mỏ riêng biệt (chỉ được thực hiện sau khi mỏ đã kết thúc khai thác) vì sẽ giảm được đáng kể thời gian và kinh phí CTPHMT
Nếu hoạt động khai thác than lộ thiên được thực hiện theo đúng thiết kế, đồng thời có tính định hướng phục vụ cho công tác CTPHMT trong giai đoạn kết thúc sẽ tạo được thuận lợi rất lớn và giảm đáng kể kinh phí đầu tư cho công tác CTPHMT Ngược lại, khi không quan tâm đến công tác này thì sau đó sẽ gặp rất nhiều khó khăn và phải mất một khoản kinh phí lớn để cải tạo, phá bỏ những nội dung CTPHMT chưa phù hợp Ví dụ, các bãi thải của những mỏ khai thác than lộ thiên thực hiện theo đúng thiết kế với các phân tầng (30 m/tầng), kiểu như ruộng bậc thang, thì bãi thải đó đã có bờ tầng, mặt tầng ổn định, triệt tiêu được nguy cơ tai biến sạt lở bãi thải, rất thuận lợi cho công tác trồng cây, thậm chí canh tác (không phải tiêu tốn kinh phí cắt tầng, san gạt tạo mặt tầng mới giữa các tầng thải)
Tóm lại, cách tiếp cận coi CTPHMT là một quá trình BVMT lồng ghép trong quá trình khai thác mang tính đặc thù riêng của quá trình khai thác mỏ Chỉ khi nào CTPHMT cùng tiến hành đồng thời với quá trình khai thác mỏ theo định hướng chức năng sử dụng đất (được xác lập trên cơ sở ĐMT vùng trọng điểm, trong đó có phân vùng CTPHMT), có luận cứ khoa học, có cân nhắc tính toán toàn diện về các mặt kinh tế - xã hội - môi trường (KT-XH-MT)), thì khi đó mới có giải pháp BVMT (giải pháp CTPHMT) thiết thực và hiệu quả
Khi đó, hoạt động CTPHMT các mỏ than KTLT sẽ giải quyết được triệt để vấn đề ô nhiễm, tai biến môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản và tiếp tục
là vùng đất làm cho xã hội phát triển và ổn định, đó là điều kiện để các yếu tố kinh
Trang 23tế và kỹ thuật của hoạt động khai thác tài nguyên được đầu tư trở lại cho môi trường
được bền vững
10 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu trải qua 2 bước cơ bản được trình bày trong hình 0.1 như sau:
Bước 1: Tổng hợp, phân tích và đánh giá công tác CTPHMT của một số mỏ
khai thác lộ thiên trên thế giới và ở Việt Nam; Điều tra, phân tích và đánh giá các điều kiện tự nhiên, KT-XH-MT lân cận và của khu vực nghiên cứu; Tổng hợp, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý hành chính - kỹ thuật CTPHMT; Các giải pháp kỹ thuật đã và đang áp dụng cho công tác CTPHMT đối với các mỏ than KTLT vùng HG-CP
Bước 2: Nghiên cứu các giải pháp quản lý CTPHMT theo vùng ưu tiên
(tương ứng vùng CTPHMT ưu tiên) tại các khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế (ở lân cận các khu đô thị trọng điểm, các khu phát triển kinh tế, ) trên cơ sở nghiên cứu ĐMT vùng, khu vực trọng điểm; Nghiên cứu các phân vùng chức năng sử dụng đất đối với khu vực CTPHMT của mỏ than KTLT; Đề xuất các giải pháp quản lý hành chính CTPHMT cho các mỏ than KTLT vùng HG-CP; mô hình định hướng tổ chức không gian sử dụng hợp lý quỹ đất sau CTPHMT nhằm đáp ứng nhu cầu đất
sử dụng cho các vùng kinh tế phụ cận và BVMT khu dân cư, vịnh Hạ Long và Bái
Tử Long Nghiên cứu việc đánh giá kết quả công tác CTPHMT theo một số tiêu chí định lượng theo các công thức toán học nhằm áp dụng cho các mỏ than KTLT tại vùng HG-CP; Nghiên cứu các giải pháp CTPHMT cho các dạng mỏ than KTLT đặc trưng; Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật CTPHMT (cho mỗi một dạng đặc trưng trong các dạng mỏ than KTLT kết thúc khai thác) lồng ghép trong ngay quá trình khai thác mỏ than KTLT nhằm tăng cường hiệu quả CTPHMT và sử dụng nguồn kinh phí ký quỹ
Trang 24Hình 0.1: Quy trình nghiên cứu giải pháp quản lý - kỹ thuật tổng thể
phục vụ công tác CTPHMT cho các mỏ than KTLT vùng HG-CP
Đề xuất các giải pháp quản lý hành chính CTPHMT cho các mỏ than KTLT vùng HG-CP; mô hình sử dụng đất sau CTPHMT vùng HG-CP
Nghiên cứu phân vùng chức năng sử dụng đất đối với khu vực CTPHMT cho
Tổng hợp, phân tích và đánh giá công tác CTPHMT của một số
mỏ khai thác lộ thiên trên thế giới và Việt Nam
Điều tra, phân tích và đánh giá các điều kiện tự nhiên, KT-XH
và môi trường lân cận và của khu vực nghiên cứu
Các giải pháp kỹ thuật đã và đang áp dụng CTPHMT cho
mỏ than KTLT vùng HG-CP
(I.4 )
