1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh và ngoại cảnh tới khả năng phát triển của đàn ong mật Apis Cerana nuôi tại tỉnh Thái Nguyên

92 580 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh và ngoại cảnh tới khả năng phát triển của đàn ong mật Apis Cerana nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
Tác giả Đào Thị Hương
Người hướng dẫn TS. Trương Hữu Dũng, ThS. Phùng Đức Hoàn
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐÀO THỊ HƯƠNG “NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ NỘI SINH VÀ NGOẠI CẢNH TỚI KH

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐÀO THỊ HƯƠNG

“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ

YẾU TỐ NỘI SINH VÀ NGOẠI CẢNH TỚI KHẢ NĂNG

PHÁT TRIỂN CỦA ĐÀN ONG MẬT APIS CERANA

NUÔI TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN”

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐÀO THỊ HƯƠNG

“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ

YẾU TỐ NỘI SINH VÀ NGOẠI CẢNH TỚI KHẢ NĂNG

PHÁT TRIỂN CỦA ĐÀN ONG MẬT APIS CERANA

NUÔI TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN”

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60.62.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Trương Hữu Dũng

2.ThS Phùng Đức Hoàn

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu

và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa được

sử dụng để bảo vệ ở một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các

tài liệu tham khảo, trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 12 năm 2013

Tác giả luận văn

Đào Thị Hương

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CẢM ƠN

Được sự giúp đỡ của Nhà trường, phòng Đào tạo Sau đại học, cơ quan

và gia đình, đặc biệt là sự quan tâm, tận tình giúp đỡ của hai thầy giáo hướng

dẫn tôi đã hoàn thành luận văn này

Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn trường Đại học Nông Lâm Thái

Nguyên, phòng Đào tạo Sau đại học, khoa Chăn nuôi Thú y, Viện Khoa học

Sự sống, Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên; Trung tâm Khí tượng Thủy văn

Thái Nguyên; phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đại Từ,

Đồng Hỷ và thành phố Thái Nguyên;

Để hoàn thành bản luận văn này tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

tới TS Trương Hữu Dũng, ThS Phùng Đức Hoàn là người thầy hướng dẫn

về khoa học, đã giúp đỡ tôi tận tình và có trách nhiệm trong quá trình nghiên

cứu cũng như hoàn thiện bản luận văn

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới toàn thể

gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và sự giúp

đỡ vô hạn về mọi mặt, động viên, khuyến khích tôi trong quá trình học tập và

nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, các quý vị trong

Hội đồng chấm luận văn lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 12 năm 2013

Tác giả luận văn

Đào Thị Hương

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Nguồn gốc, phân loại và một số đặc điểm về hình thái của ong nội 4

1.1.1.1 Vị trí phân loại của ong mật 4

1.1.1.2 Tổ chức xã hội của loài ong mật Apis cerena 6

1.1.2 Hiện tượng chia đàn tự nhiên đối với ong mật Apis cerana 13

1.1.3 Năng suất, chất lượng ong mật Apis cerana và các yếu tố ảnh hưởng 15 1.1.3.1 Năng suất của ong mật Apis cerana 15

1.1.3.2 Chất lượng của mật ong Apis cerana 16

1.1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng mật ong 19

1.2 Một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài 25

1.2.1 Một số nghiên cứu nâng cao năng suất, chất lượng mật ong 25

1.2.2 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của điều kiện thời tiết khí hậu, mùa vụ tới nghề nuôi ong mật 26

1.2.3 Một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm sinh học với năng suất, chất lượng mật ong 28

1.2.4 Một số nghiên cứu về sâu bệnh, địch hại ong mật 29

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.3 Điều kiện tự nhiên và tình hình nuôi ong tại tỉnh Thái Nguyên 33

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 33

1.3.1.1 Vị trí địa lý 33

1.3.1.2 Địa hình đất đai 33

1.3.1.3 Điều kiện khí hậu 33

1.3.2 Các cây hoa nguồn mật chính ở tỉnh Thái Nguyên 34

1.3.3 Tình hình nuôi ong trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 35

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 37

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 37

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 37

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 37

2.2 Nội dung nghiên cứu 37

2.2.1 Thực trạng ngành nuôi ong tại tỉnh Thái Nguyên 37

2.2.2 Ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sản xuất của ong mật Apis cerena 37

2.2.2.1 Ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh (quy mô đàn ong; lượng mật phấn dự trữ; số lượng mũ chúa; tuổi ong chúa; tần suất xây mũ chúa) đến khả năng tăng đàn 37

2.2.2.2 Ảnh hưởng của một số yếu tố (mùa vụ; vùng miền) đến năng suất mật ong 37

2.2.3 Ảnh hưởng của một số yếu tố (loại hoa; vùng miền) đến chất lượng mật ong 37

2.2.4 Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật để phát triển nghề nuôi ong mật ở Thái Nguyên trong thời gian tới 37

2.3 Phương pháp nghiên cứu 37

2.3.1 Nhóm các chỉ tiêu điều tra 37

2.3.2 Nhóm các chỉ tiêu nghiên cứu 38

2.4 Phương pháp xử lý số liệu 40

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 41

3.1 Thực trạng nghề nuôi ong mật Apis cerana tại tỉnh Thái Nguyên 41

3.1.1 Tình hình thời tiết khí hậu ở Thái Nguyên 41

3.1.2 Quy mô và cơ cấu đàn ong nuôi tại các nông hộ tại tỉnh Thái Nguyên 43

3.1.3 Một số cây nguồn mật chủ yếu và lịch nở hoa tại Thái Nguyên 46

3.1.4 Tình hình sâu bệnh đối với đàn ong mật Apis cerana 48

3.1.5 Tình hình địch hại đối với đàn ong mật Apis cerana nuôi ở tỉnh Thái Nguyên 50 3.2 Ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sản xuất của đàn ong 51

3.2.1 Ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh đến khả năng tăng đàn 51

3.2.1.1 Ảnh hưởng của quy mô đàn đến số lượng mũ chúa 51

3.2.1.2 Ảnh hưởng của lượng mật phấn dự trữ đến số lượng mũ chúa 52

3.2.1.3 Ảnh hưởng của mùa vụ đến tần xuất xây mũ chúa 54

3.2.1.4 Ảnh hưởng của tuổi ong chúa đến tình hình xây mũ chúa 56

3.2.2 Ảnh hưởng của một số yếu tố đến năng suất mật ong 58

3.2.2.1 Ảnh hưởng của mùa vụ đến năng suất mật ong 58

3.2.2.2 Ảnh hưởng của vùng miền (Đại Từ, Đồng Hỷ, TPTN) đến năng suất mật ong Apis cerana nuôi tại Thái Nguyên 61

3.3 Ảnh hưởng của một số yếu tố đến chất lượng mật ong 63

3.3.1 Ảnh hưởng của loại hoa đến chất lượng mật ong 63

3.3.2 Ảnh hưởng của vùng miền đến chất lượng mật ong 66

3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển đàn ong mật Apis cerana tại Thái Nguyên trong những năm tới 68

3.4.1 Khả năng phát triển nghề nuôi ong mật đến năm 2015 tỉnh Thái Nguyên 68

3.4.2 Một số giải pháp đề xuất nhằm phát triển nghề ong ở tỉnh Thái Nguyên 69 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70

1 Kết luận 70

2 Đề nghị 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

A.cerana : Apis cerana

A.mellifera : Apis mellifera

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tình hình thời tiết khí hậu năm 2012, 6 tháng đầu năm 2013 41

Bảng 3.2: Cơ cấu số hộ nuôi ong và cơ cấu đàn ong nuôi tại các hộ 43

Bảng 3.3: Diện tích cây nguồn mật và thời gian nở hoa 46

Bảng 3.4: Tình hình sâu bệnh đối với đàn ong mật Apis cerana 48

Bảng 3.5: Tình hình địch hại đối với đàn ong mật Apis cerana 50

Bảng 3.6: Ảnh hưởng của quy mô đàn đến số lượng mũ chúa 51

Bảng 3.7: Ảnh hưởng của lượng mật phấn dự trữ đến số lượng mũ chúa 53

Bảng 3.8: Ảnh hưởng của mùa vụ đến tần xuất xây mũ chúa 54

Bảng 3.9: Ảnh hưởng của tuổi ong chúa đến tình hình xây mũ chúa 56

Bảng 3.10: Ảnh hưởng của mùa vụ đến năng suất mật ong 59

Bảng 3.11: Ảnh hưởng của vùng miền đến năng suất mật ong 61

Bảng 3.12: Ảnh hưởng loại hoa đến chất lượng mật ong 64

Bảng 3.13: Ảnh hưởng vùng miền đến chất lượng mật ong 66

Bảng 3.14: Khả năng phát triển nghề nuôi ong trong thời gian tới 68

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, tình hình thời tiết khí hậu trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng có nhiều biến đổi phức tạp theo chiều hướng bất lợi cho ngành sản xuất nông nghiệp trong đó có ngành chăn nuôi Tình hình dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng ở trâu bò và dịch bệnh tai xanh ở lợn đã liên tục bùng phát và làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của ngành chăn nuôi Trước tình hình đó, việc tìm ra một hướng đi mới cho ngành chăn nuôi nhằm tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập đồng thời xoá đói giảm nghèo cho người nông dân, góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn mới là vấn đề được Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm Một trong những đối tượng được chọn để phục vụ cho các mục đích này là con ong và sự phát triển nghề nuôi ong Nghề nuôi ong đòi hỏi nhiều về kỹ thuật, không đòi hỏi có diện tích đất đai riêng, không bóc lột tài nguyên thiên nhiên Vốn đầu tư ban đầu cho nuôi ong không lớn chủ yếu là mua giống và một số thức ăn, còn các vật liệu khác

rẻ tiền như thùng nuôi ong, dụng cụ thu mật, khung cầu… có thể tận dụng gỗ, tre khai thác tại chỗ, chi phí thấp thu hồi vốn nhanh Nuôi ong có ý nghĩa kinh

tế lớn, các sản phẩm do ong tạo ra như mật ong, phấn hoa, sữa chúa không chỉ là nguồn thực phẩm cao cấp, nguồn dược liệu quý sử dụng trong y học và nhiều ngành công nghiệp khác mà còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị Đồng thời nuôi ong mật đã góp phần gián tiếp làm tăng năng suất và chất lượng cho các cây trồng, nông, lâm nghiệp Dùng ong để thụ phấn cho cây trồng là một biện pháp thâm canh tăng năng suất đạt hiệu quả cao, theo tính toán của các chuyên gia thì lợi nhuận do ong thụ phấn cho cây trồng lớn hơn lợi nhuận toàn bộ các sản phẩm từ ngành ong từ 10 đến 140 lần (Levin, 1983 [43]; Eaton, 1994 [40]) Nuôi ong còn tạo thêm công ăn việc làm cho người dân, một vấn đề rất có ý nghĩa với một nước nông nghiệp với lực lượng lao động nông thôn dồi dào và đang có chiều hướng dư thừa như ở Việt Nam

