1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp phát triển làng nghề, ngành nghề truyền thống nông thôn tỉnh hà tây

80 590 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 776,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều kiện kinh tế của nước ta hiện nay, các làng nghề truyền thống có một vai trò đặc biệt quan trọng. Các làng nghề phát triển có khả năng thu hút nhiều lao động, góp phần tích cực vào giải quyết công ăn việc làm tăng thu nhập cho lao động nông thôn, và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực: giảm tỷ trọng GDP của nông nghiệp, tăng GDP của công nghiệp và dịch vụ. Thực tế cho thấy kinh tế nông thôn gắn liền với nông nghiệp có nhiều hạn chế. Nông dân ở nhiều vùng nông thôn không thể làm giàu được trên mảnh ruộng của mình dù đã cố gắng xoay xở hết cách. Làng nghề sẽ mở ra cho nông dân một hướng làm ăn khác ngay trên mảnh đất của mình. Họ sẽ không phải thất nghiệp hoặc phải đi tha phương cầu thực làng nghề VN đang đứng trước cơ hội phát triển tốt và nhiều làng nghề đã biết nắm bắt cơ hội đó để làm giàu ngay trên thôn làng của mình. Nhiều làng nghề từ Nam đến Bắc đang ăn nên làm ra như gốm sứ Bình Dương, Bát Tràng, Chu Đậu, Phù Lãng; đồ gỗ Đồng Kỵ, Gò Công; dệt Vạn Phúc; cơ khí Ý Yên; mây tre đan Củ Chi, Chương Mỹ; chạm bạc Đồng Xâm, Đại Bái; đá mỹ nghệ Non Nước. Những tiềm nămg phát triển của làng nghề vẫn đang rất lớn. Nếu như năm 2000, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ VN mới đạt 274 triệu USD, thì năm 2006 đã đạt khoảng 650 triệu USD, bán ra trên 100 nước và vùng lãnh thổ, chưa kể hai ngành gỗ, da giày xuất khẩu mỗi năm hàng tỉ USD đều có đóng góp rất lớn của các làng nghề. Giai đoạn này đang có nhiều thuận lợi cho làng nghề vì kinh tế phát triển, cả thị trường quốc tế lẫn nội địa đều mở rộng với hàng thủ công mỹ nghệ.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong điều kiện kinh tế của nước ta hiện nay, các làng nghề truyền thống có một vai trò đặc biệt quan trọng Các làng nghề phát triển có khả năng thu hút nhiều lao động, góp phần tích cực vào giải quyết công ăn việc làm tăng thu nhập cho lao động nông thôn, và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực: giảm tỷ trọng GDP của nông nghiệp, tăng GDP của công nghiệp và dịch vụ Thực tế cho thấy kinh tế nông thôn gắn liền với nông nghiệp có nhiều hạn chế Nông dân ở nhiều vùng nông thôn không thể làm giàu được trên mảnh ruộng của mình dù đã cố gắng xoay xở hết cách Làng nghề sẽ mở ra cho nông dân một hướng làm ăn khác ngay trên mảnh đất của mình Họ sẽ không phải thất nghiệp hoặc phải đi tha phương cầu thực làng nghề VN đang đứng trước cơ hội phát triển tốt và nhiều làng nghề đã biết nắm bắt cơ hội đó để làm giàu ngay trên thôn làng của mình Nhiều làng nghề từ Nam đến Bắc đang ăn nên làm ra như gốm sứ Bình Dương, Bát Tràng, Chu Đậu, Phù Lãng; đồ gỗ Đồng Kỵ, Gò Công; dệt Vạn Phúc; cơ khí Ý Yên; mây tre đan Củ Chi, Chương Mỹ; chạm bạc Đồng Xâm, Đại Bái; đá mỹ nghệ Non Nước Những tiềm nămg phát triển của làng nghề vẫn đang rất lớn Nếu như năm 2000, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ VN mới đạt 274 triệu USD, thì năm 2006 đã đạt khoảng 650 triệu USD, bán ra trên 100 nước và vùng lãnh thổ, chưa kể hai ngành gỗ, da giày xuất khẩu mỗi năm hàng tỉ USD đều có đóng góp rất lớn của các làng nghề Giai đoạn này đang có nhiều thuận lợi cho làng nghề vì kinh tế phát triển, cả thị trường quốc tế lẫn nội địa đều

mở rộng với hàng thủ công mỹ nghệ

Một điều tra của Bộ Công nghiệp cho thấy làng nghề VN đang sử dụng 1,3 triệu thợ thủ công chuyên nghiệp và 3-5 triệu lao động thời vụ đã khẳng

Trang 2

phát triển sẽ giải quyết việc làm cho nông thôn đang có quá nhiều người thất nghiệp; gìn giữ và phát triển văn hóa truyền thống; đặc biệt tạo ra bộ mặt đô thị hóa mới cho nông thôn để nông dân ly nông nhưng không ly hương và làm giàu trên quê hương mình Nó làm giảm bớt căn bệnh “to đầu” vì làn sóng nông dân nhập cư về các thành phố lớn kéo theo hàng loạt hệ quả xã hội nặng

nề Mặt khác xã hội ngày càng phát triển con người ngày càng hướng vào sản phẩm thủ công truyền thống vì vậy phát triển làng nghề không chỉ góp phần phát triển kinh tế mà còn giữ gìn được bản sắc văn hoá Mỗi một sản phẩm lại

có một nét văn hoá riêng do đó sản phẩn thủ công được đem bán trên thế giới

sẽ quảng bá được hình ảnh của đất nước, con người Việt Nam với bạn bè năm châu Ngoài ra, khu vực kinh tế làng nghề, đặc biệt là các nghề truyền thống, còn có một ý nghĩa khác là sử dụng được lao động già cả, khuyết tật, trẻ em mà khác khu vực kinh tế khác không nhận

Hà Tây là một tỉnh nằm ngay cửa gõ thủ đô Hà Nội đang trong quá trình

đô thị hoá với tốc độ nhanh chóng Diện tích đất đai bình quân trên đầu người ngày càng bị thu hẹp Vì thế vấn đề mang tính cấp bách vừa có chiến lược lâu dài gắn liền với quá trình đô thị hoá là tạo việc làm tăng thu nhập, thu hút và

sử dụng hết lực lượng lao động ngay trên địa bàn tỉnh Giải quyết vấn đề đó chúng ta phải coi trọng việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp nông thôn, mà trước hết là hệ thống về sản xuất tiểu thủ công nghiệp trong đó có các làng nghề truyền thống của tỉnh

Hà Tây được mệnh danh là đất trăm nghề với lịch sử phát triển lâu đời, trong những năm qua làng nghề ở tỉnh đã đóng góp rất lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nói riêng của cả nước nói chung Tuy nhiên trong những năm gần đây, mặc dù Nhà nước đã có những chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất làng nghề truyền thống, nhưng các làng nghề còn gặp rất nhiều khó khăn Sự tồn tại và phát triển các

Trang 3

làng nghề còn rất nhiều bấp bênh, trôi nổi theo cơ chế thị trường đầy biến động Do đó chưa tạo được điều kiện thu hút lực lượng lao động,vốn cũng như khả nămg tay nghề của người thợ nhằm phát huy tối đa tiềm lực kinh tế của tỉnh, thị trường còn nhỏ hẹp, sức cạnh tranh của các làng nghề còn thấp Để phát triển kinh tế của tỉnh, thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn trước hết phát khôi phục và phát triển các làng nghề Cần phải nghiên cứu, đánh giá

và đưa ra những giải pháp hữu hiệu để đẩy nhanh các hoạt động làng nghề Vì

vậy em đã lựa chọ đề tài: “Một số giải pháp phát triển làng nghề, ngành nghề truyền thống nông thôn tỉnh Hà Tây” để làm chuyên đề thực tập.

*Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu vấn đề một số giải pháp phát triển làng nghề, ngành nghề truyền thống nông thôn tỉnh Hà Tây

- Phạm vi nghiên cứu: một số giải pháp phát triển làng nghề, ngành nghề truyền thống tỉnh Hà Tây giai đoạn từ 2007-2010 định hướng đến năm 2015 Trong qua trình đô thị hoá nhanh chóng của tỉnh

-Xây dựng các phương hướng phát triển làng nghề của tỉnh Hà Tây trong những năm gần đây

- Đề xuất những giải pháp để khôi phục và phát triển làng nghề của tỉnh

Hà Tây trong quá trình đô thị hoá

Trang 4

* Phương pháp nghiên cứu: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp thống kê kinh tế; phương pháp so sánh và một số phương pháp khác, đọc tài liệu lưu trữ.

* Kết cấu của đề tài:

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài

liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:

- Chương I: Cơ sở lí luận và thực tế về phát triển làng nghề truyền thống.