Tổng hợp, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý hành chính - kỹ thuật CTPHMT
Bước 1
Bước 2
Trang 2511 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng giúp làm rõ hơn cơ sở lý luận và các hướng nghiên cứu cũng như các công trình nghiên cứu đã thực hiện ở khu vực nghiên cứu Việc phân tích và tổng hợp, tổng luận các tài liệu và các công trình nghiên cứu trước đó giúp tránh sự trùng lặp trong nghiên cứu; thừa kế các kết quả nghiên cứu trước đó; biết được hạn chế của các nghiên cứu trước đó và định hướng nghiên cứu cho luận án
b Phương pháp thu thập tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu, NCS đã thu thập 55 tài liệu tham khảo; nhiều bản
đồ, ảnh vệ tinh trong và ngoài nước có liên quan với các nội dung nghiên cứu Các tài liệu này được phân tích một cách chi tiết để tìm ra các nội dung phù hợp và cần thiết cho luận án
c Phương pháp khảo sát thực địa
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện, NCS đã nghiên cứu, khảo sát tổng hợp vùng khai thác than lộ thiên vùng HG-CP vào 2 mùa khác nhau trong thời gian nghiên cứu (mùa mưa và mùa khô)
Các kết quả nghiên cứu, khảo sát thực tế đó đã giúp làm rõ hơn về các đặc điểm tự nhiên, hiện trạng CTPHMT tại các mỏ than KTLT vùng HG-CP Đây là cơ
sở quan trọng cho các nghiên cứu và đề xuất giải pháp quản lý - kỹ thuật, đảm bảo tính logic, tính khoa học và thực tiễn, cho phép áp dụng được ngay trong điều kiện
cụ thể của các mỏ than KTLT trong các khu vực này
Trang 26vực nghiên cứu phù hợp với thực tế) và áp dụng các công thức toán học để thể hiện một số kết quả nghiên cứu
e Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình thực hiện, NCS đã thực hiện các cuộc trao đổi thông tin, xin ý kiến, phỏng vấn những người có am hiểu hoặc có liên quan đến những thông tin về công tác BVMT, CTPHMT; phân vùng, đánh giá môi trường,… Tổ chức hội thảo dưới các hình thức hội nghị xin ý kiến của các nhà khoa học ngành mỏ và môi trường
12 Quan điểm nghiên cứu
Quan điểm nghiên cứu biện pháp quản lý - kỹ thuật CTPHMT được vận dụng
và phát triển như sau:
- Quan điểm hệ thống: Có nhiều quan niệm khác nhau về hệ thống tùy thuộc
vào từng lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất Các nhà cảnh quan học quan niệm hệ
thống như một địa hệ - hệ thống của các yếu tố tự nhiên, là “tổng thể các thành
phần nằm trong sự tác động tương hỗ” (L Bertalanf), là “tập hợp bất kỳ các thành phần tác động tương hỗ” (A.Đ Armand, 1971) và có tính thứ bậc Các nhà kinh tế
sinh thái quan niệm hệ thống như một hệ thống xã hội - môi trường environmental system) - những hệ thống phức tạp, tồn tại ở nhiều dạng khác nhau
(socio-và có thể thực hiện những hoạt động không thể dự báo trước (Clayton (socio-và Radcliffe, 1996), có khả năng tự điều chỉnh và có thứ bậc, bao gồm nhiều hệ thống nhỏ khác nhau (Jennings và Reganold, 1991; Norton và Ulanowicz, 1992; Warren và Cheney, 1993; Muster et al, 1994) Các nhà quy hoạch vùng và tổ chức lãnh thổ quan niệm
hệ thống là một thể thống nhất và khách quan của mọi chủ thể tồn tại và phát triển trên trái đất Do đó, mọi hoạt động của hệ thống phải luôn thể hiện ở trạng thái cân bằng và phải được điều chỉnh kịp thời khi chịu tác động, đó là tiêu chuẩn của phát triển bền vững [31], [38] Vì vậy, trong quá trình ĐMT phải quan niệm vùng, khu vực ĐMT như một hệ thống hoàn chỉnh và thống nhất của các hợp phần tự nhiên (địa chất - địa hình, khí hậu - thủy văn, đất - sinh vật), các hợp phần KT-XH mang
Trang 27tính chất nhân sinh (cơ sở hạ tầng, các hoạt động sản xuất) và các mối liên hệ giữa chúng
Việc xem xét vùng, khu vực nghiên cứu biện pháp quản lý - kỹ thuật CTPHMT như một hệ thống cũng hàm ý nhấn mạnh lợi ích, môi trường chung của vùng là quan trọng hơn lợi ích, môi trường của một ngành hay một lĩnh vực riêng lẻ nào đó
Do vậy, bất kỳ một hoạt động nào gây tổn hại đến lợi ích chung, đến môi trường của vùng cũng cần phải được cân nhắc và quyết định về vị trí, quy mô, loại và thời
gian phát triển
- Quan điểm tổng hợp: Quan điểm tổng hợp xuất phát từ quan điểm hệ thống,