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Cùng với những thuận lợi sẵn có của nghề nuôi ong thì trong những năm gần đây nhờ có các dự án, chương trình phát triển lâm nghiệp, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, trồng và bảo vệ rừng phòng hộ, chuyển đổi, cải tạo vườn tạp sang phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp tập trung với quy mô lớn đã góp phần tạo ra nguồn thức ăn dồi dào, phong phú, là điều kiện thuận lợi cho nghề nuôi ong phát triển

Hiện nay, ở Thái Nguyên nghề nuôi ong đã có những bước phát triển mạnh, từ năm 1996 đến nay nhờ các chương trình dự án về phát triển nuôi ong mật với người nghèo của các tổ chức phi chính phủ như Canada… đã góp phần xóa đói giảm nghèo cho một số hộ dân Năm 2011 Trung tâm học liệu Thái Nguyên đã phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia triển khai Dự án “Phát triển vật nuôi bản địa và đặc sản” cụ thể là nuôi ong mật

Apis cerana tại một số địa phương tỉnh Thái Nguyên Dự án đã được triển

khai trên địa bàn 2 xã Phúc Hà (TP Thái Nguyên) và xã Linh Sơn (huyện Đồng Hỷ), với quy mô 400 đàn ong, 35 hộ dân tham gia Dự án đang mang lại cho người dân nhiều lợi ích, mở ra hướng đi mới, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các hộ nuôi ong Nuôi ong lấy mật là nghề thoát nghèo, làm giàu hiệu quả cho nông dân, nhất là người dân ở các vùng trung du miền núi

Giống ong nội có đặc tính dễ thích nghi, cần cù, chịu khó và không đòi hỏi nguồn hoa tập trung Tuy nhiên, giống ong này còn bộc lộ nhiều nhược điểm cần khắc phục như: Năng suất mật thấp, tính tụ đàn không cao, dễ bốc bay, tốc độ tăng đàn chậm… Đây là những khó khăn mà người dân nuôi ong mật hay gặp phải Để góp phần giải quyết những vấn đề đó, tìm ra các giải pháp phát triển và nâng cao hiệu quả của nghề nuôi ong tại Thái Nguyên

trong thời gian tới chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của

một số yếu tố nội sinh và ngoại cảnh tới khả năng phát triển của đàn ong mật Apis cerana tại tỉnh Thái Nguyên”

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Từ những kết quả nghiên cứu để đưa ra những giải pháp kỹ thuật nhằm xây dựng qui trình chăn nuôi ong mật

- Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phong trào

nuôi ong của các nông hộ trong thời gian tới ở tỉnh Thái Nguyên

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Nguồn gốc, phân loại và một số đặc điểm về hình thái của ong nội

1.1.1.1 Vị trí phân loại của ong mật

Theo tác giả F Ruttner (1988) [45] ong mật thuộc

- Ngành: Chân đốt (A thropada)

- Lớp: Côn trùng (Insecta)

- Bộ: Cánh màng (Hymenoptera)

- Họ: Ong mật (Apisdae)

- Tộc: (Apini)

- Giống: Ong mật (Apis)

Trên thế giới có 9 loài ong cho mật còn ở nước ta có 4 loài chính:

1 Apis cerana Ong châu Á (ong nội, ong ruồi)

2 Apis mellifera Ong châu Âu (ong ngoại)

3 Apis dorsata Ong khoái hay ong gác kèo

4 Apis florea Ong hoa hoặc ong muỗi

Riêng hai loài A dorsata và A florae là loài dã sinh chưa được thuần

hoá, mới dừng ở mức khai thác tự nhiên Một trong những loài ong mật được nuôi phổ biến ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng là loài

ong mật Apis cerana

Dựa trên đặc điểm hình thái, phân bố địa lý loài ong nội (A cerana)

được chia thành 4 phân loài: A cerana indica (Fabricius 1798), A cerana

cerana (Fabricius 1793), A cerana himalaya (Maa 1944) và A cerana japonica (Radoszkowski 1877) (Ruttner, 1988) [50] Còn Heburn H.R.et al

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

(2001) chia ong nội thành 33 phân loài, trong đó có 9 phân loài có tên và 24

phân loài chưa được đặt tên: A cerana cerana (Fabricius 1793), A cerana

indica (Fabricius 1798), A cerana japonica (Radoszkowski 1877), A cerana javana (Enderlein 1906), A cerana himalaya (Maa 1944), A cerana skorikovi

(Maa 1944), A cerana abaensis (Yun and Kuang 1982), A cerana hainanensis (Yun and Kuang 1982) và A cerana philipina (Skorikovi 1929) Radloff S.E.et

al (2005), thu thập 58 đàn ong A cerana vùng phía tây dãy Himalaya với 27

chỉ tiêu hình thái được xử lí thống kê bằng phương pháp phân tích đa biến đã xác định được khu vực này có 2 nhóm là: Hindu Kush - Kashmir và Himachal Pradesh (dẫn theo Nguyễn Thị Thắm, 2010) [28]

Ở Việt Nam, từ năm 1978 đến nay đã nhiều tác giả nghiên cứu về hình

thái ong A cerana trên các địa phương khác nhau (Lê Đình Thái, Nguyễn

Văn Niệm 1980 [27]; Nguyễn Văn Niệm, 1991 [21] Qua phân tích các tác giả

đã đi đến kết luận: Theo sự giảm về vĩ độ thì kích thước cơ thể ong nhỏ đi A

cerana ở miền Bắc có kích thước lớn hơn A cerana ở miền Nam, ong ở Hoà

Bình có kích thước lớn hơn ong ở Như Xuân - Thanh Hoá Ong ở miền Bắc

có một số chỉ tiêu thuộc về ong A cerana cerana như chiều dài vòi hút của

ong đực Một số chỉ tiêu khác như chiều dài/chiều rộng ô Radian, chiều dài

cánh trước ong chúa lại thuộc về phân loài A cerana indica Do các chỉ tiêu

phân tích còn ít, chỉ có 27 chỉ tiêu, trong đó ở ong thợ là 14 chỉ tiêu, trong khi

ở nước ngoài phân tích từ 35-55 chỉ tiêu cho nên trong suốt thời gian đầu các

nhà khoa học Việt Nam chưa khẳng định được ong A cerana của ta thuộc

phân loài nào Đến năm 1992, các tác giả Nguyễn Văn Niệm và Trần Đức Hà

mới kết luận: Ong A cerana miền Bắc thuộc phân loài A cerana cerana

Theo kết quả phân tích 4 mẫu ong ở miền Bắc Việt Nam, tác giả Rutter, 1988

[50] cho biết: A cerana ở miền Bắc thuộc phân loài A cerana cerana nhưng các chỉ tiêu hình thái của ong A cerana cerana lại tách riêng ra một nhóm

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

gần với A cerana himalaya Trên bản đồ phân loại ong A cerana ở phía Nam nước ta thuộc phân loài A cerana indica Theo Nguyễn Văn Niệm, 1991 [21], ong A cerana ở miền Bắc có tầm vóc lớn hơn A cerana ở miền Nam

1.1.1.2 Tổ chức xã hội của loài ong mật Apis cerena

Ong mật có đặc tính sống thành xã hội điển hình nhất trong xã hội côn trùng Đàn ong là một đơn vị sinh học hoàn chỉnh, mọi hoạt động trong xã hội là theo một sự phân công vô cùng chặt chẽ nhưng đồng thời cũng rất linh hoạt (Nguyễn Duy Hoan và cs, 2008 [15]) Một đàn ong thông thường có một ong chúa (làm nhiệm vụ sinh sản), hàng vạn ong thợ trưởng thành và trong mùa hoạt động có vài trăm ong đực cùng với một số trứng, ấu trùng và nhộng sẽ

nở thành ong thợ và ong đực Có thể có những trường hợp đàn ong trong một thời điểm nào đó không có trứng, ấu trùng và nhộng do vào mùa Đông không

có hoa, ong chúa tơ chưa giao phối, chưa đẻ hoặc do cách xử lý của người nuôi ong trong một số tổ nhất định Khi ong chúa già và chết hoặc bị người nuôi ong mang đi nơi khác, đàn ong có thể tạo ra chúa mới Người nuôi ong cũng có thể tạo ra chúa mới để thay thế cho những ong chúa đã già hoặc cho đàn ong bị mất chúa Ong đực thường không có mặt trong đàn ong vào những mùa ong chúa ngừng đẻ hoặc khan hiếm thức ăn Trong đàn ong bao gồm 3 loại hình ong: Ong chúa, ong thợ và ong đực Mỗi loại hình có một vị trí sinh học nhất định trong đàn nhưng gắn bó, ảnh hưởng lẫn nhau rất chặt chẽ (Hoàng Đức Nhuận, Nguyễn Đức Khảm, 1980 [23])

- Đời sống của ong thợ

Vòng đời của ong mật trải qua 4 giai đoạn: Trứng, ấu trùng, nhộng và ong trưởng thành Trong cùng một đàn, thời gian phát triển của ong thợ, ong

đực và ong chúa là khác nhau, giữa các loài có sự khác nhau lớn

Ở giai đoạn trứng, phôi phát triển nhờ hấp thụ chất dinh dưỡng từ lòng

đỏ, giàu protein Trứng nở thành ấu trùng, ấu trùng được những con ong non

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nuôi bằng thức ăn đưa vào lỗ tổ Ấu trùng tăng trưởng rất nhanh về kích thước cũng như về khối lượng, nhờ sự tăng của các tế bào cơ thể đến hàng nghìn lần kích thước ban đầu mà không có sự phân chia

Ong thợ phát triển từ trứng trong những lỗ tổ gần như nằm ngang ở cầu ong Những trứng nở thành ong thợ là những trứng đã được thụ tinh bằng tinh trùng của ong đực, dự trữ trong túi chứa tinh trong cơ thể ong chúa và được điều tiết theo phản ứng của ong chúa đối với kích thước lỗ tổ ong thợ

Những con ong thợ non làm nhiệm vụ “nuôi dưỡng”, thường xuyên tiết chất dinh dưỡng từ hạ hầu của chúng vào những lỗ tổ có ấu trùng Lidauer (1953) tính rằng tổng cộng tới 143 lần cho ăn cho mỗi ấu trùng, mỗi con ong

“nuôi dưỡng” có khả năng cho ấu trùng ăn tới 400 lần, nghĩa là trong cuộc đời của nó có thể nuôi 2-3 ấu trùng (Crane, E, 1990 [37])

Thức ăn nuôi ấu trùng được tiết ra từ những tuyến hạ hầu và hàm trên của những con ong “nuôi dưỡng” (ong thợ non), giầu protein, vitamin và những chất dinh dưỡng cần thiết cho ấu trùng Phần lớn những chất dinh dưỡng đó chuyển hoá từ phấn hoa do ong “nuôi dưỡng” đã ăn Thức ăn mà ong “nuôi dưỡng” để nuôi ấu trùng là “sữa ong thợ” khác với “sữa ong chúa” chỉ dành riêng cung cấp cho lỗ tổ có ấu trùng ong chúa