- Chương II: Thực trạng về phát triển làng nghề truyền thống ở Tỉnh

Hà Tây.

- Chương III: Một số giải pháp phát triển làng nghề, ngành nghề truyền thống nông thôn tỉnh Hà Tây.

Trang 5

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ, NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN

1 Một số khái niện chung về làng nghề, ngành nghề nông thôn.

1.3 Làng nghề mới :

Là làng nghề được hình thành cùng với sự phát triển của nền kinh tế, chủ yếu do sự lan toả của làng nghề truyền thống, có những điều kiện nhất định để hình thành và phát triển

1.4 Làng có nghề:

Là làng nghề được hình thành cùng với sự phát triển của nền kinh tế, chủ yếu do sự lan toả của làng nghề truyền thống, có những điều kiện nhất định để hình thành và phát triển

Trang 6

1.5 Ngành nghề TTCN, ngành nghề nông thôn:

Là những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã xuất hiện lâu đời trong lịch

sử phát triển kinh tế của nước ta, còn tồn tại đến ngày nay, bao gồm cả ngành nghề mà phương pháp sản xuất được cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ cho sản xuất, nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống

- Nghề thủ công: Là những nghề kỹ thuật sản xuất ra các sản phẩm chủ

yếu làm bằng tay Khi khoa học phát triển, các nghề thủ công có thể sử dụng máy móc và các giải pháp kĩ thuật của công nghiệp trong một số phân đoạn, phần việc nhất định, nhưng chất lượng và hình thức đặc trưng của sản phẩm vẫn làm bằng tay, nguyên liệu các nghề thủ công vẫn lấy từ thiên nhiên…

- Nghề thủ công mỹ nghệ: Là các nghề thủ công làm ra các sản phẩm

mỹ nghệ, các sản phẩm tiêu dùng được tạo hình và trang trí tinh xảo giống như sản phẩm mỹ nghệ Ở sản phẩm mỹ nghệ chức nămg văn hoá thẩm mỹ trở lên quan trọng hơn chức nămg sử dụng thông thường

- Nghề thủ công truyền thống: Là nghề thủ công đã có quá trình hình

thành và phát triển qua nhiều đời thợ ( trên 100 năm) với những sản phẩm có tính cách riêng biệt được nhiều người biết đến

Ngành tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp: Là lĩnh vực sản xuất bao gồm

các nghề thủ công và các cơ sở công nghiệp nhỏ Thường các cơ sở công nghiệp nhỏ này có nguồn gốc từ các nghề thủ công phát triển thành

2.Phân loại làng nghề truyền thống

2.1.Phân loại theo sự tồn tại và phát triển

Suốt quá trình tồn tại và phát triển đến nay làng nghề được phân thành:làng nghề truyền thống và làng nghề mới.Trong đó :

Làng nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời,trải qua nhiều thử thách của thời gian nhung vẫn duy trì và phát triển đồng thời được lưu truyền từ đời nay sang đời khác

Trang 7

Làng nghề mới là những làng có ngành nghề được phát triển trong những năm gần đây,chủ yếu do sự lan toả làng nghề truyền thống hay do sự

du nhập nghề mới trong quá trình giao lưu kinh tế giữa các vùng và giữa nước ta với các nước trên thế giới

Ngay trong các làng nghề truyền thống cũng có sự đan xen giữa nghề mới và nghề truyền thống Trong quá trình CNH-HĐH các làng nghề đã áp dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại như dệt La Phù(Hà Tây),gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội)…

2.2.Phân loại theo tính chất của sản phẩm

Làng nghề truyền thống chuyên sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như: gốm,sứ,dệt,tơ tằm,chạm khắc gỗ, đá,thêu ren,mây tre đan các loại.Hiện nay các sản phẩm này đang được thị trường rất ưa chuộng bởi tính độc đáo,tinh xảo chứa đựng trong mỗi sản phẩm

Làng nghề truyền thống chuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ cho sản xuất và đời sống như rèn ,mộc,nề,hàn, đúc gang…

Làng nghề truyền thống chuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng thông thường như:dệt vải,dệt chiếu cói,làm nón ,may mặc…Những sản phẩm này đang phải chịu sự chèn ép của các sản phẩm làm từ nhựa,các chất nhân tạo tổng hợp

Làng nghề truyền thống chuyên chế biến lương thực,thực phẩm như xay sát,làm bún bánh,chế biến hải sản

Làng nghề truyền thống làm các nghề khác như :xây dựng,trồng hoa.cây cảnh…

3 Đặc điểm của làng nghề truyền thống

3.1 Làng nghề tồn tại ở nông thôn,gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp

Theo điều tra hiện nay thì đa phần các làng nghề tập chung chủ yếu ở các

Trang 8

thành.Trước đây các làng nghề chưa được chú trọng phát triển như hiện nay,nên tiểu thủ công nghiệp chỉ được xem như là một ngành phụ,là ngành tạo thêm thu nhập và việc làm cho người người nông dân lúc nông nhàn còn nghề chính vẫn là làm nông nghiệp.Do đó mà các ngành tiểu thủ công nghiệp chưa được chú trọng phát triển nên sự phát triển của nó chỉ mang tính tự phát

và phát triển manh mún và có tính thời vụ.Chính vì vậy mà nó có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp

3.2.Nguyên vật liệu của làng nghề thường là tại các địa phương

Đa phần các làng nghề tồn tại và phát triển là do các làng nghề đó có sẵn nguồn nguyên để duy trì và phục vụ cho hoạt động sản xuất.Không chỉ có các sản phẩm tại địa phương mà còn do một bộ phận thương lái mang từ các địa phương khác mang đến nữa.Ngoài việc sử dụng các nguyên liệu tự nhiên

ra các làng nghề còn tận dụng được những phế phẩm,phế liệu của các ngành khác như nghề rèn, đúc gang, đồng Như vậy vừa tận dụng được những nguyên liệu thừa của các ngành khác vừa bảo vệ được môi trường

3.3.Tay nghề của người lao động trong làng nghề

Đa phần người lao động trong làng nghề có trình độ kỹ thuật cao,tay nghề tinh xảo,khéo léo có đầu óc thẩm mỹ và đầy tính sáng tạo.Nhất là các làng nghề tồn tại lâu đời,hình thành nên những làng nghề thủ công truyền thống như làng nghề gốm sứ Bát Tràng có bề dày lịch sử 500 năm,nghề khảm trai Chuyên Mỹ(Hà Tây) có từ thế kỷ XII,làng giấy gió Dương Ô (Bắc Ninh)

có lịch sử trên 800 năm

3.4 Sản phẩm của làng nghề chủ yếu mang tính đơn chiếc,có tính thẩm

mỹ cao mang đậm bản sắc dân tộc,văn hoá

Số lượng làng nghề nhiều nên rất đa dạng và phong phú.Chính vì thế mà các sản phẩm làm ra cũng rất đa dạng và phong phú về chủng loại ,mẫu

Trang 9

mã,kiểu dáng.Do các sản phẩm được làm ra chủ yếu bằng thủ công chứ không phải theo dây truyền máy móc nên số lượng làm ra không nhiều,chủ yếu mang tính đơn chiếc.Cũng chính các sản phẩm mang đặc tính đơn chiếc đồng thời lại được tạo ra dưới bàn tay khéo léo,sáng tạo của người nghệ nhân nên các sản phẩm làm ra có tính thẩm mỹ cao mang đậm bản sắc dân tộc.

3.5 Hình thức tổ chức và quản lý trong các làng nghề chủ yếu dưới dạng

hộ gia đình,ngoài ra còn có sự hình thành các tổ hợp tác và các doanh nghiệp.