nhấn mạnh mối quan hệ thống nhất và biện chứng giữa các yếu tố hệ thống trong một tổng thể hoàn chỉnh mà mỗi yếu tố (hệ thống này) là một mắt xích trong một mạng lưới liên hệ với các yếu tố và hệ thống khác Do đó, quan điểm tổng hợp đòi hỏi cần phải hiểu rõ, hiểu đúng các yếu tố cấu thành hệ thống và mối liên hệ giữa chúng trước khi quyết định tác động vào một yếu tố Bởi lẽ chỉ cần một tác động nhỏ vào một yếu tố thôi thì cũng có thể làm biến đổi toàn bộ hệ thống, phá vỡ trạng thái cân bằng và ổn định của hệ thống, dẫn đến những hậu quả khó lường
Với quan điểm tổng hợp, nghiên cứu biện pháp quản lý - kỹ thuật CTPHMT được thực hiện dựa trên việc xem xét tất cả các yếu tố hệ thống KT-XH-MT vùng, phạm vi ĐMT, CTPHMT, trong mối liên hệ với các yếu tố khác của hệ thống Ví
dụ, hoạt động CTPHMT các mỏ than KTLT được xem xét trong mối liên hệ với các yếu tố tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, đất, thực vật), các yếu tố KT-
XH (vai trò của khai thác than trong cơ cấu kinh tế chung, cơ sở hạ tầng, các khía cạnh xã hội như lao động, thu nhập, ), các vấn đề môi trường và tai biến thiên nhiên (ô nhiễm không khí do bụi, tiếng ồn, khí thải; ô nhiễm môi trường nước do rác thải rắn, chất thải độc hại từ các mỏ và khai trường), Bản thân môi trường nước hoặc khí lại được xem xét trong mối liên hệ không chỉ với hoạt động khai thác than mà còn với các hoạt động khác như sản xuất công nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, nông, lâm nghiệp, thủy sản, Điều đó cho thấy cái nhìn đa chiều và tổng hợp
Trang 28khi xem xét một vấn đề hoặc một yếu tố phát sinh trong hệ thống trước khi đưa ra
giải pháp tổng hợp và có quyết định đúng đắn
- Quan điểm phát triển bền vững: Quan điểm phát triển bền vững được hình
thành từ những năm 70 của thế kỷ XX và đề cập một cách hệ thống về môi trường
và phát triển quốc tế qua cuốn Chiến lược bảo tồn thế giới (1980), được phổ biến qua báo cáo Brundland: Tương lai chung của chúng ta (1987), chi tiết hơn trong cuốn: Chăm lo cho Trái đất (1991) và Chương trình Nghị sự 21 (1992) Cho đến
nay, phát triển bền vững trở thành một mục tiêu để hướng tới đối với bất kỳ một chiến lược, một định hướng phát triển nào từ cấp quốc tế, quốc gia đến địa phương [31]
Ba nội dung cơ bản của phát triển bền vững là nhằm đạt được phồn vinh về kinh tế, ổn định về xã hội, duy trì chức năng sinh thái và đảm bảo chất lượng môi trường
Việc vận dụng quan điểm phát triển bền vững để nghiên cứu biện pháp quản lý
- kỹ thuật CTPHMT cần phải có một cái nhìn, một quan điểm chỉ đạo giúp định hướng cho các hành động, các định hướng phát triển, đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, ổn định xã hội với chất lượng môi trường
13 Cấu trúc, nội dung của luận án
Luận án được bố cục thành 4 chương, không kể phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, như sau:
- Chương 1: Tổng quan về công tác CTPHMT cho các mỏ lộ thiên trên thế giới
và ở Việt Nam
- Chương 2: Thực trạng công tác CTPHMT tại các mỏ than KTLT vùng HG-CP
- Chương 3: Nghiên cứu các giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác CTPHMT cho các mỏ than KTLT vùng HG-CP
- Chương 4: Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả công tác CTPHMT cho các mỏ than KTLT vùng HG-CP
Trang 29CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC CẢI TẠO VÀ PHỤC HỒI MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC MỎ LỘ THIÊN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.1 Tổng quan về công tác cải tạo và phục hồi môi trường tại các mỏ than khai thác lộ thiên trên thế giới
1.1.1 Khái quát công tác cải tạo và phục hồi môi trường sau khai thác tại một
số mỏ than trên thế giới
Nhiều nước trên thế giới đã đạt được những thành công lớn khi CTPHMT các
khu vực kết thúc khai thác khoáng sản thành các trung tâm du lịch, giải trí, thể
thao,… trên cơ sở các giải pháp chung được khái quát như sau:
- Đối với các khai trường khai thác than, quặng sắt,… với diện tích rộng và chiều sâu lớn, việc san lấp tạo mặt bằng sau khi kết thúc khai thác là bất khả thi, do
đó, khu vực moong khai thác thường được cải tạo nhằm đảm bảo an toàn ổn định bờ