Thức ăn của ấu trùng ong thợ trong mấy ngày đầu có tỷ lệ đường thấp Sau 2,5-3 ngày, thức ăn của ấu trùng thay đổi, có thêm mật và phấn, thành phần phấn hoa trong sữa ong thợ chỉ là phụ mà thôi Khi được 5 ngày tuổi, ấu trùng ngừng ăn và ong thợ vít nắp lỗ tổ Khác với ấu trùng ong chúa, ấu trùng nằm trong lỗ tổ vít nắp không được ăn nữa Khi đã phát triển đầy đủ thì ấu trùng tiết ra các sợi tơ để làm kén và trong quá trình kéo kén ấu trùng lộn một

số vòng, ong thợ lộn 37 vòng, ong chúa lộn 40-50 vòng, ong đực lộn 40-80 vòng, mỗi vòng diễn ra khoảng một giờ hoặc non một giờ Cuối cùng, ấu trùng ong thợ nằm dọc theo lỗ tổ, đầu hướng ra phía ngoài; nó thực hiện được

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

sự chuyển mình này không phải vì phản ứng đối với trọng lực như ở ấu trùng ong chúa, mà vì nhận biết được sự khác nhau về cấu tạo và hình dạng của nắp

và đáy tổ, đáy lỗ tổ hình thành bởi vách giữa hai lớp lỗ tổ của cầu ong Vài ba ngày sau khi nhả tơ, ấu trùng hoá nhộng và nhóm tế bào thứ hai trong cơ thể nhộng (vốn rất nhỏ và bất động trong giai đoạn ấu trùng) đột nhiên bắt đầu phân chí nhanh chóng Những tế bào đó sẽ trở thành những mô của ong trưởng thành và tất nhiên sẽ thay thế toàn bộ các tế bào của ấu trùng Sự phát triển từ ấu trùng thành nhộng không phải về kích thước mà về thay đổi cấu tạo của cơ thể để trở thành ong trưởng thành

Theo Eva Crane, 1990 [8], các giai đoạn phát triển của ong thợ, ong

chúa, ong đực thuộc giống A cerana được mô tả qua bảng sau:

Các giai đoạn phát triển của ong Apis cerana

- Nở ra ấu trùng: Là số ngày trứng nở ra ấu trùng

- Vít nắp: Số ngày ấu trùng được vít nắp trong lỗ tổ

- Nở thành ong: Số ngày ong trưởng thành nở ra khỏi lỗ tổ

Khi ấu trùng ăn, nó tự sản sinh ra nhiệt; còn trong giai đoạn nhộng, nhiệt luôn được duy trì ở 350C nhưng hoàn toàn do những con ong che phủ

ở mặt cầu

Cuối cùng, con ong non hình thành, lột bỏ lớp da nhộng, dùng hàm cắn nắp vít và chui ra ngoài, cơ thể màu xam xám và mềm yếu Trong suốt quá trình phát triển từ trứng đến ấu trùng và nhộng, con ong chỉ ở trong từng lỗ tổ

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

riêng, không hề có sự tiếp xúc với nhau Đó là một điểm trái ngược rõ rệt với cuộc sống xã hội rất cao khi chúng là ong trưởng thành

Khi chui ra khỏi lỗ tổ thì cấu tạo về mặt giải phẫu của một con ong trưởng thành đã hình thành và hoàn chỉnh Nhưng sau đó nó phải trải qua thời

kỳ phát triển hoàn toàn hệ thống các tuyến và bộ máy sinh dục Thời kỳ này

nó cần rất nhiều protein và những chất dinh dưỡng khác không phải là hydrat cacbon sẵn có trong phấn hoa Mấy ngày đầu sau khi nở, ong thợ phải ăn đủ một số lượng phấn hoa có chất lượng cao để các tuyến có thể phát huy hết tiềm năng Tuổi thọ của ong thợ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó số lượng phấn hoa mà nó được ăn trong thời kỳ ong non và tổng số ấu trùng mà

nó phải nuôi là hai yếu tố quyết định

- Đời sống của ong chúa

Cũng như ong thợ, ong chúa được phát triển từ trứng được thụ tinh Nhưng khác với ong thợ là ấu trùng ong chúa được những con ong nuôi dưỡng tiết ra và cho ăn những thức ăn khác với thức ăn của ấu trùng ong thợ Những con nuôi dưỡng điều chỉnh lượng nước trong thức ăn, vì vậy cũng là điều chỉnh thành phần thức ăn của mỗi loại ong Thức ăn của ấu trùng ong thợ chỉ có 12% đường, và được ăn như vậy trong 1,25 ngày (đến khi ấu trùng được 2,5 ngày tuổi thì tỷ lệ đường trong thức ăn còn rất thấp) Còn thức ăn của ấu trùng ong chúa có hàm lượng đường cao hơn (34%) và được duy trì suốt từ 1 đến 4 ngày tuổi Tỷ lệ đường cao hơn như vậy kích thích ấu trùng ăn càng nhiều thức ăn; và thức ăn được cung cấp thoả mái, cho đến khi vít nắp mũ chúa vẫn còn nhiều thức ăn để ấu trùng tiếp tục ăn,

ấu trùng ong chúa tiêu thụ thức ăn nhiều hơn ấu trùng ong thợ 25% Thức ăn

do ong nuôi dưỡng tiết ra để nuôi ấu trùng ong chúa được gọi là sữa chúa Cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu thấy chút ít phấn trong thức ăn của ấu trùng ong chúa (Eva Crane, 1990 [8])

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Khi lỗ tổ ong chúa đã được ong thợ vít nắp, trước khi nhả tơ làm kén và thành nhộng, ấu trùng đã xoay mình để đầu xuống phía dưới Khi hoàn thành giai đoạn phát triển trong lỗ tổ, ong chúa cắn gần hết nắp mũ chúa hình tròn

và chui ra, hoà nhập với những thợ trưởng thành ở trong đàn

Công việc đầu tiên của con ong chúa khi vừa chui ra khỏi lỗ tổ là tìm kiếm xem trong đàn có còn mũ chúa nào có chúa sắp nở ra không Nếu có, nó

mở vách mũ chúa đó ra và đốt cho chết con chúa đó đi Trường hợp ong chúa được tạo ra để chuẩn bị cho việc chia đàn thì ong thợ bâu kín xung quanh mũ chúa để con ong chúa nở ra trước đó không giết được Những con chúa được tạo thêm này sẽ bay ra (chưa giao phối) với từng nhóm quân mà số lượng do ong thợ tự điều chỉnh

Các giai đoạn trưởng thành của ong chúa thuộc chủng Apis cerana (ngày)

Bay: Ngày thực hiện chuyến bay đầu tiên

Giao phối: Ngày ong chúa tiến hành giao phối

Đẻ: Ngày bắt đầu đẻ trứng

Trong mấy ngày đầu sau khi chui ra khỏi lỗ tổ, ong chúa tơ có phản ứng

âm đối với ánh sáng; nó cảm thấy khó chịu với ánh sáng ở cửa tổ Thoạt đầu, ong thợ không để ý, không nhận biết sự có mặt của ong chúa tơ, nhưng sau vài giờ ong thợ bắt đầu tiếp xúc, chải chuốt cho nó Chúng cũng bắt đầu quấy nhiễu, tấn công làm ong chúa tơ bị xua đuổi liên tiếp đến mệt nhoài Và thường

là sau cuộc xua đuổi ong chúa được ăn nhiều hơn Cũng có khi ong chúa tơ tự ý

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

chạy lung tung, dẫm đạp lên ong thợ và đối xử thô bạo với ong thợ, thậm chí có khi đốt và giết chết ong thợ Bằng cách đó và nhiều cách khác nó thiết lập vị trí trị vì của nó trong đàn Hơn nữa, nhờ kết quả của việc tập luyện mạnh mẽ, ong chúa tơ trở lên có khả năng thực hiện những chuyến bay dài khỏi tổ và lại trở

về Đối với một đàn ong, mất mát từng con ong thợ khi bay ra ngoài thì không

có vấn đề gì, nhưng nếu là mất con ong chúa mới thì thật là tai hại, nhất là nếu không có ấu trùng ở độ tuổi để nuôi dưỡng thành ong chúa

Ở những miền ôn đới phía Bắc, ong chúa bay ra ngoài vào buổi chiều, lúc 14-16 giờ, khi nhiệt độ khí trời trên 200C không có gió hoặc gió nhẹ Nhiều con ong chúa thực hiện một chuyến bay ngắn, nghỉ trong ít phút để xác định phương hướng trước khi bay dài hơn (tới 30 phút) để giao phối Sau khi giao phối, ong chúa bay trở về tổ, ong thợ rất ân cần chăm sóc nó, cho nó ăn Khoảng 2-4 ngày sau, nó bắt đầu đẻ nhưng cũng có những trường hợp chỉ 24 giờ sau ong chúa bắt đầu đẻ

Theo Eva Crane, 1990 [8] đã theo dõi khoảng cách từ sau khi giao phối đến khi đẻ của 56 con ong chúa như sau:

Khoảng cách từ khi giao phối đến khi đẻ của ong chúa

Số trứng mà ong chúa đẻ trong 24 giờ phụ thuộc vào độ tuổi của ong chúa, vào thế đàn, các điều kiện khác của đàn, vào tình hình không gian các cầu ong và vào điều kiện bên ngoài, trong đó có độ dài ngày (độ dài chiếu sáng) và mức tăng hay giảm của độ dài ngày Số trứng đẻ ra trong ngày còn

tuỳ thuộc vào loài ong (nói chung loài ong Apis cerana đẻ ít hơn loài ong

Apis mellifera)

Khả năng đẻ của ong chúa sẽ giảm đi khi nó ở 2-3 tuổi, có thể sớm hơn nếu trong khi giao phối nó nhận được quá ít tinh dịch Đi đôi với tuổi

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

già, khả năng sinh ra những chất feromone của ong chúa cũng giảm đi, và nó không có khả năng gắn bó cả đàn lại với nhau như lúc nó còn thanh xuân Đồng thời khi về già, ong chúa cũng có những tính trạng không bình thường,

tỷ lệ trứng không thụ tinh cao, làm số ong đực trong đàn tăng lên nhiều Kết quả là ong thợ muốn tạo một chúa mới hoặc để thay thế nó hoặc để chia đàn, nếu không có sự can thiệp của người nuôi ong bằng cách thay chúa già bằng chúa trẻ cho đàn ong