Các làng nghề chủ yếu được hình thành và phát triển từ lâu đời nên yêu cầu về cơ sở hạ tầng không đòi hỏi cao như các ngành nghề khác.Trong khi

đó vốn đầu tư cho phát triển làng nghề không lớn nhưng giá trị làm ra thì không nhỏ,thời gian thu hồi vốn kinh doanh nhanh, độ rủi ro ít.Nếu như các ngành nghề cao như dịch vụ,công nghiệp,xây dưng…đòi hỏi phải có trình độ quản lý cao,phức tạp thì việc quản lý cơ sở làng nghề không đòi hỏi phải có trình độ cao hiểu biết rộng,không phúc tạp,phù hợp với trình độ của chủ hộ ,chủ doanh nghiệp vốn xuất thân từ nông dân.Các hộ cá thể là tổ chức kinh tế đóng vai trò chủ đạo chính trong việc phát triển các làng nghề.Các sản phẩm

ở các làng nghề được làm ra chủ yếu dựa trên công nghệ,quy trình sản xuất thủ công hoặc bán cơ khí.Các hoạt động sản xuất chủ yếu diễn ra tại nhà, đó vừa là nơi sinh hoạt hàng ngày của hộ vừa là nơi diễn ra sản xuất.Do đó mà các nhà xưởng ,nơi sản xuất ra sản phẩm làng nghề đa phần là của chủ hộ chứ không phải thuê mướn

4.Vai trò của làng nghề:

4.1 Tạo công ăn việc làm cho người lao động.

Các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp từ các hộ gia đình đến các công

ty TNHH ở các làng nghề đã thu hút một số lượng lớn lao động sản xuất phi

Trang 10

tiểu thủ công đã thu hút từ 30- 70% số hộ và từ 50- 90% số lao động tham gia sản xuất làng nghề Các làng nghề trong tỉnh đã thu hút được 214.458 lao động thường xuyên Ngoài ra còn thu hút được nhiều lao động nơi khác đến làm thuê như làng dệt kim La Phù,đan cỏ tế xã Phú Túc, khảm trai xã Chuyên

Mỹ (Phú Xuyên)…Sự phát triển của các làng nghề đã kéo theo nhiều dịch vụ phát triển như dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu, chuyên chở, kinh doanh hàng hoá, ăn uống cho làng nghề tạo ra nhiều việc làm cho người lao động Từ năm 2003- 2006 các làng nghề đã tăng 63.094 lao động trong sản xuất công nghiệp- TTCN Cơ cấu lao động CN- TTCN và dịch vụ chiếm 83,8% trong tổng số lao động Lao động thuần nông chỉ còn 16,92% Từ đó đã phân công lại lao động nông thôn

4.2 Nâng cao đời sống nhân dân.

Ngành nghề đã góp phần nâng cao thu nhập và khả nămg tích luỹ của người lao động Đời sống nhân dân nhất là ở các làng nghề ngày càng được cải thiện Thu nhập bình quân đầu người ở làng nghề, người tham gia sản xuất làng nghề thường cao hơn 1,5- 2 lần thu nhập bình quân của cả làng

4.3 Hạn chế di dân tự do ra thành phố.

Hà Tây liền kề thủ đô Hà Nội, sức ép về việc làm và thu nhập đã thúc đẩy nông dân ra thành phố tìm việc làm Quá trình di dân ra thành phố gâp áp lực đối với các điều kiện dịch vụ, cơ sở hạ tầng của thành phố, gây khó khăn cho việc quản lý trật tự xã hội của thành phố Hà Tây ngành nghề ngày càng phát triển với 1.180 làng có nghề, nên người dân có thu nhập ổn định, gắn bó với làng quê Vì vậy hiện nay đã hạn chế việc di dân ra thành phố, đồng thời thu hút lao động ở các địa phương khác đến làm việc, góp phần xoá đói giảm nghèo

4.4 Phát huy nội lực địa phương, phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống.

Trang 11

Các làng nghề, ngành nghề phát triển tạo điều kiện khai thác thế mạnh của địa phương về nguồn lực( lao động, tiền vốn) để tập trung cho sản xuất kinh doanh theo hộ gia đình, tổ sản xuất, HTX, Công ty TNHH…Trong quá trình phát triển sẽ tạo ra đội ngũ lao động có tay nghề cao, lớp nghệ nhân mới

có trình độ tiếp thu ứng dụng những tiến bộ về công nghệ tiên tiến sản xuất ra sản phẩm có giá trị cao, giá thành hạ, khả nămg cạnh tranh trên thị trường lớn

Làng nghề, ngành nghề phát triển kéo theo sự đầu tư xaay dựng cơ sở

hạ tầng làng nghề: như giao thông được nâng cấp, cải tạo, thiết chế văn hoá ở

cơ sở được quan tâm xây dựng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt về vật chất, đồng thời bảo tồn phát huy giá trị bản sắc văn hoá của các làng nghề tại địa phương

Lịch sử phát triển làng nghề của tỉnh Hà Tây gắn với sự phát triển văn hoá của dân tộc Mỗi làng nghề gắn với các sản phẩm làm ra chứa đựng nét độc đáo của văn hoá dân tộc, là di sản quý báo mà cha ông ta đã tạo ra và truyền laị cho con cháu làm vẻ vang cho tỉnh và cho đất nước như: Làng lụa Vạn Phúc, sản phẩm tiêu dùng bằng đan cỏ tế xã Phú Xuyên, mây tre đan Chương Mỹ…

Vì vậy bảo tồn và phát triển các ngành nghề thủ công là tăng thêm sức mạnh cội nguồn, tăng giá trị văn hoá truyền thống của Việt Nam đối với bạn

tế Đến năm 2006 tỷ trọng công nghiệp- TTCN đã tăng 7,69% so với năm

2000 tỷ trọng 32,5%, năm 2006 đã tăng lên 40,04%) Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP từ 38,5% năm 2000 giảm còn 29,56% năm 2006

Trang 12

5 Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển làng nghề truyền thống

5.1 Sự biến động của nhu cầu thị trường.

Sự tồn tại và phát triển của các làng nghề phụ thuộc rất lớn vào khả nămg sản phẩm mà làng nghề làm ra có đáp ứng được nhu cầu của thị trường hau không Nhu cầu thị trường luôn biến đổi, do vậy trong quá trình sản xuất các làng nghề cũng phải thay đổi như kiểu dáng, mẫu mã, màu sắc chất lượng sản phẩm phải phù hợp với sự biến đổi của xã hội Vì vậy bất cứ một hoạt động sản xuất kinh doanh trên một lĩnh vực nào cũng đều phải coi trọng nhu cầu thị

mà nhu cầu thị trường thì luôn biến động theo không gian và theo thời gian,

nó là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của tất cả các hoạt động sản suất kinh doanh

Hoạt động của làng nghề cũng là hoạt động sản xuất kinh doanh, do vậy nhu cầu thị trường có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của làng nghề Những làng nghề mà sản phẩm của chúng phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, có khả nămg trong việc đa dạng hoá, đổi mới sản phẩm cho phù hợp với những yêu cầu và đòi hỏi nhu cầu của thị trường thì sẽ phát triển mạnh mẽ như làng nghề may mặc…ngược lại có những làng nghề sản xuất giảm sút đi, mai một dần…đó là sản phẩm của chúng không thích ứng với sự thay đổi của nhu cầu thị trường hoặc bị thay đổi bới các sản phẩm công nghiệp hiện đại

Thu nhập và mức sống của dân cư là một trong những nhân tố làm biến đổi nhu cầu của thị trường Khi thu nhập và mức sống của người dân tăng là yếu tố phát triển một số nghề phát triển mạnh mẽ như nghề may mặc, nghề rèn…Còn khi thu nhập và mức sống của dân cư thấp sẽ ảnh hưởng đến mức tiêu thụ sản phẩm làng nghề

5.2 Kết cấu hạ tầng.

Kết cấu hạ tầng như giao thông, điện, thuỷ lợi, các cơ sở giáo dục, y tế,

Trang 13

thông tin liên lạc…có ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề Từ xưa các làng nghề bắt đầu xuất hiện thường là nằm trên những đầu mối giao thông quan trọng, đặc biệt là những đầu mối giao thông thuỷ bộ, nơi cho phép kết hợp sử dụng những phương tiện khác Ngày nay khi giao lưu kinh tế rộng khắp, khi thị trường tiêu thụ sản phẩm làng nghề không chỉ tại các địa phương

mà còn vươn tới các thị trường xa xôi khác, khi mà nguồn nguyện liệu tại chỗ đang cạn kiệt phải vận chuyển từ nơi xã về thì nhu cầu về hệ thống giao thông vận tải phát triển thuận lợi với làng nghề là rất quan trọng Bên cạnh đó hệ thống cửa hàng, trường học…cũng là nhân tố tích cực giúp cho việc tiêu thụ sản phẩm nhanh, phát triển mạnh nguồn nhân lực có sức khoẻ, tri thức và kĩ thuật tay nghề cao, tạo điều kiện cho các làng nghề phát triển Cơ sở hạ tầng

là điều kiện cho các làng nghề mở rộng quy mô phát triển và là điều kiện tạo lên sự liên kết giữa các ngành các vùng

5.3 Vốn sản xuất kinh doanh.

Vốn là yếu tố sản xuất, là nguồn lực quan trọng trong tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh Trước đây, vốn của các hộ gia đình trong các làng nghề rất ít, thường là vốn tự có của từng gia đình hoặc vay mượn nên quy mô không được mở rộng Ngày nay, với sự phát triển của nhu cầu thị trường nhu cầu vốn được mở rộng Ngoài vốn tự có, nguồn vốn vay của anh, em, họ hàng, các hộ sản suất còn được vay vốn của ngân hàng như ngân hàng người Nghèo, ngân hàng tín dụng…với lãi suất ưu đãi Do vậy, mà các hộ có thể mở mang sản suất kinh doanh, đưa máy móc vào sản suất, ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầu thị trường Vì thế sản xuất kinh doanh trong các làng nghề ngày càng phát triển

5.4 Nguyên vật liệu:

Là một trong những yếu tố quan trọng, trước đây làng nghề thường hay

Trang 14

đáp ứng được nhu cầu của người sản xuất Ngày nay, khi giao thông phát triển thì các làng nghề không chỉ nhập nguyên vật liệu tại chỗ mà còn nhập nguyên vật liệu từ nơi khác với khối lượng lớn như thông qua việc kí hợp đồng với người cung ứng thường xuyên, lâu dài để duy trì hoạt động sản xuất Từ đó, góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh của các làng nghề.