mỏ hoặc để nguyên trạng, sau đó tạo thành các hồ chứa nước và xung quanh tạo nên cảnh quan thiên nhiên hoặc sử dụng vào các mục đích dân dụng
- Đối với một số khai trường khai thác chiếm đất bề mặt rộng với độ sâu không lớn (như bauxit, thiếc, sa khoáng titan,…), chúng thường được san gạt bề mặt, cải tạo địa hình, cải tạo đất để trả lại đất cho canh tác (trồng lúa, cà phê, chè, cao su, ), trồng rừng (các loại cây bản địa hoặc các loại cây mới có giá trị kinh tế,…) hoặc sử dụng vào các mục đích KT-XH khác Đặc biệt, nhiều nước ASEAN đã đạt được những thành công lớn khi CTPHMT và cải tạo các khu khai thác khoáng sản thành các trung tâm du lịch, giải trí, thể thao,…
- Đối với các bãi thải đất đá của các mỏ KTLT, chúng được cải tạo địa hình, phủ một lớp đất màu và trồng cây có giá trị kinh tế hoặc chỉ đơn thuần cho mục tiêu phủ xanh tạo cảnh quan
- Các công trình hạ tầng cơ sở mà cộng đồng có nhu cầu sử dụng lại (thí dụ cho cấp điện, cấp nước, giao thông, nhà ở, các công trình dịch vụ,…) thường được tận dụng và cải tạo cho phù hợp
Trang 30- Quá trình CTPHMT mà cốt lõi là công tác cải tạo đất được thực hiện trong khoảng 2÷4 năm kể từ khi ngừng các hoạt động khai thác, sau đó tiếp tục quan trắc
và hoàn chỉnh các mặt bằng được CTPHMT, chất lượng nước, hệ động thực vật, thực vật cho tới khi đạt yêu cầu theo tiêu chuẩn quốc gia (thường kéo dài trong nhiều năm sau đó)
- Cộng đồng có quyền giám sát và khiếu kiện về những sai sót trong quá trình quá trình CTPHMT kéo dài sau đó
Dưới đây là một số ví dụ minh họa điển hình:
1.1.2 Trồng rừng cải tạo và phục hồi môi trường:
a Tại Inđônêsia, Tập đoàn Sumitomo và các đối tác kinh doanh đã thực hiện
dự án phát triển mỏ đồng - vàng Batu Hijau trên đảo Sumbawa từ năm 1996 (là một trong những mỏ đồng - vàng lớn nhất thế giới) với thành công lớn nhất là chính sách liên quan đến việc trồng rừng Nhìn chung, các khu vực có hoạt động khai thác đều được khôi phục lại trạng thái ban đầu sau khi đóng cửa mỏ với 40.000 cây giống mỗi năm và được trồng trong lớp đất mặt đã được bóc và bảo quản Công nghệ trồng rừng áp dụng đã được nghiên cứu tới 8 năm trong khuôn khổ một đề tài nghiên cứu quy mô lớn được các kỹ sư, các nhà khoa học cộng tác thực hiện trên cơ
sở vốn vay Các nhà nghiên cứu đã xác định được góc nghiêng phù hợp, đề xuất một phương pháp sử dụng lưới để ngăn chặn xói mòn lớp đất mặt và cuối cùng là định ra các phương pháp tối ưu cho việc chuẩn bị và tái trồng rừng trên các diện
tích đất đã từng khai thác mỏ [53]
Công việc trồng rừng được thực hiện song song với hoạt động của mỏ Trồng rừng liên tục và bền vững sẽ khôi phục lại rừng trong khoảng 4 năm, nhưng điều này không phải dễ dàng, bởi vì đây là vấn đề có liên quan tới những quá trình mang bản chất tự nhiên Phát triển mỏ là một dự án dài hạn, kéo dài nhiều thập kỷ Việc
nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học là một phần quan trọng của hoạt động kinh doanh Việc phủ xanh khu mỏ giai đoạn cuối được xác định là thành công mất một khoảng thời gian có thể lên đến 10 năm sau khi CTPHMT
Trang 31b Ở Ốtxtrâylia, ngành công nghiệp khai thác khoáng sản coi CTPHMT là
một phần tất yếu của quá trình khai thác Do vậy, các kế hoạch và dự trù tài chính cho chương trình môi trường dài hạn phải được lập trước khi bắt đầu khai thác Kinh phí CTPHMT thường trên 10.000 USD/ha Quá trình CTPHMT không phải chỉ kết thúc ở việc san gạt đất, trồng cây và gieo hạt Hiệu quả của quá trình CTPHMT chỉ có thể được đánh giá bằng quá trình quan trắc và điều chỉnh nhiều năm sau đó Người ta đã đưa ra định hướng 4 giai đoạn chủ yếu trong CTPHMT:
- Giai đoạn thứ nhất: Xác định phương thức sẽ sử dụng đối với đất sau khai thác khoáng sản
- Giai đoạn thứ hai: Công tác san lấp mặt bằng đã bị xáo trộn do khai thác khoáng sản, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc trồng cây
- Giai đoạn thứ ba: Thực hiện trồng cây bằng cách trồng trực tiếp cây giống, gieo hạt hoặc phủ các lớp đất mặt có sẵn nguồn hạt tự nhiên