- Đời sống của ong đực

Khác với ong thợ và ong chúa, ong đực được sản sinh từ trứng không thụ tinh, đó là những con ong đực mang bộ nhiễm sác thể đơn bội (n) (ong thợ

và ong chúa mang bộ nhiễm sắc thể 2n), do ong chúa đẻ vào lỗ tổ ong đực Cho đến 7 ngày tuổi lỗ tổ có ấu trùng ong đực mới được vít nắp; ấu trùng ong đực được ăn nhiều hơn và lớn hơn (384mg) so với ấu trùng ong thợ (159mg) Trong 1-3 ngày tuổi, sữa cho ấu trùng ong đực có khác với sữa cho ấu trùng ong thợ và ong chúa ăn Matsuka và đồng nghiệp nhận xét rằng “sữa ong đực

đã giảm bớt” khi ấu trùng 5-6 ngày tuổi (2 phần sữa ong đực, 1 phần mật ong

và ngoài ra còn có cả phấn) (Eva Crane, 1990) [8])

Lỗ tổ ong đực giống lỗ tổ ong thợ về hình dáng và phương hướng nhưng hình 6 cạnh lớn hơn, và nắp lỗ tổ hình vòm lồi ra, vì cơ thể ong đực

lớn hơn Ở nhiều dòng sinh thái của ong Apis cerana trên lỗ tổ có ong đực vít

nắp thường có một lỗ nhỏ ở chính giữa

Giai đoạn phát triển của ong đực dài hơn ong thợ và ong chúa vì giai đoạn nhộng dài hơn gần 5 ngày so với ong chúa Sau khi kết thúc giai đoạn nhộng, ra khỏi lỗ tổ, con ong đực bước vào giai đoạn trưởng thành Nó cần được ăn phấn hoa mặc dù khả năng tiêu hoá phấn hoa của nó kém hơn ong thợ Hầu hết thời gian nó chỉ quanh quẩn ở bánh tổ và được những con ong nuôi dưỡng cho ăn những thức ăn hỗn hợp gồm phấn, mật ong và các chất

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tiết ra từ các tuyến của ong nuôi dưỡng Do được nuôi dưỡng nên ong đực lớn lên nhanh, trong 4 ngày đầu trọng lượng cơ thể nó tăng 28% và thành phần đạm trong cơ thể tăng lên tới 38-62% Những con ong đực già hơn được ăn ít hơn, khi 7-8 ngày tuổi ong thợ chỉ cho chúng ăn mật ong Qua tuổi đó ong đực không ở trong bánh tổ có ấu trùng, nhộng nữa và tự ăn mật ong ở các lỗ chứa mật

Ong đực thành thục tính dục ở ngày thứ 12 hoặc muộn hơn Tinh trùng của ong đực không phát triển qua một chu kỳ phân bào giảm nhiễm hoàn toàn Vì vậy, về mặt di truyền, tinh trùng của ong đực giống như của ong chúa

đã sinh ra nó, và ong đực chỉ làm nhiệm vụ truyền gen của ong chúa mẹ cho thế hệ tiếp theo làm cho ong chúa sinh ra nó có chức năng làm “bố” đối với thế hệ sau qua sự giao phối của nó (Eva Crane, 1990 [8])

1.1.2 Hiện tượng chia đàn tự nhiên đối với ong mật Apis cerana

Hiện tượng ong chia đàn tự nhiên là sự ra đi khỏi tổ của một bộ phận ong thợ trưởng thành trong đàn cùng với ong chúa cũ Ong chia đàn tự nhiên

là bản năng của loài ong nhằm bảo toàn và phát triển nòi giống, trong điều kiện thuận lợi thì ong sẽ chia đàn Việc chia đàn tự nhiên của loài ong mật đôi khi gây khó khăn cho người nuôi ong trong công tác quản lý và chăm sóc Nếu đàn ong nhỏ mà chia đàn thì thế đàn nhỏ, năng suất mật giảm Tuy nhiên nếu đàn ong mạnh mà chia đàn tự nhiên sẽ là một thuận lợi cho việc phát triển thêm số lượng đàn ong với chất lượng tốt

Hàng năm ở miền Bắc cứ đến vụ hoa nở, nguồn thức ăn phong phú, điều kiện thời tiết khí hậu thuận lợi, đàn ong phát triển nhanh có nhiều ong non, chúa

đẻ tốt thì đàn ong sẽ bồi dục ong đực trước sau một thời gian cũng sẽ xây mũ chúa để chia đàn tự nhiên Theo tác giả Nguyễn Duy Hoan và cs, 2008 [15], thường có 3 thời điểm ong hay chia đàn tự nhiên là: Vụ hoa nhãn (tháng 3-4); vụ hoa bạch đàn (tháng 5-6); vụ hoa càng cua, chó đẻ (tháng 11-12)

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Các yếu tố thúc đẩy đàn ong mật chia đàn tự nhiên: Ngoài các yếu tố khách quan như khi điều kiện thời tiết thuận lợi, nguồn thức ăn trong tự nhiên phong phú thì còn có các yếu tố chủ quan như: Ong chúa đẻ khỏe, đàn ong đông quân, lực lượng lao động dư thừa, nhiều ong non, số cầu con vượt quá mức, đàn ong chật trội, nóng bức; lượng mật - phấn dự trữ quá nhiều; bản năng dã sinh bị kích thích bởi các yếu tố ngoại cảnh; chúa đã già, đẻ kém và khả năng tiết ra chất chúa (feromol) ít; thùng ong quá chật trội, cho xây chân tầng chậm hoặc đặt thùng ong ở nơi quá nóng

Theo Nguyễn Duy Hoan và cs, 2008 [15], khi đàn ong chuẩn bị chia đàn tự nhiên thì trước đó vài ba tuần ong thợ sẽ xây nhiều lỗ tổ ong đực ở hai góc dưới hoặc mép dưới của bánh tổ Khi đó đàn ong đông quân, tràn ra ngoài ván ngăn, ong thợ quạt gió mạnh, ong thợ có thể đậu cả ra ngoài cửa tổ vào buổi tối và bám nhiều ở dưới đáy thùng như hình chùm nho Vào buổi trưa quan sát có nhiều ong non tập bay Khi nhộng ong đực vít nắp hoặc sắp nở thì đàn ong tiến hành xây mũ chúa mới Số lượng mũ mỗi đợt xây từ 7-10 mũ hoặc nhiều hơn, với các tuổi ấu trùng chúa khác nhau, có trường hợp mũ chúa vừa mới đắp ong đã chia đàn Quan sát thấy hiện tượng đàn ong đi làm uể oải, ong treo, bụng ong thợ căng đầy mật

Cũng theo Nguyễn Duy Hoan và cs, 2008 [15], thời điểm ong chia đàn thông thường khi mũ chúa vít nắp chuyển sang mầu nâu thì đàn ong bắt đầu chia (trước khi mũ chúa nở 3-4 ngày) Đàn ong chia thường chờ những ngày

có thời tiết nắng ấm, mát mẻ, ong chia đàn từ 8-16 giờ, ong thường tập trung chia đàn nhiều nhất từ 9-10 giờ trưa và 13-14 giờ chiều Khi đàn ong chia đàn chúng chuyển động thành dòng ra ngoài cửa tổ tạo lên âm thanh huyên náo nhưng nhỏ hơn ong bốc bay và thường đàn ong bay đi với chúa cũ, còn con nào ở lại vẫn bình thường, những con bay đi vẫn còn lượn quanh tổ Đàn ong chia đàn bay ra khoảng 2/3 số quân muốn chia đàn thì ong chúa bay ra, khi

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

chia chúng bay nhiều vòng trên không trung xung quanh thùng ong, khi chúa bay ra thì đàn ong tụ lại ở một vi trí nào đó gần trại ong (cành cây hoặc hiên nhà) để chờ ong trinh sát đi tìm nơi làm tổ mới về báo, khi bay đi ong thợ quên ngay tổ cũ dù có bắt về để gần tổ cũ chúng cũng không bay vể tổ cũ Đây là một đặc điểm sinh học đặc biệt của loài ong mật mà khoa học vẫn chưa giải thích được

Để hạn chế hiện tượng chia đàn thì vào vụ hoa, nếu đàn ong đông quân thì cho xây thêm bánh tổ để ong non có đủ việc làm và chuyển sang thùng rộng hơn, hạn chế sự chật trội trong đàn Khi quay mật chủ động cắt bỏ phần ong đực, vặt bỏ các mũ chúa mà ong thợ đã đắp, quay bớt mật dự trữ của ong Cắt cánh mũ chúa Có thể rút đổi cầu nhộng cho các đàn yếu nhằm làm giảm số quân và điều chỉnh được thế đàn của trại ong Thay chúa khi đã già

và chú ý chống nóng cho đàn ong

1.1.3 Năng suất, chất lượng ong mật Apis cerana và các yếu tố ảnh hưởng

1.1.3.1 Năng suất của ong mật Apis cerana

Năng suất mật ong là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất đối với nghề nuôi ong Đàn ong khỏe mạnh, số lượng ong đông, số lượng đàn ong nhiều hay ít phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết khí hậu, vùng miền ngoài ra còn phụ thuộc vào các yếu tối nội tại của đàn ong và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng của người nuôi ong

Năng suất mật ong của tỉnh Đắc Lắc tăng dần qua các năm: Năm 1999, năng suất mật ong trung bình đạt 13,3kg mật/đàn, năm 2001 đạt 13,5 kg/đàn, năm 2002 đạt 21,5kg/đàn, năm 2003 đạt 22kg/đàn (

http://www.Cares.org.vn, 2004 [48])

Năng suất của mật ong ở miền Bắc nói chung, trung bình đạt 50,74 kg/đàn/năm đối với ong Ý, cao hơn 2,96 lần so với ong nội đạt 17,02 kg/đàn/năm (Nguyễn Duy Hoan, 2010 [16])

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Kỹ thuật khai thác mật ong cũng là một trong những khâu quan trọng của nghề nuôi ong nhằm nâng cao năng suất mật và bảo vệ đàn ong Mùa vụ khai thác mật chính ở Miền Bắc là vụ Xuân - Hè (từ tháng 3-5), đó là mùa hoa vải, hoa nhãn, các loại cây như keo tai tượng, cây cao su tiết mật ở nách lá; vụ Thu - Đông (từ tháng 9-12), khi có cỏ cúc áo, cỏ lào, bạc hà, chân chim

và một số loại cây rừng nở hoa Đàn ong đủ tiêu chuẩn khai thác quan sát phía ngoài thấy có nhiều ong mang mật, phấn về, thời gian đi làm của ong dài Mở đàn ra thấy có nhiều bánh tổ chứa mật đã vít nắp thì đó là đàn ong đủ tiêu chuẩn khai thác mật Bánh tổ đủ tiêu chuẩn đó là những bánh tổ già có nhiều mật vít nắp, bánh có nhiều lỗ tổ ong đực

Thời điểm thu mật ong chủ động thu hoạch vào buổi sáng, mật ong sẽ đặc hơn Không lấy mật ban đêm dễ làm chết ong chúa, chết ong non Không nên thu hoạch buổi chiều vì mật thu được sẽ loãng do ong chưa kịp chế biến mật hoa thành mật ong Việc khai thác mật đúng thời vụ giúp cho người nuôi ong thu được nhiều lần, nâng cao năng suất mật ong