5.5 Trình độ kĩ thuật công nghệ.

Trình độ kĩ thuật và công nghệ sản xuất có trực tiếp đến nămg xuất lao động, chất lượng và giá thành sản phẩm, đến nămg lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường và như thế nó ảnh hưởng đến sự tồn tại hay mất đi của làng nghề Do sự thiếu thốn, nghèo khó của cuộc sống ở nông thôn nên vốn đầu tư cho sản xuất không nhiều, phần lớn những cơ sở sản xuất của làng nghề vẫn sử dụng thiết bị thủ công, công nghiệp thủ cổ truyền, chủ yếu dự vào kinh nghiệm có tính cha truyền con nối trong từng hộ gia đình là chính hay sự truyền đạt của các nghệ nhân Bởi vậy, sản phẩm sản xuất ra với nămg suất, số lượng, chất lượng thấp, giá thành cao làm hạn chế nămg lực cạnh tranh của các sản phẩm làng nghề Để đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao nămg suất, chất lượng và giảm giá thành sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước

và xuất khẩu, các cơ sở sản xuất kinh doanh trong các làng nghề đổi mới trang thiết bị, áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật trong một số khâu sản xuất Việc áp dụng khoa học kĩ thuật cũng có tác dụng làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường bằng cách hạn chế sử dụng các loại nhiên liệu như xăng, dầu, than…và thay thế bằng các nguồn nămg lượng như điện nămg, ga…

5.6 Chính sách của Đảng và Nhà nước.

Hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển hay suy vong của các làng nghề Từ khi nhà nước thực hiện công cuộc đổi mới chính sách kinh tế đa thành phần, các làng nghề có đièu kiện thuận lợi để phát triển, đặc biệt là các hộ gia đình được công nhận là chủ

Trang 15

thể kinh tế độc lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh được phép hoạt động chính thức thì các làng nghề có điều kiện thuận lợi để phục hồi và phát triển mạnh Tuy nhiên các doanh nghiệp, các hộ gia đình còn lung túng nhiều trong kinh doanh do tâm lý của người dân còn e

sợ chưa có sự nhất quán trong việc Nhà nước công nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế độc lập vì ảnh hưởng hàng chục năm đất nước ta đi theo đường nối kế hoạch hoá tập trung, coi tập thể là trên hết Vì vậy người dân chưa dám đầu tư lớn vào sản xuất Chính sách mở cửa hội nhập nền kinh tế của nước ta với các nước trên thế giới cũng làm cho một số sản phẩm của làng nghề được nhiều người tiêu dùng biết đến, mở rộng được thị trường và có cơ hội sản khẩu sản phẩn ra nước ngoài, nhất là các làng nghề thủ công mỹ nghệ Nhưng cũng đồng thời tạo điều kiện cho các hàng hoá nước ngoài tràn ngập vào thị trường trong nước nhiều bằng những con đường khác nhau làm cho sản phẩm của các làng nghề khó có thể cạnh tranh được Vì thế trong quá trình mở cửa đất nước phải có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm làng nghề.`

6 Kinh nghiệm phát triển làng nghề truyền thống ở một số nước Châu Á

Hiện nay việc phát triển làng nghề truyền thống được coi là một trong những giải pháp tích cực,góp phần giải quyết những vâvs đề KT-XH nông thôn,tạo việc làm cho người lao động với thu nhập cao hơn thu nhập từ nông nghiệp.Tuy nhiên trong quá trình phát triển,mỗi nước đều có những chính sách và giải pháp riêng phù hợp với điều kiện thực tế của mình

6.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là một nước có nhiều nghề truyền thống phát triển từ xa xưa đã nổi tiếng với cá sản phẩm nghề dệt,nghề gốm ,nghề giấy ,nghề đúc kim hoàn…Trong những năm qua Trung Quốc thực hiện chủ trương”ly điền bất ly hương,nhập xưởng bất nhập thành” đã thu hút được hơn 100 triệu lao động

Trang 16

nông nghiệp chuyển sang CN-TTCN và dịch vụ.Phát triển nghề truyền thông của xí nghiệp hương trấn (XNHT) được chính phủ rất quan tâm,coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công việc CNH nông thôn.Nhiều chính sách giải pháp đã được ban hành và thực hiện thành công.

Thứ nhất chính sách thuế:Chính phủ quy định chính sách thuế khác nhau cho các vùng và các ngành nghề khác đặc biệt ưu tiên các XNHT ở các vùng khó khăn,vùng biên giới Đồng thời hạ mức thuế áp dụng cho tất cả các XNHT,miễn thuế tất cả các loại thuế trong vòng 3 năm đầu tiên đối với các xí nghiệp mới thành lập.Sau đó khi XNHT đã định hình và phát triển tương đối

ổn định,chính phủ thực hiện chính sách thuế đồng nhất bãi bỏ ưu tiên trên phạm vi cả toàn quốc.Vì vậy chính sách thuế này cũng không ảnh hưởng tớihoạt động của các XNHT.Tuy nhiên ở một số vùng khó khăn,chính phủ vẫn giành sự ưu tiên nhất định

Thứ hai,chính sách cho vay đối với XNHT:Chính phủ đã cung cấp tín dụng cho XNHT vay vốn.Ngân hàng nông nghiệp Trung Quốc và HTX tín dụng nông thôn giữ vai trò quan trọng trong thị trường vốn chính thức ở nông thôn

Thứ ba,chính sách xuất khẩu:Chiến lược cải cách và mở cửa đã có những tác động quan trọng tới định hướng phát triển của XNHT góp phần to lớn vào việc tăng ngoại tệ và tạo điều kiện các XNHT tham gia vào các hoạt động xuất khẩu.Thứ tư,thực hiện chính sách kích cầu mạnh mẽ ở khu vực nông thôn để tạo thị trường đầu ra cho các XNHT.Sau những năm cải cách,một thành tựu chủ yếu mà kinh tế Trung Quốc đạt được là nâg cao thu nhập cho người dân dẫn đến sự thay đổi của cơ cấu nhu cầu theo hướng giảm dần tiêu dùng thực phẩm tăng nhu cầu tiêu dùng dẫn đến sự tăng nhanh về nhu cầu tiêu dùng đã

mở cơ hội thuận lợi cho XNHT nói chung và ngành nghề truyền thống nói riêng phát triển

Thứ năm,thực hiện chính sách bảo hộ hàng nội địa một cách kiên quyết,cấm

Trang 17

nhập khẩu những mặt hàng công nghiệp trong nước đang sản xuất,nhất là các hàng tiêu dùng cho người dân.Từ đó tạo đièu kiện cho các XNHT khai thác và tạo lập thị trường mới ở các địa phương đang có nhu cấu tiêu dùng tăng lên đồng thời vẫn ổn định được thị trường trong nước sẵn của mình.

Thứ sáu,hạn chế việc di chuyển lao động giữa các vùng cũng như từ nông thôn ra thành thị bằng cách quản lý hộ tịch chặt chẽ của thành phố khiến cho người dân khó có thể tự do đi vào thành phố để kiếm sống hay lập nghiệpThứ bảy,thực hiện đổi mới công nghệ và áp dụng kỹ thuật tiên tiến

6.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Nhật Bản đến nay có 687 nghề thủ công truyền thống.Người Nhật coi đó

là kho tàng quý báu của dân tộc.Chính vì vậy mà chính phủ Nhật rất chú trọng tới việc khôi phục và phát triển thủ công truyền thống của đất nước và cho ra đời “Luật nghề truyền thống”

Thứ nhất,chính phủ chủ trương hỗ trợ về mặt tài chính bằng cách thành lập hệ thống bảo lãnh và bảo hiểm tín dụng để giúp đỡ làng nghề có thể vay vốn vay với lãi suất ưu đãi không cần thế chấp

Thứ hai,trên cơ sở “Luật nghề truyền thống”chính phủ trợ giúp theo kế hoạch khôi phục và phát triển được ban hành.Theo chính sách này các tổ chức của người sản xuất thủ công mỹ nghệ truyền thống phải lập kế hoạch hay dự

án khôi phục và phát triển thủ công mỹ nghệ truyền thống dựa trên cơ sở thực

tế sản xuất và nhu cầu cần đáp ứng như đâo tạo dạy nghề,cải tiến kỹ thuật và nâng cao chất lượng sản phẩm…Trên cơ sở đó nhà nước,khu vực, đoàn thể áp dụng các biện pháp cụ thể hỗ trợ kinh phí, đảm bảo vốn,hỗ trợ đào tạo

Thứ ba,thành lập hiệp hội nghề truyền thống,một tổ chức pháp nhân tài chính

6.3 Kinh nghiệm Ấn Độ

Ấn Độ có nghề truyền thống và làng nghề truyền thống lâu đời.Nhiều

Trang 18

xuất khẩu sang nhiều nuớc khác như tơ lụa,chế tác kim hoàn, đồ trang sức,kim cương,gốm mỹ nghệ những mặt hàng thu lại nguồn ngoại tệ cho Ấn Độ.