- Giai đoạn thứ tư: Quan trắc và nghiên cứu quá trình CTPHMT, có những tác động điều chỉnh hợp lý đề bảo đảm có được hệ sinh thái mong muốn trong dự án CTPHMT và xác định về mặt kỹ thuật sự thành công bền vững của dự án
Công nghệ CTPHMT được bắt nguồn ngay trong công nghệ khai thác và chế biến khoáng sản Đó chính là những công nghệ hiện đại đang được ứng dụng ở Ốtxtrâylia để tận thu triệt để các thành phần có ích trong khoáng sản, có nghĩa là những công nghệ có khối lượng thải thấp trên đơn vị sản phẩm và tác động hạn chế tới môi trường
Tập đoàn Alcoa sở hữu những cổ phần lớn trong công nghiệp khai thác tại bang Western có công nghiệp khai thác quặng sắt quy mô lớn, chiếm tới 97% sản lượng quặng sắt của Ốtxtrâylia đã thực hiện chương trình CTPHMT rất thành công trong nhiều năm qua Các yếu tố phục hồi ở đây bao gồm:
- Thảm thực, bao gồm các chủng loại cây tầm cao (chủ yếu là các rừng bạch đàn) và cả các chủng loại cây tầm thấp
- Thảm động vật, bao gồm các loại động vật có vú, các loài bò sát, các giống chim và hệ côn trùng trên và dưới mặt đất cũng như dưới nước
Trang 32Alcoa đã phục hồi hàng chục nghìn ha đất kể từ khi bắt đầu khai thác vào năm
1963 Hiện nay, tại các khu vực được CTPHMT, độ phong phú của thảm thực vật đạt trên 96%, hệ động vật có vú hầu như được phục hồi hoàn toàn, hệ chim được phục hồi tới 90% và hệ bò sát được phục hồi tới 78% Ở một số khu vực được CTPHMT, độ phong phú thực vật và động vật cũng như môi trường sinh thái thậm chí còn được cải thiện tốt hơn nguyên thủy
Nguyên nhân những thành công của Alcoa trong việc phục hồi môi trường là:
- Có chính sách và mục tiêu đúng cho công tác CTPHMT
- Đầu tư đúng cả về công nghệ và nhân lực cho công tác CTPHMT Bảo đảm đầy đủ các khoản tài chính và sử dụng chúng một cách hợp lý
- Đặc biệt chú trọng công tác nghiên cứu các điều kiện và chuẩn bị công tác phục hồi ngay trước khi bắt đầu khai thác và tiếp tục sau khi kết thúc khai thác
- Xử lý tốt các mối quan hệ về quyền lợi có liên quan tới đất đai và môi trường giữa doanh nghiệp và cộng đồng, động viên và thu hút cộng đồng cùng thực hiện CTPHMT từ những góc độ đặc trưng và thuận lợi khác nhau
* Mỗi năm, tại Nabalco - Gove có khoảng trên 130 ha đất rừng được đưa vào quá trình khai thác bauxit và cũng khoảng chừng đó diện tích được CTPHMT Công việc CTPHMT bắt đầu trước khi bắt đầu khai thác và tiếp tục lâu dài sau khi kết thúc khai thác
Quá trình CTPHMT không chờ tới khi kết thúc khai thác một khu vực nào đó mới bắt đầu, mà được bắt đầu trước khi khai thác bằng sự chuẩn bị và lưu giữ công phu hồ sơ, vật mẫu về đất, nước, các loài sinh vật cũng như bảo quản giống, gen động thực vật có tại khu vực dự kiến khai thác để có thể tái tạo chúng một cách gần đúng nguyên thuỷ nhất sau khi kết thúc khai thác Đây là công việc thực hiện trong khoảng thời gian dài hơn cả đời mỏ, đòi hỏi vận dụng kiến thức chuyên gia, kinh nghiệm người dân địa phương, phương tiện vật chất kỹ thuật, kinh phí và các giải pháp tổ chức hữu hiệu [51]
Trình tự thực hiện công tác CTPHMT tại Nabalco có thể khái quát như sau:
Trang 33(1) Trước khi bắt đầu khai thác cần thực hiện công việc chuẩn bị đối với khu vực sẽ đưa vào khai thác
- Việc khảo sát, sưu tầm, nghiên cứu, lập hồ sơ và cất giữ các vật mẫu về đất, nước, các loài sinh vật cũng như giống, gen động thực vật, cần được thực hiện sớm hơn 3 năm trước khi bắt đầu khai thác với sự hợp tác chặt chẽ với người địa phương
- Chặt hết các loại cây tầm cao trong phạm vi mặt bằng khai thác Các thân cây được đốt tại chỗ làm màu cho đất Các loại thực vật tầng thấp được tiếp tục phát triển Giữ trạng thái mặt bằng như vậy trong 3 năm để ổn định các quá trình sinh hoá trong đất
- Sau đó, bóc lớp đất màu (Topsoil) và lớp đất phủ (Subsoil) chuyển tới các vị
trí tập kết riêng biệt gần khai trường và bảo quản chúng cho tới khi được sử dụng lại Mặt bằng đã sẵn sàng cho khai thác
(2) Khai thác bauxit
Tiến hành khai thác bauxit trên các mặt bằng đã được chuẩn bị Kết thúc khai thác từng khu vực theo kế hoạch Mặt bằng sau khi kết thúc khai thác được kết nối với địa hình tự nhiên nhằm tạo điều kiện thoát nước, phong hoá và thẩm thấu