1.1.3.2 Chất lượng của mật ong Apis cerana

Mật ong là sản phẩm chính của nghề nuôi ong Đây là sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, được sử dụng làm thức ăn bổ sung cho con người trong nhiều loại thực phẩm và là vị thuốc tự nhiên chữa được nhiều bệnh như viêm họng, bệnh đường ruột

Theo tiêu chuẩn Việt Nam (trích Ngô Đắc Thắng, 1994 [29]) mật ong được phân loại nguồn gốc thực vật thành 3 loại là mật ong hoa, mật ong dịch lá

và mật hỗn hợp

Tính chất hóa học của mật ong:

- Mật ong là chất lỏng có dạng từ đặc sánh đến kết tinh Kết tinh là hiện tượng tự nhiên, bình thường của mật ong do tỷ lệ đường khử

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Glucoza/fructoza >1 Mật ong kết tinh nhiều hay ít hoặc không kết tinh là tùy thuộc vào cây nguồn mật Theo Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện, 1999 [5], mật hoa cao su, cỏ lào, chân chim thường dễ kết tinh; còn các loại mật như mật hoa nhãn, vải, bạch đàn, táo thì ít kết tinh hoặc không kết tinh Thời gian kết tinh có thể sau vài tháng thu hoạch mật

- Mật ong có mầu sắc, mùi vị đặc trưng cho từng loại hoa mà ong lấy mật Dựa vào tính chất này người ta có thể nhận biết được nguồn gốc địa lý của mật ong thông qua phương pháp phân tích phấn hoa

- Hàm lượng đường hòa tan trong mật cao (>65%), mật có tính hút ẩm, hút mùi vì vậy tránh bảo quản mật ong ở những nơi ẩm thấp, tránh tiếp xúc với không khí và không để mật ở nơi có mùi xăng, dầu, hành tỏi

- Mật ong rất nhậy cảm với nhiệt độ và ánh sáng trực tiếp, do vậy nên đựng mật trong những chai lọ thủy tinh mờ, can sẫm màu và bảo quản ở nơi thoáng mát (nhiệt độ không quá 360C)

- Mật ong có tính chất lên men, khi tỷ lệ nước trong mật cao vượt quá 23%, mật dễ bị lên men sinh ra khí CO2 làm cho mật bị chua, chất lượng mật giảm Đặc biệt nếu sử dụng đồ đựng mật bằng kim loại, mật có thể bị biến chất, gây ngộ độc cho người sử dụng vì trong mật có chứa axit hữu cơ và đường dưới tác dụng của men sẽ sinh ra axit etylenic ăn mòn lớp kim loại và làm tăng thêm hàm lượng kim loại trong mật ong

Chỉ tiêu đánh giá chất lượng mật ong:

Chất lượng mật ong được đánh giá qua các chỉ tiêu chính như tỷ lệ nước, đường khử (đường glucoza, fructoza), đường sacaroza, hàm lượng HMF, hàm lượng axit tổng số, màu sắc, hương vị và độ trong của mật… Một số chỉ tiêu chính đánh giá chất lượng mật được thể hiển ở bảng sau

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Tiêu chuẩn chất lƣợng mật ong

1 Tỷ lệ nước (%) < 21 < 23 <21 <21

2 Tỷ lệ đường khử tự do (%) > 65 >70 >60 >65

3 Tỷ lệ đường sacaroza (%) < 5 < 5 < 5 < 5

4 Độ axit tự do (ml/kg) > 40 > 40 > 40 > 40

5 Amilaza (Diastaza) (độ gothe) ≥ 3 ≥ 3 ≥ 3 ≥ 3

6 Chất rắn không tan trong nước (%) < 1 < 1 < 1 < 1

Nguồn: www.iheo.org, 2004 [47]

Tỷ lệ nước trong mật ong là một trong những yếu tố quyết định chất lượng mật ong và là một trong những chỉ tiêu chính được kiểm tra nghiêm ngặt trước khi xuất khẩu mật ong Khi tỷ lệ nước trong mật ong quá cao, mật

dễ bị lên men, biến chất, thời gian bảo quản ngắn Theo Ngô Đắc Thắng, 1994 [29], khi thu hoạch mật ong chưa chín (chưa vít nắp) thì mật còn chứa nhiều nước, hàm lượng enzim ít, các loại vi sinh vật hoạt động mạnh, chuyển hóa đường thành rượu và khí CO2 làm mật bị chua, có bọt khí chất lượng mật không đảm bảo

Theo Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện, 1999 [5], tỷ lệ nước trong mật cao hay thấp phụ thuộc vào cây nguồn mật, giống ong, cách thu mật, thời điểm quay mật, nơi đặt thùng ong và độ thoáng không khí của thùng ong Cũng theo Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện, 1999 [5], cho biết hàm lượng đường trong mật hoa tỷ lệ thuận với hàm lượng đường trong mật ong

Theo Hà Văn Quê, 2002 [26], vào vụ mật vải thiều và nhãn, thời tiết ít mưa, chủ yếu là mưa nhỏ nên tỷ lệ nước trong mật ở vụ này là 23,7%, ở vụ hoa bạch đàn, mưa rào dài ngày, mật hoa loãng nên tỷ lệ nước trong mật hoa

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

cao tới 29,8% Cũng theo Hà Văn Quê, 2002 [26], tỷ lệ nước trong mật vải thiều của giống ong ngoại là 22,7%, ở ong nội là 23,7%; tỷ lệ nước trong mật hoa bạch đàn ở ong nội là 29,8% và ở ong Ý là 24,7%

Theo Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện, 1999 [5], nuôi ong trong thùng kế có chất lượng mật tốt hơn, mật trong và tỷ lệ nước thấp hơn từ 3-4%

so với thùng không lên kế

Theo Eva Crane, 1990 [8], mức độ vít nắp đánh giá độ chín của mật ong Vít nắp làm giảm bớt sự hấp thu nước vào mật, tránh cho mật không bị lên men Không nên quay mật ở các cầu có các lỗ tổ vít nắp ít hoặc chưa vít nắp và không nên để mật đã quay tiếp xúc trực tiếp với không khí ẩm, vì lỗ tổ chưa vít

nắp, không khí ẩm là nguyên nhân làm cho tỷ lệ nước trong mật tăng cao

1.1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng mật ong

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng mật ong trong

đó một số yếu tố chính ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng mật ong đó là:

- Điều kiện thời tiết khí hậu

Tình hình thời tiết khí hậu là điều kiện tiên quyết cho phát triển nghề ong Vì vào vụ mật chính nhiệt độ bắt đầu tăng lên, thời tiết ấm dần từ tháng

2, lượng mưa ít, nguồn hoa phong phú, những cây nguồn mật chính nở hoa trong vụ này là vải, nhãn, càng cua, lúa Lúc này người nuôi ong cần phải chú ý thay chúa mới, cho xây bánh tổ, phòng và chủ động chia đàn, thu mật

và xử lý bệnh tật Sang đến giữa tháng 5 trở đi nhiệt độ cao, mưa to kéo dài kèm theo bão, nguồn hoa giảm, xuất hiện nhiều địch hại Đây là giai đoạn khó khăn nhất đối với người nuôi ong, lúc này phải chủ yếu chống nóng cho đàn ong, chống địch hại và đặc biệt phải cho ong ăn bổ sung để chống bốc bay

Từ tháng 9 trở đi nhiệt độ bắt đầu giảm, lượng mưa ít, đàn ong lại bắt đầu phát triển đi lên do có nhiều nguồn hoa như càng cua, cây phân xanh, chè, ngô, keo lai… song cần phải chú ý chống rét cho đàn ong

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Điều kiện thời tiết khí hậu, sự thay đổi mùa vụ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đàn ong Đàn ong có khả năng tự giữ được sự ổn định về nhiệt

độ và ẩm độ trong đàn Nhiệt độ: 32 - 360

C; ẩm độ: 65 - 80%

Khi nhiệt độ môi trường lên cao đàn ong tích cực quạt gió và đi lấy nước về đặt lên các vít nắp nhộng để làm mát tổ và duy trì được ẩm độ Còn khi nhiệt độ môi trường xuống thấp thì đàn ong tụ lại thành từng chùm để ủ

ấm cho ấu trùng, khi nhiệt độ càng thấp thì ong tụ càng dày, chúng tiêu thụ nhiều mật để tạo ra năng lượng cần thiết

Để giúp đàn ong điều hoà tốt được khí hậu trong thùng ong thì người nuôi ong phải tích cực chống nóng và chống rét cho đàn ong Việc chống nóng và chống rét đã giúp cho đàn ong phát triển bình thường trong lúc thời tiết khắc nghiệt

Chống nóng: Dùng khay tôn đựng nước đặt trực tiếp trên tổ ong có tác dụng làm mát tổ Theo cách này nhiệt độ trong thùng ong giảm từ 1,5 - 20

C so với thùng ong không để khay nước Bộ môn ong trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, (2000) [2] cho biết, để chống nóng cho đàn ong nên dùng ván đóng thùng xốp, cách nhiệt 1,5cm, có cửa sổ ở phía sau và đặt thùng ở dưới bóng cây hướng Đông Nam, có thể dùng lá cọ, phên nứa đậy trên thùng, đặt máng nước trong thùng, bỏ thước giữa hai bánh tổ

Chống rét: Để phòng chống rét thì trước mùa rét cần điều chỉnh đàn, thay chúa kém, cho ăn thêm để có mật vít nắp, giảm hoặc kiểm tra nhanh thùng ong Nếu quá rét nên dùng rơm, lá chuối khô, giấy báo, xốp đặt xung quanh thùng, bịt kín khe hở, đóng cửa sổ, đặt thước Khi nhiệt độ xuống dưới

120C phải đóng cửa tổ

- Mùa vụ

Yếu tố mùa vụ cũng có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tăng đàn của các đàn ong Ở vụ Xuân - Hè (tháng 3-4) các điều kiện khách quan như thời tiết

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

rất thuận lợi, nguồn thức ăn trong tự nhiên phong phú, đa dạng Ngoài ra còn

có các điều kiện chủ quan như: Ong chúa đẻ khoẻ, đàn ong phát triển đến mức đỉnh điểm, lực lượng lao động dư thừa, nhiều ong non, đàn ong chật trội, nóng bức, lượng mật phấn dự trữ quá nhiều, bản năng dã sinh bị kích thích bởi các yếu tố ngoại cảnh dẫn đến việc đàn ong sẽ bồi dục ong đực trước sau

đó sau một thời gian chúng xây mũ chúa để chia đàn tự nhiên với cường độ cao Còn ở vụ Thu - Đông (tháng 11-12) sau khi trải qua vụ Hè - Thu thì nhiệt