Thứ nhất,nhà nước hỗ trợ về tài chính thông qua chính sách cấp tín dụng cho nông dân nghèo.Ngoài ra còn cho các làng nghề truyền thống vay vốn trung hạn và dài hạn từ 5-10 năm với lãi suất thấp

Thứ hai,tăng cường đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực như mở các trung tâm đào tạo nâng cao tay nghề, đầu tư cho giáo dục.chính sách đãi ngộ đối với người tài

Thứ ba, đầu tư cơ sở hạ tầng

6.4 Inđônêxia

Chương trình phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp được Chính phủ Inđônêxia hết sức quan tâm bằng việc lần lượt ra kế hoạch 5 năm Chính phủ này đã đứng ra tổ chức một số trung tâm trợ giúp công nghiệp nhỏ, đề ra các chính sách hỗ trợ công nghiệp nhỏ phát triển trong đó chú ý đến chính sách khuyến khích về thuế và ưu đãi công nghiệp nhỏ chế biến nông sản xuất khẩu

“Hội đồng thủ công quốc gia” được Nhà nước tổ chức và chỉ đạo nhằm thúc đẩy ngành nghề thủ công nghiệp phát triển như: Tổ chức thiết kế mẫu sản phẩm, hội chợ triển lãm ở nông thôn…

Sự nỗ lực của chính phủ trong việc phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn đã đem lại hiệu quả thiết thực Đảo Java, số liệu đều tra 10 làng nghề thủ công cho thấy 44% lao động nông thôn có tham gia it hay nhiều vào hoạt động kinh tế nông nghiệp (19% làm ở các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và 16% làm ở các dịch vụ nông thôn)

6.5 Kinh nghiệm của các nước ASEAN

Hầu như các nước ASEAN đều có nát chung là không có nhiều nghề thủ công truyền thống được hình thành và phát triển lâu đời

a Lào

Trang 19

Là một nước khá nhiều nghề truyền thống nhưng trước đây sự phát triển của nghề này mang tính tự phát.Do vậy có nhiều nghề bị mai một và dần dần mất đi gần đây các nghề như dệt vải,thêu đan,chạm trổ,gốm rèn đúc…đã được khôi phục lại Ở đây các hộ kinh doanh thủ công được nhà nước bảo hộ quyền

sở hữu tài sản,vốn kinh doanh,quy trình công nghệ sản xuất, được quyền tự do mua sắm nguyên vật liệu và sản phẩm, được quyền di chuyển chỗ ở đến nơi kinh doanh thuận tiện và quyền thuê công nhân để tổ chức kinh doanh.Nhà nước khuyến khích giúp đỡ các hộ sản xuất những mặt hàng xuất khẩu bằng cách giành một phần ngoại tệ đẻ nhập máy móc thiết bị nhỏ và một số vật tư khác phục vụ quá trình sản xuất.Lào có hẳn một bộ quản lý nganh tiểu thủ công nghiệp, đó là bộ CN-TTCN

b.Thái Lan

Chinh phủ ban hành chích sách và biện pháp cụ thể nhằm đảm bảo tín dụng cho người lao động nông thôn bằng cách thiét lập hệ thống tín dụng nông thôn,từng bước giúp người lao động tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức để khuyến khich đàu tư phát triển các nghề phi nông nghiệp và nghề thủ công truyền thống Đồng thời chương trình cho vay vốn tối thiểu từ ngừôn tài trợ của chính phủ được thực hiện nhằm tạo cơ hội cho ngưòi lao động có việc làm

Chính phủ Thái Lan đã đề xuất nhiều giải pháp chính sách phát triển công nghiệp nông thôn như chính sách “Một triệu Bạt cho một làng”, ”Mỗi làng có một sản phẩm”nhằm cung cấp vốn lưu động cho các doanh nghiệp cộng đồng Muc tiêu của chính sách này giúp tận dụng được thế mạnh của mình như lao động có tay nghề nguồn nguyên liệu tại chỗ…

Chính phủ Thái Lan đàu tư một khoản kinh phí để xây dựng các trung tâm dạy nghề truyền thống.Bên cạnh đó Thái Lan chú trọng phát triển các làng nghề có sản phẩm xuất khẩu như mời chuyên gia nước ngoài tư vấn về mẫu mã hay tổ chức khoá huấn luyện và hội thảo với chuyên đề cho nhà sản

Trang 20

xuất và xuất khẩu.

Thông qua kinh nghiệm phát triển làng nghề tryền thống ở một số nước châu Á,Việt Nam rút ra được những bài học cho bản thân mình:

1 Chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật,mua sắm các trang thiết bị hiện đại phù hợp vói tính chất sản xuất của mỗi nghề

2 Mở các lớp đào tạo,trung tâm dạy nghề ở các làng nghề,chính sách đãi ngộ các nhân tài

3 Tạo điều kiện cho người lao động vay vốn dưới nhiều hình thức khác nhau

4 Chú trọng đầu tư phát triển các nhóm nghề tạo ra sản phẩm có giá trị xuất khẩu,thực hiện chính sách miễn giảm thuế cho những sản phẩm này trong vài năm đầu

5 Thành lập các hiệp hội làng nghề

Trang 21

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ, NGÀNH NGHỀ

NÔNG THÔN TỈNH HÀ TÂY

1 Thực trạng phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Hà Tây đến năm 2006.

1.1.Vị trí của tỉnh Hà Tây so với các tỉnh đồng bằng sông Hồng Cửu Long

và cả nước.

Hà tây là một trong 8 tỉnh vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và có vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội chung của vùng và cả nước Thủ tướng Chính Phủ xác định vùng kinh tế trọng điểm đến năm 2010 là: “Đi đầu trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, luôn giữ vai trò đầu tầu đối với cả vùng bắc bộ và cả nước”

Hà Tây chiếm 0,67% về diện tích tự nhiên và 3,03% dân số cả nước Về diện tích đứng sau Quảng Ninh, dân số đứng sau thành phố Hà Nội Đến năm

2006 tốc độ tăng GDP của tỉnh Hà Tây 12,5%, các tỉnh phía Nam đồng bằng sông Hồng chỉ đạt từ 10- 11,5%, song còn thấp hơn tỉnh Quảng Ninh 13,2%, Hưng Yên 13,7%, Vĩnh Phúc 15,2%, Bắc Ninh 15,3% Hà Tây chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng: phát triển mạnh công nghiệp và thương mại, dịch vụ,giảm tỷ trọng nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, nhưng vẫn đảo bảo tăng

về giá trị sản xuất Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của Tỉnh Hà Tây hàng năm còn chậm hơn các tỉnh trongvùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nhanh hơn các tỉnh phía Nam đồng bằng sông Hồng GDP bình quân đầu người tỉnh Hà Tây năm 2006 đạt 7,02 triệu đồng, trong khi các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đạt từ 7,06 triệu đồng đến 27,8 triệu đồng Năm 2006 giá trị sản lượng công nghiệp một số tỉnh đạt khá cao: Hà Tây 24%, Hưng Yên 28,2% , Bắc Ninh 20,3%, Thái Bình 23,6%, Nam Định 30,3% Một số tỉnh có tốc độ tăng trưởng thấp hơn : Hà Nội 16,8%; Hải Dương , Ninh Bình 17,8% Gía trị xuất khẩu của itnhr Hà Tây đạt thấp hơn các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng

Trang 22

Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP (2001- 2006) của Hà Tây đạt 9,73% trong khi cả nước là 18,7% Năm 2006 GDP bình quân đầu người đạt 7,04 triệu người, chiếm 60,79% so với bình quân chung của cả nước Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và thương mại có tốc độ tăng chậm hơn so với cả nước Thu ngân sách chỉ đạt bình quân 0,8 triệu đồng trên người, thấp hơn so với cả nước, cả nước là 3,1 triệu đồng Về tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ở Hà Tây 27,7% trong khi cả nước là 26,6% Tỷ lệ hộ đói nghèo( theo tiêu chẩu quốc gia) Hà Tây chỉ còn 11,42% trong khi cả nước là 16,5%.