(3) Sau khi kết thúc khai thác cần thực hiện những công việc sau để tái tạo mặt đất gần giống trạng thái nguyên thuỷ
- Sử dụng đất phủ và đất màu được cất giữ để trải lại theo thứ tự và độ dày nguyên thuỷ trên mặt đất đã biến đổi sau khai thác
- Tái tạo hệ thực vật nguyên thuỷ từ những hạt giống đã được sưu tầm, lập hồ
sơ và cất giữ trước đây trên mặt bằng sau khai thác đã được trả lại đất phủ và đất màu (gieo trực tiếp hoặc ươm và trồng cây giống)
- Tại các thời điểm thích hợp tương ứng với sự tái tạo hệ thực vật, thực hiện tái tạo hệ động vật nguyên thuỷ bằng cách kết hợp tác động nhân tạo (từ nguồn giống, gen cất giữ) và tác động tự nhiên (sự di chuyển động vật và sự sinh sôi tự phát của
hệ côn trùng)
- Những công việc nêu trên được thực hiện trong khoảng 2 năm
Trang 34(4) Theo dõi và bảo đảm các điều kiện cho công tác cải tạo và phục hồi môi trường thành công
Công tác CTPHMT không dừng lại ở việc tái tạo hệ thực vật và động vật mà phải tiếp tục theo dõi, quan trắc và nghiên cứu các biến đổi, đề xuất các giải pháp tiến bộ nhằm bảo đảm điều kiện tối ưu để các hệ thực vật và động vật trên mảnh đất CTPHMT phát triển bình thường và ổn định, trở về trạng thái gần như nguyên thuỷ với tất cả các yếu tố của hệ sinh thái tự nhiên vốn có trước khi khai thác Quá trình này thường kéo dài ít nhất 5 năm
Năm 1997, Trung tâm nghiên cứu CSIRO - Ốtxtrâylia đã nghiên cứu đề ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ thành công của công tác CTPHMT, trong đó những chỉ
tiêu quan trọng cần được quan trắc như độ luân hồi dinh dưỡng (Nutrient cycling),
độ ổn định đất (Soil stability), mật độ cư trú của chim (Bird density), các chỉ tiêu về
chất lượng nước ngầm, Những chỉ tiêu này được so sánh với các chỉ tiêu tương ứng của các khu rừng nguyên thuỷ xung quanh
Một vấn đề quan trọng là không để xảy ra cháy rừng trong các khu vực đang CTPHMT vì cháy rừng sẽ làm huỷ hoại sự tái tạo các thành phần hữu cơ và cản trở các hoạt động vi sinh
Các nghiên cứu của CSIRO tiến hành năm 1993 và 1997 cũng như nghiên cứu của trường Đại học Northern Territory sau đó đã chỉ ra rằng công tác CTPHMT của Nabalco đã thành công tốt đẹp trong việc tái tạo các khu rừng họ tràm giống như các khu rừng nguyên thuỷ quanh đó
Thành công của Nabalco đã tái tạo hàng ngàn hecta đất rừng trong khai thác
bauxit trước đó, do có sự ràng buộc chặt chẽ bởi hệ thống luật pháp về tài nguyên
và môi trường rất đồng bộ của bang Northern Territory và của Ốtxtrâylia, cũng như những cam kết pháp lý cụ thể của Nabalco với cộng đồng và các chủ đất của người Yolngu (thổ dân)
Những người lãnh đạo Nabalco đã có ý thức rất rõ về trách nhiệm pháp lý và giá trị khoa học, KT-XH của công tác môi trường nói chung và CTPHMT nói riêng, coi công tác này là một khâu sản xuất trọng yếu nhất và nghiêm túc thực hiện nó
Trang 35Đội ngũ chuyên gia môi trường Nabalco đủ về số lượng và vị trí, có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm thực tế phong phú
Công tác đào tạo được thực hiện khá bài bản và rất thực tế, kết hợp viêc học tập tại nhà trường, nắm bắt các tiến bộ khoa học và công nghệ với hoạt động sản xuất
và nghiên cứu ngay tại hiện trường
Các phòng thí nghiệm, phòng phân tích, hệ thống quan trắc, phương tiện lưu trữ, bảo quản, phương tiện kiểm tra, hệ thống thông tin, đều được đầu tư hiện đại
Hình 1.1: Trình tự CTPHMT trong khai thác bauxit ở Nabalco [51]
1.1.3 Cải tạo và phục hồi môi trường khai trường thành hồ chứa nước
Trang 36CHLB Đức là một nước có nền công nghiệp mỏ phát triển ở Châu Âu và thế giới Những loại khoáng sản rắn được khai thác nhiều ở nước này chủ yếu là than nâu, than đá, muối mỏ, vật liệu xây dựng,… Các khoáng sản trên là nguồn nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp của đất nước phát triển này
Sau khi kết thúc khai thác, trên khu mỏ đã xuất hiện nhiều hào hố không thể san lấp được Chúng đã tạo thành các hồ chứa nước với tổng diện tích lên tới hơn 100 ha
1.1.4 Cải tạo và phục hồi môi trường bãi thải để sử dụng cho nông nghiệp hoặc lâm nghiệp