độ giảm dần, các cây mầu vụ Thu - Đông cùng với hoa rừng bắt đầu cho hoa, các đàn ong bắt đầu phát triển trở lại nhưng nguồn mật không đáng kể, chủ yếu là nguồn phấn và chúng lại bắt đầu có kế hoạch xây mũ chúa chia đàn

nhưng với cường độ ít hơn vụ Xuân - Hè

- Cây nguồn mật

Thức ăn chủ yếu của ong là mật hoa và phấn hoa trong tự nhiên Mật hoa cung cấp tất cả các năng lượng cần thiết cho con ong Theo Nguyễn Thị Minh Hiền (2004) [12], trong mật hoa có nhiều loại đường, chủ yếu là saccaroza, glucoza, fructoza … là nguồn năng lượng cơ bản cho sự sinh tồn

và sản xuất của đàn ong, trong đó, một phần mật hoa mà ong lấy được để sinh trưởng và phát triển đàn, phần mật hoa dư thừa ong luyện thành mật ong dự trữ trong các lỗ tổ Ong thường sử dụng và nuôi ấu trùng bằng mật hoa mới lấy về, đồng thời chế biến một phần còn lại thành mật ong Phấn hoa là nguồn cung cấp protein, chất béo, vitamin, muối khoáng… cho ấu trùng và ong non Khi thiếu phấn hoa đàn ong không nuôi ấu trùng và ngừng xây tổ Nếu nơi nào có nguồn hoa phong phú, cung cấp đủ mật - phấn quanh năm thì nơi đó đàn ong phát triển rất tốt và cho năng suất mật cao Ngược lại nếu nơi nào nguồn hoa ít, không đủ cung cấp thức ăn cho ong thì việc nuôi ong sẽ gặp rất nhiều khó khăn, năng suất mật thấp

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Với những đặc điểm biết dự trữ thức ăn dư thừa của con ong, con người đã tính toán trồng các loại cây nguồn mật cho ong để biến những thức ăn dư thừa của con ong thành sản phẩm mật ong phục vụ cho nhu cầu của con người và đem lại lợi ích kinh tế cho người nuôi ong Tuy nhiên, nếu trồng cây chỉ để cho ong thu mật thì đó không phải là một đề xuất có tính chất kinh tế lớn, nhưng một số loại cây có khả năng cho năng suất mật cao khác thường và chúng còn có những đặc tính khác đáp ứng được mục đích riêng của người trồng cây thì chúng được trồng ngay, vì theo tính toán của các chuyên gia thì lợi nhuận do ong thụ phấn cho cây trồng lớn hơn lợi nhuận toàn bộ các sản phẩm từ ngành ong từ 10 đến 140 lần (Levin, 1983 [43]; Eaton, 1994, [40])

Theo Ngô Đắc Thắng (2002) [31], sản lượng mật thu được trong một năm quyết định bởi cây nguồn mật chính, còn cây nguồn mật hỗ trợ quyết định sự phát triển đàn ong và thu sản phẩm phụ, vì vậy nó gián tiếp quyết định sản lượng mật thu được Cây nguồn mật chính là cây tiết nhiều mật, số cây nhiều và tập trung (như cây vải thiều, nhãn, cao su, chôm chôm, cam, soài…); cây nguồn mật hỗ trợ là những cây có mật, phấn cho ong ăn nhưng chỉ đủ để duy trì đàn ong và không đủ để khai thác (cây keo)

Theo Phạm Xuân Dũng (1994) [6], các loại cây nguồn mật chủ yếu ở nước ta bao gồm:

+ Cây vải thiều: Phân bố chủ yếu ở tỉnh Bắc Giang và một số tỉnh vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ Thời gian nở hoa từ 20/2 - 03/4 hàng năm Một ha cây vải thiều có thể khai thác được 120 - 140 kg mật ong

+ Cây nhãn: Phân bố ở hầu khắp các vùng ven sông ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, có nhiều ở Hưng Yên, đồng bằng Sông Cửu Long (Tiền Giang, Bến Tre) Thời gian nở hoa từ 10/3 - 15/4 Trung bình một ha có thể khai thác được 100 - 125 kg mật ong

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Cây cao su: Phân bố chủ yếu ở miền Đông Nam Bộ (Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum), khu IV cũ (Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh) Ong khai thác dịch ngọt tiết ra từ lá của cây Thời gian tiết mật từ 15/2 - 30/4 Một ha cây cao su có thể khai thác được 70 - 75 kg mật ong Đây là nguồn mật xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam do diện tích cây cao su khá lớn

+ Cây bạch đàn: được trồng nhiều ở các tỉnh trung du Bắc Bộ như Vĩnh Phúc, Bắc Giang Tuy nhiên hiện nay diện tích bạch đàn đã bị thu hẹp dần Một ha bạch đàn liễu có thể khai thác được 100 - 150 kg mật ong

+ Cây keo lai: Được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc Hiện nay, cây keo lai là cây lâm nghiệp chính để phủ xanh đất trống đồi núi trọc giúp làm tăng tỷ lệ che phủ của rừng và làm nguyên liệu để sản xuất giấy Một ha keo lai có thể khai thác được 60 - 70 kg mật ong

Ngoài ra, một số cây nguồn mật như táo, cây cỏ lạc, bạc hà dại, lúa, ngô… cũng cho năng suất và chất lượng mật, phấn khá tốt Đặc biệt là mật ong khai thác từ hoa táo và hoa bạc hà dại có hương vị rất đặc trưng

- Chất lượng thùng nuôi ong: Có ảnh hưởng rõ tới chất lượng mật ong

Thùng nuôi ong hở có thể gây khó khăn cho việc điều hòa ẩm độ, nếu ẩm độ bên ngoài cao mật hút thêm nước, đàn ong yếu dù có để lâu cũng rất khó vít nắp, cầu cũ, dòn, khi quay mật cũng ảnh hưởng đến chất lượng mật (Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện, 1999 [5])

- Kỹ thuật chăm sóc và quản lý đàn ong

Ở nước ta do có khí hậu nhiệt đới với 4 mùa rõ rệt (đặc biệt là ở miền Bắc), nhiệt độ, ẩm độ của các mùa khác nhau rất lớn điều đó ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển và năng suất sản phẩm của ong mật Mặt khác các loại hoa, nguồn mật, phấn cũng đa dạng, phong phú và mang tính mùa vụ

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Cây nguồn mật nở hoa, tiết mật và tung phấn chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết và địa hình của mỗi vùng, ong mật lại chịu ảnh hưởng bởi nguồn thức ăn đồng thời chịu ảnh hưởng trực tiếp của những biến đổi

về thời tiết Nói cách khác, thời tiết, nguồn hoa có tác động đồng thời và quyết định sự phát triển của đàn ong

Quản lý ong theo thời vụ cần kết hợp một cách hài hòa việc quản lý đàn ong trong những điều kiện nguồn hoa và thời tiết cụ thể nhưng có sự tác động tích cực của người nuôi ong Cần chủ động điều kiện đàn ong trước khi có điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn, lúc thuận lợi thì phát triển đàn ong, khi khó khăn thì tập trung giữ những đàn ong có chất lượng

Ở miền Bắc nước ta chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới, gió mùa nên chia thành bốn mùa rõ rệt trong năm, các mùa có số lượng nguồn hoa thay đổi nên công tác quản lý đàn ong có thể chia ra như sau:

Vụ Xuân - Hè Từ đầu tháng 3 đến đầu tháng 7 Từ giữa tháng 3 - cuối tháng 6

Vụ Hè - Thu Từ đầu tháng 7 đến đầu tháng 9 Từ đầu tháng 7 - cuối tháng 9

Vụ Thu - Đông Từ đầu tháng 9 đến giữa tháng 12 Từ cuối tháng 9 - cuối tháng 11

Vụ Đông- Xuân Từ giữa tháng 12 đến cuối tháng 2 Từ đầu tháng 12 - giữa tháng 3

(Theo Nguyễn Duy Hoan và cs, 2008 [15])

Bên cạnh những yếu tố trên thì thời điểm thu mật, dụng cụ thu mật, phương pháp quay mật, phương pháp bảo quản và tinh lọc mật cũng ảnh hưởng khá lớn tới năng suất, chất lượng mật Máy quay mật, các dụng cụ chứa mật bằng kim loại (dễ bị ăn mòn) làm cho mật thay đổi màu sắc Do vậy sau khi lọc mật nên đựng vào can, chai sẫm màu có nút kín Không nên chứa mật trong các loại thùng miệng rộng vì mật dễ hút nước nếu ẩm độ bên ngoài cao, lượng nước trong mật có thể tăng 1-2% trong vài ngày (theo Ngô Đắc Thắng, 1994 [29])

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.2 Một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài

1.2.1 Một số nghiên cứu nâng cao năng suất, chất lượng mật ong

Ở các nước nhiệt đới, đặc biệt là các nước nóng ẩm ở Nam và Đông Nam Á, người nuôi ong thường gặp phải vấn đề về chất lượng mật Mật ong thu được thường có thuỷ phần quá cao, trên 21% và dễ bị lên men, điều này là trở ngại chủ yếu cho việc phát triển nghề ong (Crane, 1990) [37]

Để mật không lên men thì thuỷ phần phải thấp hơn 18,6% Tiêu chuẩn mật được thế giới chấp nhận là mật ong có thuỷ phần nhỏ hơn 21% Khi ẩm độ không khí cao, hàm lượng nước trong mật ong vít nắp là 25%

(Killion, 1975 [42]) Mật ong vít nắp thu hoạch từ cây cao su của ong A

cerana là 25% (Fernando, 1978) [41] Các nguyên nhân do kỹ thuật quản

lý ong không đúng cũng làm cho mật ong có tỷ lệ nước cao, như thu mật trước khi vít nắp, để mật đã quay tiếp xúc với không khí ẩm lâu Nhìn

chung hàm lượng nước trong mật ong A.cerana cao hơn trong mật A

mellifera (Crane, 1985 [36]) Chính vì vậy Mardan đã đề xuất nên có chỉ

tiêu riêng cho mật ong A.cerana

Ở Việt Nam, từ trước đến nay chúng ta thường nuôi ong trong thùng một tầng Khi lấy mật tất cả các cầu được rũ ra quay Ẩm độ không khí nước ta rất cao, đặc biệt là mùa xuân ở miền Bắc và mùa mưa tháng 5-6 ở miền Nam (ẩm độ lên tới trên 90%) Người nuôi ong do muốn có năng suất mật cao nên đã quay non, quay cướp vòng nên mật thu được có tỷ lệ nước cao, từ 22-29%, thậm chí lên tới 32% (Trần Đức Hà,

, 1978 [10]; Phạm Văn Cường, 1994 [3]; Phùng Hữu Chính, 1994 [4]) Chính vì vậy Eva Crane, 1990 [8] đã nhận xét “Ở Việt Nam tất cả các cầu ong được quay mật sau khi trả về tổ vài ngày, sản phẩm thu hoạch của hệ thống này không phải là mật ong mà là mật hoa đang chuyển hoá thành mật ong” Hiện nay người nuôi ong nội với quy mô nhỏ chưa gặp