Biểu 1:Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tây so với cả nước

3 GDP bình quân/ người( triệu đồng) 7,04 11,58

4 Kim ngạch xuất khẩu(USD/ người) 43,9 470,09

5 Thu ngân sách / người( triệu đồng) 0,8 3,1

6 Tỷ lệ lao động qua đào tạo(%) 27,5 26,6

7 Tỷ lệ đói nghèo(% theo tiêu chuẩn

quốc gia)

11,42 16,5Nguồn số liệu: cục thống kê tỉnh Hà Tây

Trang 23

1.2. Thực trạng dân số, lao động và cơ cấu lao động.

Dân số tỉnh Hà Tây năm 2006 là 2,551 triệu người tăng bình quân hàng năm 0,86%; tốc độ tăng dân số tự nhiên là 1,07%/ năm Tỷ lệ dân số ở thành thị chiếm 11% Quy mô dân số đô thi ở tỉnh Hà Tây quá thấp tương đương 1/3 mức bình quân chung của cả nước Dân số ở nông thôn chiếm 89% Trong

đó số việc làm năm 2006 chiếm 1,317 triệu người, tăng bình quân 2,17% Trong đó cơ cấu lao động có sự thay đổi, tỷ trọng lao động trong ngành nông, lâm, thuỷ sản giảm

Từ năm 2004 đến tháng 6/2006 đã chuyển 62.130 lao động nông thôn sang làm dịch vụ và nghề khác Trong đó số lao động làm trong các doanh nghiệp chiếm 7,6%, số lao động chuyển nghề tại địa phương 21,7%, số lao động đi làm bên ngoài 37%, số lao động không có việc làm ổn định 33,7% Trong thời gian này diện tích đất nông nghiệp giảm 1.935 ha để chuyển đổi thực hiện các dự án: xây dựng các khu, đô thị và du lịch…Hiện nay, tỉnh Hà Tây là tỉnh có tốc độ đô thị hoá nhanh, cao hơn giai đoạn 2004- 2005 là 1,06%; tuy nhiên đến hết năm 2006, tỷ lệ dân số sống trong các khu đô thị toàn tỉnh mới chỉ đạt khoảng 16,77%, thấp hơn bình quân chung cả nứơc( cả nước 25%)

1.3. Tình hình tăng trưởng và phát triển các ngành kinh tế của tỉnh

Tốc độ tăng trưởng kinh tế, giá trị sản xuất kinh tế các ngành ngày càng tăng, tổng sản phẩm trên địa bàn GDP giai đoạn 2001- 2005 tăng 9,73%; năm

2006 tăng 12,52% Tốc độ tăng năm 2006 so với năm 2000 là 171,2% Nhịp

độ tăng của các ngành đạt khá Năm 2006 so với năm 2000 cơ cấu GDP công nghiệp, xây dựng tăng khoảng 7,69%; nông nghiệp, thuỷ sản giảm 8,46%, dịch vụ tăng 0,77% Tổng mức đầu tư toàn xã hội đạt khá là 3,24 lần Tổng mức bán lẻ hàng hoá tăng 175%, tổng kim ngạch tăng gấp 2,43 lần Tổng lượt khách du lịch đến Hà Tây năm 2006 tăng 2,86 lần Thu ngân sách nhà nước tăng 5,6 lần GDP bình quân đầu người tăng 2,2 lần

Trang 24

Xu hướng chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực tăng tỷ trọng GDP về công nghiệp và xây dựng, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng về nông nghiệp- thuỷ sản

Biểu 2:Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của tỉnh Hà Tây thực hiện đến

năm 2006 so với năm 2000.

9 Thu ngân sách nhà nước Tỷ đồng 363,83 2.045 554,5

Nguồn cung cấp: Niên giám thống kê tỉnh Hà Tây năm 2005 và ước thực hiện năm 2006)

1.4 .Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp

a Mạng lưới giao thông

Mạng lưới giao thông của tỉnh phát triển đồng bộ và phân bố hơp lí trên địa bàn Đường quốc lộ, tỉnh lộ có chiều dài 648,1km; Đường tỉnh lộ có 29 tuyến dài 406,1km; có 276,88 km đường được trải nhựa, bê tông xi măng chiếm 70,25% còn lại là đường cấp phối Đường giao thông nông thôn có chiều dài 651,76km, trong đó đường nhựa và bê tông xi măng chiếm 41,48%, còn lại là đường cấp phối đường đất Đường xã, phường thị trấn dài 5.235,74

km, trong đó đường bê tông, xi măng, nhựa lát gạch chiếm 35,4%, còn lại

Trang 25

đường đất và cấp phối Đường ô tô đã đến trung tâm các xã, các thị trấn thị tứ, các trung tâm kinh tế, các khu, cụm điểm công nghiệp, khu du lịch, cụm điểm làng nghề.

Đường sắt qua tỉnh Hà Tây dài 42,5km( tuyến Bắc, Nam qua tỉnh Hà Tây dài 29,5km, tuyến đường vành đai dài 13km)

Mạng lưới đường sông: có 6 sông lớn chảy qua, ngoài ra còn có hồ, sông suối nhỏ, mật độ sông suối trên địa bàn tỉnh 1,53/ km2 cao hơn các địa phương khác Trên địa bàn tỉnh có 2 cảng trên sông Hồng là Cảng Tây Sơn và cảng Hồng Vân( thường tín) có nămg lực bốc xếp khoảng 500.000tấn/ năm Ngoài ra còn 5 cảng nhỏ và 54 bến bốc xếp hàng hoá ven các dòng sông

Nhìn chung mạng lưới giao thông của tỉnh khá phát triển tạo điều kiện cho lưu thông hàng khách, vận chuyển hàng hoá( nguyên vật liệu, gỗ, tre, nứa, nông sản thực phẩm…) để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong nước và xuất khẩu đáp ứng nhu cầu phát triển trong đó có nhu cầu phát triển làng nghề

b Hệ thống cung cấp điện.

Nguồn điện cung cấp cho Hà Tây gồm 1 trạm 500kv, 2 trạm 220kv, 8 trạm 110kv và đang hoàn thiện lưới điện tỉnh theo quy hoạch Về điện nông thôn đã phủ kín 100% số xã trên địa bàn, số dân được sử dụng đạt 99% Tuy nhiên việc quản lý tổ chức điện bán điện ở nông thôn còn yếu kém nên ảnh hưởng đến chất lượng điện trong các làng nghề

Nhìn chung công suất điện đã cung cấp đầy đủ điện đảo bao cho nhu cầu điện hiện nay cho sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp và sinh hoạt của người dân Điện đã cung cấp đủ cho các khu, cụm, điểm công nghiệp làng nghề và khu điểm du lịch

c Hệ thống cấp, thoát nước

Nguồn cấp nước Hà Tây dồi dào do có nguồn cung cấp mực nước ngầm lớn Hiện nay hệ thống cung cấp nước sạch( nước máy) đã đủ cung cấp

Trang 26

cho thành Phố Hà Đông, Sơn Tây và một số thị trấn, thị tứ trong tỉnh, hai dự

án cấp nước bằng nguồn vốn ODA của chính phủ Đan Mạch và Pháp đang được triển khai để nâng công suất lên 61.000m3/ngày đêm Tổng công ty VINACONEX đang triển khai hệ thống cung cấp nước hiện đại theo hình thức BOT lấy nguồn nước từ Hoà Bình cung cấp cho Hà Tây và Hà Nội Hệ thống nước cơ bản đã được hoàn chỉnh, đang được nâng cấp để tăng thêm nămg lực tiêu, thoát nước cho khu vực, đáp ứng nhu cầu, tình hình, nhiệm vụ mới

d Bưu chính viễn thông.

Mạng lưới bưu chính viễn thông và thông tin lien lạc của tỉnh phát triển nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 405 điểm dịch vụ trong đó có 256 điểm bưu điện văn hoá xã Đến năm 2006 số máy điện thoại đạt 17,8 máy/ 100 dân, 100% số xã có điện thoại các loại hình dịch

vụ bưu chính, viến thông phát triển đa dạng từng bước đáp ứng nhu cầu của nhân dân và hội nhập kinh tế thế giới đã góp phần thuận lợi cho sản xuất phát triển trong đó có các làng nghề

e Tiềm nămg du lịch thương mại.