Tại CHLB Đức khi chất lượng của vật liệu thải trên bãi thải không phù hợp với các mục đích sử dụng trong nông nghiệp và lâm nghiệp thì phải phủ một lớp đất mặt (có thể dày tới 180 cm) lên trên bề mặt bãi thải để phục vụ cho nông nghiệp hoặc lâm nghiệp Để tạo điều kiện cho cây phát triển tốt, người ta còn bổ sung một
số loại phân bón trong lớp đất này với khối lượng 200300 kg đạm, lân và kali/ha
Để đảm bảo những khu vực bãi thải được CTPHMT có đủ điều kiện để phục vụ cho nông nghiệp thì sau khi CTPHMT xong, công ty mỏ cần phải quản lý chúng ít nhất 7 năm trước khi bàn giao cho người nông dân Trong thời gian này, công ty mỏ
có thể khai thác, sử dụng đất và tìm ra loại cây trồng phù hợp với khu vực đó Tiếp
đó họ còn phải bảo hành thêm một thời gian khoảng 10 năm cho những rủi ro của các biện pháp cải tạo đất đã áp dụng Để kiểm soát những rủi ro có thể xảy ra trong việc quản lý và đảm bảo lợi nhuận mang lại khi khai thác vùng đất đã được CTPHMT này, công ty mỏ cần phải bảo hành thêm 8 năm nữa Như vậy, tổng thời gian một công ty mỏ tại CHLB Đức phải có trách nhiệm đối với việc CTPHMT những bãi thải của họ lên tới 25 năm [33]
1.1.5 Ổn định các sườn dốc
Việc ổn định các sườn dốc là một công việc cần được quan tâm không chỉ trong quá trình khai thác mỏ mà còn được đặc biệt quan tâm sau khi kết thúc khai thác mỏ Ngoài những kỹ thuật thông thường để tạo sự ổn định cho các sườn dốc, các mỏ than KTLT của CHLB Đức còn lưu ý sử dụng một số biện pháp khác như sau:
Trang 37- Nén các loại vật liệu bở rời, tơi xốp ở sườn bãi thải để tạo nên một độ dốc an toàn bằng các thiết bị chuyên dụng hoặc sử dụng các kết cấu hỗ trợ như neo để gia cường cho các bờ kết thúc mỏ mà ở đó đất đá có dạng phân lớp;
- Làm bằng phẳng hoặc làm thoải các mỏm đá hoặc những nơi có sườn dốc nguy hiểm, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định cho các khu vực khác [33]
1.1.6 Hòa nhập khu vực được cải tạo và phục hồi môi trường với phong cảnh xung quanh
Tại CHLB Đức, việc hoà nhập địa hình khu vực được CTPHMT sau khai thác mỏ với phong cảnh các khu vực xung quanh là rất quan trọng Nó phụ thuộc vào nhiều yếu
tố như: các qui hoạch về giao thông, công nghiệp, nông nghiệp và du lịch của khu vực, đặc điểm địa hình của khu vực được CTPHMT và địa hình xung quanh, các yêu cầu về
đa dạng sinh học,… Chính vì vậy rất nhiều khu vực được CTPHMT sau khi khai thác
mỏ tại CHLB Đức đã hoàn toàn thay đổi về địa hình, cảnh quan và mục đích sử dụng theo hướng tích cực hơn rất nhiều so với địa hình nguyên thuỷ của nó
Hình 1.2: Minh họa kết quả của một dự án CTPHMT tại CHLB Đức [33]
Hình 1.2 minh họa một ví dụ điển hình của một khu vực mỏ than lộ thiên khai thác than nâu phục vụ cho nhà máy nhiệt điện đã được CTPHMT sau khi kết thúc khai thác tại CHLB Đức Những cánh đồng lúa mì, những cánh rừng đã hình thành cùng với những con sông và hồ nước trong xanh đã làm cho những người lần đầu đến đây không bao giờ có thể hình dung được trước đây khu vực này đã từng là một
mỏ khai thác than nâu có sản lượng hàng chục triệu tấn một năm
Trang 381.1.7 Cải tạo và phục hồi môi trường khu mỏ thành trung tâm vui chơi giải trí
Ở Malaysia, sau khi hoạt động khai thác kết thúc, quá trình CTPHMT được thực hiện thành công và tiếp tục đầu tư để thu hút các hoạt động du lịch, nghỉ ngơi, thể thao, vui chơi, giải trí,… Ở đây đã đầu tư vào sân golf hạng nhất ở Malaysia [52]
Hình 1.3: Khai trường thiếc được
CTPHMT với sân golf tại Clearwater
Sanctuary Golf Resort [52]
Hình 1.4: Hệ sinh thái phong phú được phục hồi ở Paya Indah [52]
Khu bảo tồn Paya Indah Sanctuary có diện tích khoảng 3.200 ha, gồm 2.200 ha rừng ngập mặn và 1.000 ha trước đây vốn là mỏ thiếc đã đóng cửa từ 1997 Quá trình CTPHMT cũng được thực hiên thành công theo hướng cải tạo và đầu tư tiếp
để biến thành khu du lịch, nghỉ ngơi, thể thao, vui chơi, giải trí,… và với một tham vọng lớn hơn là xây dựng một trung tâm nghiên cứu sinh thái học hàng đầu Châu Á
Trang 39Trung tâm giải trí phức hợp Cap’Découverte tại CH Pháp là khu vực được hình thành trên cơ sở sử dụng khu mỏ than KTLT đã đóng cửa Albi Carmaux Khu mỏ với diện tích 650 ha đóng cửa vào năm 1997, đến năm 2003 được tiến hành quy hoạch và được thổi vào một luồng sinh khí mới Tại đây có sân khấu kịch tròn quy