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

phải khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm nhưng người nuôi ong chuyên nghiệp đã rất khó khăn trong việc tiêu thụ loại mật có tỷ lệ nước cao vì loại này dễ bị lên men, không bảo quản được lâu

Để nâng cao chất lượng mật ong có hai cách giải quyết: Một là loại nước trong mật sau khi đã thu hoạch bằng nhiệt độ Phương pháp này có hạn chế là làm cho mật có mầu sẫm, tỷ lệ HMF (Hydroxy methyl furfural) tăng lên làm giảm hương vị đặc trưng Cách thứ hai là thông qua kỹ thuật nuôi ong trong thùng có tầng kế, chỉ quay mật khi đã vít nắp

1.2.2 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của điều kiện thời tiết khí hậu, mùa

vụ tới nghề nuôi ong mật

Điều kiện thời tiết khí hậu, sự thay đổi mùa vụ có ảnh hưởng rất lớn tới nghề nuôi ong Theo Eva Crane, 1990 [8] cho biết: Đàn ong có khả năng tự điều chỉnh nhiệt độ trong thùng ong Khi nhiệt độ xung quanh lên rất cao, đàn ong phải làm mát cầu nhộng và ấu trùng sao cho cầu nhộng không vượt quá

350C Làm như vậy đàn ong rất tốn năng lượng, thức ăn, kể cả khi nhiệt độn lên cao đến mức làm cho ong choáng Do vậy người chăn nuôi phải tìm mọi cách giảm nhiệt độ trong thùng ong bằng cách che nắng, xử lý xung quanh thùng,, đặt thùng ong ở những vị trí thích hợp Nắng, nóng mang lại những rủi

ro cực kỳ nguy hại cho những đàn ong lớn

Khi nhiệt độ lên cao, ong chúa đẻ kém sẽ làm giảm quân và năng suất mật, ong thợ phải chống nóng, giảm đi làm, tuổi thọ giảm Đồng thời khi nhiệt độ cao cũng dễ phát sinh bệnh tật cho đàn ong Khi nhiệt độ xuống quá thấp, ong không đi làm, làm chết hoặc chậm phát triển ấu trùng, ong sử dụng nhiều mật dự trữ do đó làm giảm năng suất (Bộ môn ong, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, 2000 [2])

Thời tiết có ảnh hưởng lớn đến thời gian đi làm của ong thu hoạch Theo Nguyễn Duy Hoan, 2002 [14], vào những ngày nóng ong thợ đi làm sớm hơn

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

(4 giờ 21 phút) và trở về muộn hơn (18 giờ 59 phút) Những ngày bình thường, ong đi làm lúc 4 giờ 25 phút và trở về lúc 18 giờ 50 phút; ngày mưa , ong đi làm muộn hơn (4 giờ 34 phút) và trở về cũng sớm hơn (18 giờ 50 phút)

Không nên mở thùng ong vào lúc trời nắng, nóng ban ngày Nên mở thùng vào buổi sáng hoặc ban chiều Khó có thể kiểm tra đàn ong khi trời tối, nhưng cũng có một số người lấy mật vào ban đêm (Eva Crane, 1990 [8])

Bộ môn ong trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, 2000 [2] cho biết, để chống nóng cho đàn ong nên dùng ván đóng thùng xốp, cách nhiệt 1,5cm, có cửa sổ ở phía sau và đặt thùng ở dưới bóng cây hướng Đông Nam,

có thể dùng lá cọ, lứa đậy trên thùng, đặt máng nước trong thùng, bỏ thước giữa hai bánh tổ Để phòng chống rét thì trước mùa rét cần điều chỉnh đàn, thay chúa kém, cho ăn thêm để có mật vít nắp, giảm hoặc kiểm tra nhanh thùng ong Nếu quá rét nên dùng rơm, lá chuối khô, giấy báo, xốp đặt xung quanh thùng, bịt kín khe hở, đóng cửa sổ, đặt thước Khi nhiệt độ xuống dưới

Ở Việt Nam, theo tác giả Ngô Đắc Thắng, 1994 [29], do ảnh hưởng của chế độ gió mùa, thời tiết miền Bắc chia làm 4 mùa rõ rệt Do đó, ở miền Bắc

có 4 mùa quản lý đàn ong:

- Vụ xuân hè (vụ chính): Từ 15 tháng 2 đến 20 tháng 7

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Vụ hè thu (qua hè): Từ 20 tháng 7 đến 15 tháng 9

- Vụ thu đông: Từ 16 tháng 9 đến 20 tháng 12

- Vụ đông xuân (qua đông): Từ 21 tháng 12 đến 14 tháng 2

Miền Nam khí hậu có hai mùa, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10,11 Nuôi ong ở miền Nam được chia thành 3 vụ:

1.2.3 Một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm sinh học với năng suất, chất lượng mật ong

Ngành nuôi ong trên thế giới hiện nay đã đạt được những tiến bộ đáng

kể về cả công tác giống, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, kỹ thuật khai thác và chế biến các sản phẩm có xuất xứ từ mật ong

Có được những thành tựu như ngày nay, các nhà khoa học đã dựa rất nhiều vào các nghiên cứu từ trước Ngay từ thời trung cổ có một số tác giả đã viết về con ong đứng đầu trong đàn thuộc giống ong cái, cách dẫn dụ đàn ong bốc bay, đậu lại mà người ta đã áp dụng từ những năm 800 - 1000 trước công nguyên Luys Mendezde (Eva Crane, 1990 [8], ở Tây Ban Nha là người đầu tiên xác định được giới tính và nhiệm vụ của ong chúa, ông viết: Con ong đứng đầu trong đàn là một con ong cái đẻ trứng, và trứng nở thành ong thợ, ong đực

và các ong chúa trong tương lai

Theo Eva Crane, 1990 [8], hiện nay hầu hết trên thế giới người ta nuôi ong bằng thùng cải tiến có cầu di động, giống thường được nuôi ở những

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

vùng hoa tập trung là giống Apis mellifera Đây là giống ong cho năng suất

cao, năng suất bình quân/thùng khoảng 30kg Nước có năng suất mật cao nhất

là Canada 62,6 kg/thùng/năm

Ở tỉnh Quảng Đông miền Nam Trung Quốc ong Apis cerana chiếm khoảng 90% tổng số đàn ong (Wong Siri, 1986 [46]), giống ong Apis cerana

đi thu hoạch lâu hơn ong Apis mellifera nhập nội mỗi ngày 2 - 3 giờ, có thể

khai thác tốt hơn các nguồn hoa rải rác và có thể chống chịu khá hơn trong vụ

hè nóng nực thiếu thức ăn

1.2.4 Một số nghiên cứu về sâu bệnh, địch hại ong mật

Ngoài những nghiên cứu về bảo tồn và phát triển đàn ong mật còn nhiều công trình khoa học khác của nhiều tác giả nghiên cứu về sâu bệnh và địch hại đối với các đàn ong

Trong những năm gần đây bệnh gây ra trên đàn ong nội chủ yếu là bệnh thối ấu trùng tuổi nhỏ và bệnh thối ấu trùng tuổi lớn Theo tác giả Phạm

Xuân Dũng, (1994) [6], tháng 12/1968 chúng ta nhập một số đàn ong Apis

cerana từ Trung Quốc thì bệnh thối ấu trùng tuổi nhỏ (thối ấu trùng châu Âu)

đã phát sinh và gây hại lớn, toàn bộ ấu trùng 3 - 4 ngày tuổi bị chết Đối với bệnh thối ấu trùng tuổi lớn (thối ấu trùng túi) thì năm 1974 dịch bệnh đã bùng

nổ ở Việt Nam do chúng ta nhập một số giống ong cao sản của Viện Ong Bắc Kinh về Qua triệu chứng lâm sàng, các chuyên gia bệnh ong trong nước như: (Trần Minh Tứ, 1981 [34]; Trần Thị Hương, 1982, [18]; Mai Anh, Chu Văn Đang, 1983 [1]; Phạm Ngọc Viễn, 1984 [35] và một số chuyên gia nước ngoài) đều cho rằng tập hợp bệnh thối ấu trùng ong nội đều có mặt của bệnh thối ấu

trùng túi Đây được coi là bệnh nguy hiểm nhất đối với ong nội (Apis cerana) ở

Việt Nam (Trần Đức Hà, Phùng Hữu Chính, 1995 [11]) Gần đây các tác giả Nguyễn Kim Lan và cs, (1998) [19], đã đưa ra kết quả nghiên cứu thử nghiệm

điều trị bệnh thối ấu trùng túi trên ong Apis cerana bằng thảo dược S - 95

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Một số công trình khoa học đã xuất bản như: “Địch hại, thú ăn mồi và bệnh ong mật” (Morco, 1978); “Bệnh lý ong mật” (Bailey, 1981); “Noziones pratiche sulle mallattie dellapi” (Giordani và Etu, 1982); “ Bienen pathologie” (Weiss, 1984)… “Những địch hại ong” của Toumanoff xuất bản năm 1939 nêu nên nhiều nhận xét ở vùng Đông Nam Á (Crane, 1992 [38])

- Bệnh và thiên địch hại ong mật Apis cerana

+ Bệnh thối ấu trùng châu Âu: Bệnh này do vi khuẩn Melissococcus

gây ra Nó gây nhiễm cho ấu trùng trước 48 giờ tuổi và thường giết chết ấu trùng vào 4-5 ngày tuổi Bệnh này có chu kỳ mùa vụ và phát triển đỉnh điểm lúc đàn ong phát triển mạnh Đàn ong thưa quân, ở cửa tổ ít ong đi làm Mở thùng ong, ong thợ xào xạc chạy tụt xuống đáy thùng, bánh tổ vít nắp lỗ chỗ, quan sát thấy ấu trùng nằm doãng ra, khi chết có màu trắng bệch sau đó chuyển màu vàng nhạt, vàng sẫm rồi nâu đậm, xác chết thối rữa tụt xuống đáy

lỗ tổ rồi khô như cái vẩy có thể dùng panh để gắp ra Ấu trùng mới chết không có mùi, sau đó có mùi chua như dấm

+ Bệnh thối ấu trùng túi: Quan sát ngoài cũng thấy ít hoặc không thấy

ong thợ đi làm Quan sát bánh tổ thấy một số vít nắp nắp nhộng ong thợ hơi lõm xuống có lỗ nhỏ như châm kim, một số lỗ bị cắn nham nhở, có nhiều ấu trùng nhọn đầu nhô lên khỏi miệng lỗ tổ Ấu trùng bệnh chuyển từ màu trắng ngà sang trắng bệch, vạch phân đốt không rõ ràng, khi gắp ấu trùng lên thì phía đuôi ấu trùng có một túi nhỏ chứa dịch trong suốt hay vàng nhạt, ấu trùng chết không có mùi

+ Bệnh ỉa chảy: Quan sát thấy nhiều vết phân ong lấm tấm màu vàng

hoặc đen ở cửa thùng hoặc thành thùng, ong thợ bụng chướng to, bò lết dưới đất trước cửa thùng ong