Hà Tây có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đặc biệt, có nền văn hoá lâu đời, có tiềm nămg về du lịch với nhiều cảnh quan, di tích lịch sử văn hoá

đã tạo ra các sản phẩn du lịch như: du lịch văn hoá- lễ hội, nghỉ dưỡng, nghỉ cuối tuần, du lịch sinh thái, vui chơi giải trí, du lịch làng nghề…Tỉnh đang triển khai quy hoạch vào các khu du lịch trọng điểm Sơn Tây- Ba vì, Hương Sơn( Mỹ Đức), Hà Đông và vùng phụ cận thành trung tâm du lịch lớn của tỉnh

Hà Tây liền kề với thủ đô Hà Nội nơi đã sản xuất nhiều cáclàng nghề truyền thống cung cấp cho thị trường Hà Nội từ lâu đời Đến nay hoạt động thương mại tiếp tục phát triển, với nhiều loại hàng hoá đa dạng nên có mức luân chuyển hàng hoá và bán lẻ lớn Hiện nay Hà Tây có 235 chợ, trong đó chợ kiên cố chiếm 5%; chợ bán kiên cố chiếm 33%; còn lại là chợ tạm, chợ

Trang 27

lều quán, chợ nông thôn chiếm 87% Tỉnh đang xây dựng trung tâm thương mại của tỉnh, một số siêu thị xuất hiện ở khu đô thị mới như: siêu thị City Mart( Văn Quán- Yên Phúc), Vinatex( Vạn Phúc)…Mạng lưới kinh doạnh xăng dầu của tỉnh có 150 điểm Nhìn chung mạng lưới kinh doanh thương mại của tỉnh vẫn theo phương thức tuyền thống, các siêu thị chưa phát triển,

cơ sở vật chất các chợ xuống cấp

Hà Tây có tiềm nămg lớn về xuất khẩu nông sản, chế biến nông sản thưcj phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống, hàng may mặc, da dầy, tơ tằm, thịt lơn đen…kim ngạch xuất khẩu năm 2000 đạt 46,8 triệu USD, đến năm 2006 đạt 112 triệu USD giá trị xuất khẩu đạt 15%/năm Các sản phẩm chủ yếu xuất khẩu sang các nước Đông Âu, Pháp, Italia, Đài Loan, Trung Quốc, một số nước Đông Nam Á Tuy nhiên chất lượng hàng hoá xuất khẩu vẫn còn hạn chế, một số nhóm sản phẩm làm gia công , việc tìm kiếm thị trường còn gặp khó khăn, công nghệ còn lạc hậu, mẫu mã chưa đa dạng, sức cạnh tranh còn yếu, giá trị xuất khẩu đạt thấp Chưa quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu phục vụ cho sản xuất kinh doanh của làng nghề

2 Thực trạng của một số ngành nghề chủ yếu.

2.1 Ngành nghề sơn mài, khảm trai

Nhóm ngành nghề sơn mài, khảm trai gồm sơn mài và khảm trai Nguyên liệu chính là gỗ, sơn ta, trai biển, đã cùng bàn tay khéo léo tạo ra sản phẩm có giá trị Hiện nay có 39 làng nghề chiếm 3,31% trong tổng số 1.180 làng nghề của tỉnh, tập trung ở các xã: Duyên Thái( Thường Tín), Chuyên Mỹ( Phú Xuyên) UBND đã công nhân 11/39 làng nghề đạt tiêu chuẩn

Nhóm nghề sơn mài khảm trai đã phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu sang Nhật, Mỹ, Anh, Đài Loan, Hà Lan…Năm 2006 có 10.687 hô Với 1.844 người làm nghề, đạt giá trị 216,55 tỷ đồng, thu nhập bình quân 7,5 triệu đồng/ người/ năm

Trang 28

Hiện nay, 28 làng có nghề đạt giá trị sản lượng từ 30- 40% tổng giá trị sản lượng của xã, ở các huyện: Thường Tín, Phú Xuyên và Thanh Oai.

2.2 Ngành nghề mây, tre, giang đan, tăm tre, quạt, làm lồng chim.

Nhóm nghề mây, tre đan gồm nghề song mây phát triển vào thế kỉ XVII,

ơ các xã: Sơn Đồng( Hoài Đức), Trường Yên, Đông Phương Yên( Chương Mỹ), Bình Phú( Thạch Thất), Cấn Hữu( Quốc Oai), Phú Nghĩa( Chương Mỹ),

xã có 7/7 làng ( tiêu biểu là làng nghề Phú Vinh) duy trì và phát triển nghề với 90% số hộ tham gia Hiện nay làng có nhiều tổ hợp, doanh nghiệp làm ăn uy tín, hàng năm tiêu thụ hàng chục triệu sản phẩm Nghề tre đan ở xã Ninh Sở( Thường Tín) tiêu biểu là thôn bầng sở, đã có cách đây trên 400 năm, từ đời vua Lê Cảnh Hưng Nghề làm quạt giấy ở thôn Vác, xã Dân Hoà (Thanh Oai)…Các sản phẩm làng nghề nguyên liệu chính là cây mây, tre, cỏ tế được đan thành sản phẩm có giá trị, cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước Trong đó có 85% tổng sản phẩm nghành nghề của tỉnh xuất khẩu sang các nước Nga, Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Canada, Trung Quốc, Đài Loan…Nghề phát triển hầu hết ở các huyện, thành phố trong tỉnh với 345 làng nghề, chiếm 29,24% số làng có nghề của tỉnh Đến nay có 73/345 làng được UBND công nhận làng đạt tiêu chuẩn làng nghề Năm 2006, làng nghề đạt giá trị 524,76 tỷ đồng , thu hút 32.227 hộ với 87.861 lao động trong nghề Thu nhập bình quân 7 triệu đồng/người/năm

Hiện nay, 272 làng có nghề đạt giá trị từ 30- 40% tổng sản lượng của xã, ở các huyện Chương Mỹ, Ưng Hoà, Phú Xuyên, Thanh Oai, Thạch Thất, Ba Vì…

2.3 Ngành nghề làm nón lá, mũ.

Nước ta thuộc vùng nhiệt đới khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều, lá cây rừng phong phú và đa dạng, đã tạo lên vùng nguyên liệu dồi dào để làm ra các sản phẩm che mưa, che nắng cho con người nói chung và làm đẹp cho phụ nữ Việt Nam Ngành nghề nón lá, mũ xuất hiện từ thế kỉ XV Ở Hà Tây nghành

Trang 29

nón lá, mũ ở các huyện Thanh Oai, Quốc Oai và Ba Vì…tiêu biểu cho lang Chuông (Thanh Oai) có từ lâu đời, mỗi năm cung cấp cho thị trường từ 3- 3,5 triệu sản phẩm, doanh thu đạt 20 tỷ đồng/ năm Ngành nghề có xu hướng phát triển Sản phẩm được xuất khẩu sang một số nước: Nhật, Anh, Trung Quốc,

Mỹ, Hà Lan…Năm 2006 giá trị làng nghề đạt156,03 tỷ đồng và thu hút 17.031 hộ với 28.018 lao động trong các làng nghề, thu nhập bình quân 5,2 triệu đồng/người/năm Toàn tỉnh có 61 làng nghề, chiếm 5,17% trong các ngành nghề cuả tỉnh, trong đó có 21/61 làng được UBND tỉnh công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề

Hiện nay còn 40 làng có nghề đạt giá trị từ 30-40% tổng sản lượng của

xã, ở các huyện Thanh Oai, Quốc Oai và Ba Vì…

2.4 Ngành nghề chế biến lâm sản, mộc dân dụng, gỗ cao cấp.

Nhóm nghề chế biên lâm sản, đồ mộc dân dụng, gỗ cao cấp có 146 làng

có nghề chiếm 12,37% trong các ngành nghề của tỉnh đứng thư 2 sau nghề mây tre, giang đan của tỉnh tập trung ở các huyện Đan Phượng, Ứng Hoà, Thạch Thất, Ba Vì, Phú Xuyên, Thường Tín, Thanh Oai, Phúc Thọ, Chương

Mỹ, Mỹ Đức Đến nay có 16/146 làng được UBND tỉnh công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề Gía trị sản xuất năm 2006 đạt 405,89 tỷ đồng, đã thu hút 16.907 hộ với 36.915 lao động nông thôn có việc làm, thu nhập bình quân 10triệu đồng/người/năm Nguyên liệu chính là gỗ, tre, vầu, nứa…với bàn tay khéo léo tạo ra sản phẩm đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng như: sập, tủ chè, bàn,

tủ cao cấp…phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu Ngành nghề có xu hướng phát triển tiêu biểu là làng nghề gỗ cao cấp Vạn Điển- xã Vạn Điển( Thường Tín), làng nghề chế biến lâm sản thôn Trung, thôn Hạ, thôn Thượng xã Liên Trung (Đan Phượng), làng mộc cao cấp và gỗ dân dụng ở xã Hữu Bằng, Chàng Sơn, Canh Nậu (Thạch Thất)…