mô lớn với diện tích mặt bằng có đường kính 1.300 m, chiều sâu 230 m, thu hút khách du lịch trên toàn châu Âu Khu giải trí phức hợp này bao gồm các tour du lịch ngầm qua các hầm mỏ, các môn thế thao với ván trượt như trượt ván, trượt tuyết,
các buổi trình diễn và bảo tàng về khai khoáng, [55]
1.2 Tổng quan về công tác cải tạo và phục hồi môi trường tại các mỏ than
khai thác lộ thiên ở Việt Nam
1.2.1 Khái quát một số loại hình, đối tượng khai thác khoáng sản và phương thức cải tạo và phục hồi môi trường tương ứng ở Việt Nam
Khai thác khoáng sản ở Việt Nam đã bắt đầu từ hơn một thế kỷ qua và trải qua nhiều giai đoạn phát triển Tùy thuộc vào phương thức khai thác (chủ yếu là công
nghệ), có thể tạm phân loại một số loại hình, đối tượng CTPHMT chủ yếu ở Việt
Nam như sau:
1 Đối với các đối tượng KTLT than ở Quảng Ninh, các vùng khai thác quặng sắt ở Thái nguyên, Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Hà Tĩnh,… thì việc CTPHMT ở những mỏ KTLT mà khai trường sau khi kết thúc khai thác còn lại là những moong lớn với dung tích hàng triệu, thậm chí hàng chục triệu m3
(đặc trưng
là khai thác than, khai thác quặng sắt,…) Những moong lớn như vậy khó có thể lấp đầy được sau khi kết thúc khai thác (trừ trường hợp chúng được sử dụng làm bãi thải trong ngay trong quá trình khai thác) như moong khai thác tại mỏ Cọc Sáu, Cẩm Phả Phương thức CTPHMT khả thi nhất ở đây là cải tạo chúng thành các hồ chứa nước và tái tạo hệ sinh thái dưới nước và vùng xung quanh bờ
2 Đối với những mỏ KTLT có các vỉa quặng và đất đá bóc nằm trên các sườn núi (đặc trưng là khai thác đá vôi, đôlômit, apatit,…) thì phương thức CTPHMT ở đây là san gạt, phủ xanh phần mặt bằng phục vụ khai thác, tái tạo hệ sinh thái phù hợp với địa hình và khí hậu khu vực Đây là đối tượng rất phổ biến ở Việt Nam
Trang 40Hầu như ở tỉnh nào cũng có các mỏ khai thác đá vôi và các loại vật liệu xây dựng, nhiều mỏ đã vôi có quy mô lớn tới hàng triệu tấn/năm
3 CTPHMT ở những mỏ lộ thiên khai thác sa khoáng trên những diện tích lớn với độ sâu hạn chế (đặc trưng là khai thác vàng sa khoáng, quặng thiếc, quặng titan, cát,…), hiện trường sau khai thác thường bị đào xới tới độ sâu nhất định, nhưng không quá lớn, quá trình CTPHMT thường được thực hiện bằng cách san lấp, cải tạo mặt bằng ở mức độ hợp lý để có thể sử dụng đất vào các mục tiêu nông nghiệp, xây dựng, giao thông hoặc trả lại trạng thái nguyên thủy, đồng thời tái tạo hệ sinh thái phù hợp với khí hậu khu vực và mức độ cải tạo địa hình
4 CTPHMT ở các mỏ lộ thiên khai thác bauxit có thể coi như một loại hình mang những đặc điểm riêng mà ở Việt Nam còn chưa có nhiều kinh nghiệm Trong tương lai, CTPHMT trong khai thác bauxit sẽ trở thành đối tượng CTPHMT lớn nhất trong ngành khai thác khoáng sản ở Việt Nam
Các thân quặng bauxit thường có bề dày không lớn và nằm không sâu dưới lòng đất, nên việc đào xới để khai thác bauxit được thực hiên trên những diện tích rất lớn (có thể lên tới hàng trăm ha mỗi năm) Mặt khác, hầu hết trữ lượng bauxit ở Việt Nam đều nằm trên vùng đất Tây Nguyên, nơi một phần là đất trồng cà phê, chè, một phần là rừng được trồng và một phần khác là rừng cây hỗn hợp nguyên thủy với cả một hệ thực vật phong phú tầng thấp Hệ động vật và côn trùng ở đó vốn rất đa dạng và mang tính đặc thù địa phương rõ dệt Đây cũng là đất sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số với truyền thống và bản sắc văn hóa phong phú Vì vậy công tác CTPHMT trong khai thác bauxit ở Tây Nguyên là yếu tố hàng đầu để khai thác thành công loại khoáng sản có trữ lượng lớn và giá trị này của đất nước
Do đặc thù công nghệ khai thác bauxit, công tác CTPHMT ở đây được thực hiện thường xuyên và song song với hoạt động khai thác
5 CTPHMT tại các khu vực khai thác tự phát là một nhu cầu thực tế ở Việt Nam hiện nay Bất cứ loại khoáng sản nào có thể bán ra thị trường (vàng, thiếc, chì, kẽm, crômit, apatit, than,…) đều có thể được người dân khai thác một cách tự phát bằng mọi phương thức, từ đào bới thủ công đến khai thác bán cơ giới, từ lẻ tẻ tới