+ Sâu ăn sáp: Theo Trần Đức Hà, Phùng Hữu Chính, 1995 [11] sâu ăn sáp

có 2 loại:

+ Loại lớn: Gallerria mellonenlla

Ngày đăng: 04/08/2014, 15:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Anh, Chu Văn Đang (1984), Bệnh thối ấu trùng ong ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh thối ấu trùng ong ở Việt Nam
Tác giả: Mai Anh, Chu Văn Đang
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1984
2. Bộ môn ong và động vật quý hiếm, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (2000), Kỹ thuật nuôi ong nội, trang 31-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi ong nội
Tác giả: Bộ môn ong và động vật quý hiếm, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Năm: 2000
3. Phạm Văn Cường (1994), Áp dụng hệ thống tiêu chuẩn góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm ong, Tuyển tập báo cáo hội nghị ngành ong lần thứ nhất, trang 54-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng hệ thống tiêu chuẩn góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm ong
Tác giả: Phạm Văn Cường
Năm: 1994
4. Phùng Hữu Chính (1994), Khai thác và nuôi 2 loài ong bản xứ Apis dortsata và Apis cerana ở nước ta, Tuyển tập báo cáo hội nghị ngành ong lần thứ nhất, trang: 26-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác và nuôi 2 loài ong bản xứ Apis dortsata và Apis cerana ở nước ta
Tác giả: Phùng Hữu Chính
Năm: 1994
5. Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện (1999), Kỹ thuật nuôi ong nội địa Apis cerana ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi ong nội địa Apis cerana ở Việt Nam
Tác giả: Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1999
6. Phạm Xuân Dũng (1994), Một số thành tựu khoa học kỹ thuật ngành ong Việt Nam, Tuyển tập báo cáo Hội nghị ngành ong lần thứ nhất , trang 98 - 109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thành tựu khoa học kỹ thuật ngành ong Việt Nam
Tác giả: Phạm Xuân Dũng
Năm: 1994
7. Đào Phúc Đương (1981), Phát triển ngành nuôi ong mật 1981-1985, Báo cáo tại hội nghị Khoa học kỹ thuật ngành ong Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển ngành nuôi ong mật 1981-1985
Tác giả: Đào Phúc Đương
Năm: 1981
8. Eva Crane (1990), Con ong và nghề nuôi ong - Cơ sở khoa học thực tiễn và những nguồn tài nguyên thế giới, Nhà xuất bản Heinemann Newes Oxford London (người dịch: Phùng Hữu Chính, Trần Công Tá) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con ong và nghề nuôi ong - Cơ sở khoa học thực tiễn và những nguồn tài nguyên thế giới
Tác giả: Eva Crane
Nhà XB: Nhà xuất bản Heinemann Newes Oxford London (người dịch: Phùng Hữu Chính
Năm: 1990
11. Trần Đức Hà, Phùng Hữu Chính (1995), Sổ tay phòng và trị sâu bệnh hại ong mật, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phòng và trị sâu bệnh hại ong mật
Tác giả: Trần Đức Hà, Phùng Hữu Chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
12. Nguyễn Thị Minh Hiền (2004), Đánh giá thực trạng nghề nuôi ong mật tại tỉnh Phú Thọ. So sánh hiệu quả kinh tế của hai phương thức nuôi cố định và di chuyển ong, Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp ngành Chăn nuôi, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng nghề nuôi ong mật tại tỉnh Phú Thọ. So sánh hiệu quả kinh tế của hai phương thức nuôi cố định và di chuyển ong
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Hiền
Năm: 2004
13. Cao Thị Hinh (2011), Nghiên cứu sự ảnh hưởng của thức ăn bổ sung tới năng suất, chất lượng đàn ong mật Apis cerana nuôi tại huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên. Luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp, chuyên ngành chăn nuôi, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghiên cứu sự ảnh hưởng của thức ăn bổ sung tới năng suất, chất lượng đàn ong mật Apis cerana nuôi tại huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Cao Thị Hinh
Năm: 2011
14. Nguyễn Duy Hoan (2002), “Nghiên cứu một số tập tính sinh học của ong nội nuôi tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”, Tạp trí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, (2), trang 123 và 127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số tập tính sinh học của ong nội nuôi tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”, "Tạp trí Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan
Năm: 2002
15. Nguyễn Duy Hoan, Ngô Nhật Thắng, Phùng Đức Hoàn (2008), Giáo trình kỹ thuật nuôi ong mật, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ thuật nuôi ong mật
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Ngô Nhật Thắng, Phùng Đức Hoàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2008
16. Nguyễn Duy Hoan, (2010), Nghiên cứu khả năng sản xuất của hai giống ong mật Apis cerana và Apis mellifera nuôi ở miền Bắc Việt Nam. Tạp trí Nông nghiệp và phát triển nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sản xuất của hai giống ong mật Apis cerana và Apis mellifera nuôi ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan
Năm: 2010
17. Phùng Đức Hoàn (2003), Nghiên cứu sự hình thành mũ chúa tự nhiên và ảnh hưởng của việc thay chúa đến một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của giống ong nội nuôi tại Thái Nguyên, Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự hình thành mũ chúa tự nhiên và ảnh hưởng của việc thay chúa đến một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của giống ong nội nuôi tại Thái Nguyên
Tác giả: Phùng Đức Hoàn
Năm: 2003
18. Trần Thị Hương (1982), Bệnh thối ấu trùng tuổi lớn, Báo cáo tại hội thảo khoa học kỹ thuật ngành ong Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh thối ấu trùng tuổi lớn
Tác giả: Trần Thị Hương
Năm: 1982
19. Nguyễn Kim Lan, Lê Tử Long, Trần Văn Toàn, Đái Duy Ban (1998), “ Nghiên cứu thử nghiệm điều trị bệnh thối ấu trùng trên ong nội bằng thảo dược S - 95”, Tạp chí khoa học nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thử nghiệm điều trị bệnh thối ấu trùng trên ong nội bằng thảo dược S - 95”
Tác giả: Nguyễn Kim Lan, Lê Tử Long, Trần Văn Toàn, Đái Duy Ban
Năm: 1998
20. Nguyễn Thị Nga (2008), Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố tự nhiên và nhân tạo đến tỷ lệ nước trong mật ong nội Apis cerana. Luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp, chuyên ngành chăn nuôi, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố tự nhiên và nhân tạo đến tỷ lệ nước trong mật ong nội Apis cerana
Tác giả: Nguyễn Thị Nga
Năm: 2008
21. Nguyễn Văn Niệm (1991), Một số dẫn liệu về hình thái ong Nội miền Nam Việt Nam, Tuyển tập báo cáo tiểu ban ong, Hội nghị côn trùng lần thứ nhất, trang 20-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số dẫn liệu về hình thái ong Nội miền Nam Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Niệm
Năm: 1991
48. http://www.Cares.org.vn,(2004), Sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mật ong ở Đắc Lắc Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Tình hình thời tiết khí hậu năm 2012, 6 tháng đầu năm 2013                   Chỉ tiêu - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh và ngoại cảnh tới khả năng phát triển của đàn ong mật Apis Cerana nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.1 Tình hình thời tiết khí hậu năm 2012, 6 tháng đầu năm 2013 Chỉ tiêu (Trang 51)
Bảng 3.2: Cơ cấu số hộ nuôi ong và cơ cấu đàn ong nuôi tại các hộ - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh và ngoại cảnh tới khả năng phát triển của đàn ong mật Apis Cerana nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.2 Cơ cấu số hộ nuôi ong và cơ cấu đàn ong nuôi tại các hộ (Trang 53)
Bảng 3.3: Diện tích cây nguồn mật và thời gian nở hoa   TT  Loại cây  Thời điểm nở hoa - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh và ngoại cảnh tới khả năng phát triển của đàn ong mật Apis Cerana nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.3 Diện tích cây nguồn mật và thời gian nở hoa TT Loại cây Thời điểm nở hoa (Trang 56)
Bảng 3.4: Tình hình sâu bệnh đối với đàn ong mật Apis cerana - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh và ngoại cảnh tới khả năng phát triển của đàn ong mật Apis Cerana nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.4 Tình hình sâu bệnh đối với đàn ong mật Apis cerana (Trang 58)
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của quy mô đàn đến số lượng mũ chúa (n = 20) - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh và ngoại cảnh tới khả năng phát triển của đàn ong mật Apis Cerana nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của quy mô đàn đến số lượng mũ chúa (n = 20) (Trang 61)
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của tuổi ong chúa đến tình hình xây mũ chúa (n=20) - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh và ngoại cảnh tới khả năng phát triển của đàn ong mật Apis Cerana nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của tuổi ong chúa đến tình hình xây mũ chúa (n=20) (Trang 66)
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của mùa vụ đến năng suất mật ong - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh và ngoại cảnh tới khả năng phát triển của đàn ong mật Apis Cerana nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của mùa vụ đến năng suất mật ong (Trang 69)
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của vùng miền đến năng suất mật ong  Địa điểm - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh và ngoại cảnh tới khả năng phát triển của đàn ong mật Apis Cerana nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của vùng miền đến năng suất mật ong Địa điểm (Trang 71)
Bảng 3.13: Ảnh hưởng vùng miền đến chất lượng mật ong - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh và ngoại cảnh tới khả năng phát triển của đàn ong mật Apis Cerana nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.13 Ảnh hưởng vùng miền đến chất lượng mật ong (Trang 76)
Hình 01:  Trại ong vụ Thu – Đông ở Đồng Hỷ - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh và ngoại cảnh tới khả năng phát triển của đàn ong mật Apis Cerana nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
Hình 01 Trại ong vụ Thu – Đông ở Đồng Hỷ (Trang 87)
Hình 03: Trại ong vụ Xuân – Hè ở Đại Từ - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh và ngoại cảnh tới khả năng phát triển của đàn ong mật Apis Cerana nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
Hình 03 Trại ong vụ Xuân – Hè ở Đại Từ (Trang 88)
Hình 04: Hình ảnh cây nguồn mật - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh và ngoại cảnh tới khả năng phát triển của đàn ong mật Apis Cerana nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
Hình 04 Hình ảnh cây nguồn mật (Trang 88)
Hình 05: Hình ảnh đàn ong bốc bay - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh và ngoại cảnh tới khả năng phát triển của đàn ong mật Apis Cerana nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
Hình 05 Hình ảnh đàn ong bốc bay (Trang 89)
Hình 07: Cắt vít nắp mật trước khi quay ở Đồng Hỷ - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh và ngoại cảnh tới khả năng phát triển của đàn ong mật Apis Cerana nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
Hình 07 Cắt vít nắp mật trước khi quay ở Đồng Hỷ (Trang 90)
Hình 08: Cắt vít nắp mật trước khi quay ở Đại Từ - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội sinh và ngoại cảnh tới khả năng phát triển của đàn ong mật Apis Cerana nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
Hình 08 Cắt vít nắp mật trước khi quay ở Đại Từ (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w