Hiện nay 130 làng có nghề đạt giá trị sản lượng từ 30- 40% tổng sản

Trang 30

phẩm của xã, huyện của tỉnh

2.5 Ngành nghề thêu, ren.

Ngành nghề có truyền thống từ lâu đời tiêu biểu ở xã Quất Động (Thường Tín) Nghề thiêu xuất hiện thời Lê Mạt- Thế kỉ XVI do cụ Lê Công Hành truyền cho làng Làng ren ở xã Hạ Mỗ (Đan Phượng) được nhập vào nước ta thế kỉ XIX Nghề ren ở Bình Đà (Thanh Oai) năm 1960 được khôi phục và phát triển…Nguyên liệu chính của nhóm thêu ren là vải, chỉ thêu màu với bàn tay khéo léo, đôi mắt tinh tường, sự cầu cù và yêu cái đẹp của người lao động đã tạo ra bức tranh và những bức băng ten, áo Kimônô, rèm the rải bàn để phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu sang Nhật, Hồng Kông, Singápore, Đài Loan…Làng nghề thiêu ren hiện có 136 làng có nghề chiếm 11,53% trong các ngành nghề của tỉnh, tập trung nhiều rất ở huyện Thường Tín (63 làng), huyện Phú Xuyên (20làng)…Hiện nay, 108 làng có nghề đạt giá trị từ 30- 40% tổng sản lượng của xã ở các huyện Đan Phượng, Thanh Oai, Thường Tín, Mỹ Đức…

2.6 Ngành nghề dệt may( dệt lụa, dệt vải, màn, khăn…)

Nhóm ngành nghê dệt may bao gồm dệt lụa, dệt vải, dệt màn, dệt khăn và nghề may áo dài Các sản phẩm của các làng nghề đa dạng phong phú, có mặt tại nhiều nước Đông Âu, Pháp, Italia, Nhật Bản…Nghề dệt may với nguyên liệu chính là tơ, vải, len để tạo ra các sản phẩm lụa, đũi, gấm, the… với bàn tay khéo léo của người thợ tạo ra chiếc áo dài truyền thống của dân tộc Hiện nay có 139 làng có nghề chiếm 11,78% trong các ngành nghề của tỉnh, tập trung ở các huyện Phú Thọ, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Thanh Oai, Quốc Oai, Ứng Hoà…Đến năm 2006, UBND tỉnh đã công nhận 22/139 đạt tiêu chuẩn làng nghề, thu hút 19.396 hộ với 41.513 lao động Gía trị sản xuất năm

2006 đạt 964,21 tỷ đồng

Hiện nay 117 làng có nghề đạt giá trị từ 30-40% tổng sản lượng của xã, ở

Trang 31

các huyện Phúc Thọ, Hoài Đức,Mỹ Đức, Phú Xuyên…Tuy nhiên các làng nghề dệt lụa ở Cố Đô( Ba Vì), dệt vải Vân Canh (Hoài Đức), dệt the, lượt, gấm lụa La Khê (TP Hà Đông) chưa được khôi phục.

2.7 Ngành nghề da giầy, khâu bông.

Đến năm 2006 có 12 làng có nghề chiếm 1,02 trong các ngành nghề của tỉnh, trong đó huyện Phú Xuyên ( 3 làng), Thanh Oai (7 làng), Thành Phố Hà Đông (1 làng ), UBND tỉnh đã công nhận 6 làng đạt tiêu chuẩn làng nghề Nguyên liệu chính của làng nghề là sản phẩm thuộc da của Trâu, Bò…tạo ra các sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người Ngành nghề có xu hướng phát triển, tạo ra các sản phẩm tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Gía trị sản xuất năm 2006 đạt 26,78 tỷ đồng , thu hút 2.016 hộ với 4238 lao động , thu nhập bình quân 5,5 triệu đồng/ người/ năm

Hiện nay, 6 làng có nghề đạt giá trị từ 30-40% tổng giá trị sản lượng của

xã ở các huyện Phú Xuyên, Thanh Oai

2.8 Ngành nghề làm giấy, vàng mã, in tranh dân gian.

Ngành nghề có từ lâu đời, ở tỉnh nghề làm giấy cổ truyền có ở làng An Cốc xã Hồng Minh (Phú Xuyên) từ thời Lê Trung Hưng (thế kỉ thứ XVII), cụ

tổ nghề là cụ Thái Luân đã cung cấp giấy để làm vàng mã, quạt, in báo sách…Nghề tranh dân gian có ở làng Kim Hoàng xã Vân Canh (Hoài Đức) với dòng tranh đồng hồ được in trên giấy màu đỏ hồng điều đã tạo ra những bức tranh dân gian đặc sắc để phục vụ nhân dân trong ngày tết Ngành nghề làm giấy, vàng mã có xu hướng phát triển, tập trung ở các hộ gia đình thuộc các huyện Thanh Oai, Phú Xuyên, Hoài Đức…Nguyên liệu chính là giấy, bột màu…cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước

2.9 Ngành nghề cơ kim khí, điện và dao kéo.

Ngành nghề có từ lâu đời Nghề kim khí có ở thôn Rùa Hạ xã Thanh Thuỳ (Thanh Oai) với hơn 80% số hộ sản xuất, các nhà xưởng có quy mô phù

Trang 32

như: bản lề, cửa hoa, cửa xếp, phụ tung xe đạp, đồ điện gia đình…Nghề rèn ở

xã Đa Sĩ (TP Hà Đông) hình thành và phát triển hàng trăm năm nay, năm

2006 đã có 600 lò rèn, giá trị sản xuất đạt 4,94 tỷ đồng Làng rèn truyền thống thôn Vũ Ngoại (Ứng Hoà), làng cơ kim khí Phùng Xá (Thạch Thất), Thuý Hội, Tân Hội (Đan Phượng) Sản phẩm của làng nghề là những công cụ phục

vụ cho xây dựng, dụng cụ cơ, kim khí cầm tay phục vụ cho sản xuất nông nghiệp: máy tuốt lúa, cuốc xẻng, xe cải tiến, cày, bừa, dao kéo phục vụ cho nghề may mặc và tiêu dùng Đến nay nghề cơ, kim khí, đện, dao kéo có 56 làng có nghề chiếm 4,75% trong các nghề của tỉnh tập trung ở các huyện Chương Mỹ, Phú Xuyên, Thường Tín, Thanh Oai, Ba Vì, Sơn Tây UBND tỉnh đã công nhận 12/56 làng nghề đạt tiêu chuẩn làng nghề Gía trị sản xuất ngành nghề năm 2006 đạt 204,94 tỷ đồng thu hút 13.203 hộ với 25.270 lao động, thu nhập bình quân 10 triệu đồng/người/năm

Hiện nay 44 làng đạt giá trị từ 30- 40% tổng sản lượng của xã, ở các huyện Thạch Thất, Đan Phượng, Thanh Oai, Ứng Hoà…

2.10 Ngành nghề chạm điêu khắc đá, kim loại, gỗ, xương, sừng.

Đây là những làng nghề thủ công mỹ nghệ có từ lâu đời, có 13 làng nghề chiếm 1,10% trong các ngành nghề của tỉnh như làng điêu khắc Thanh Thuỳ (Thanh Oai), làng Nhân Hiền- xã Hiền Giang (Thường Tín), xã Chàng Sơn thuộc huyện Thạch Thất Nghề lược sừng thôn Thuỵ Ứng (Thường Tín), nghề tạc tượng ở Sơn Đồng (Hoài Đức) Nghề tiện Nhị Khê (Thường Tín)… Nguyên liệu chính của làng nghề là gỗ, đá, sừng trâu, ngà voi, đồng bạc…với bàn tay khéo léo tạo sản phẩm thủ công có giá trị tiêu dùng và xuất khẩu Sản phẩm làng nghề được xuất sang các nước: Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc

và các nước Đông Âu Năm 2006 UBND tỉnh đã công nhận 9 làng nghề đạt tiêu chuẩn làng nghề Gía trị sản xuất năm 2006 đạt 79,56 tỷ đồng thu hút 3.801 hộ với 11.859 lao động, thu nhập bình quân 7,5 triệu đồng/người/năm

Trang 33

Hiện nay có 4 làng nghề đạt giá trị từ 30- 40% tổng sản lượng của xã, ở các huyện Thường Tín, Phú Xuyên, Thanh Oai…

2.11 Ngành nghề chế biến nông sản, thực phẩm (bánh bún, kẹo, rượu, bia, nước giải khát…).

Nhóm ngành nghề chế biến nông sản thực phẩm hình thành và phát triển

có truyền thống từ lâu đời, như sản phẩm: sản xuất tinh bột sắn ở Minh Khai (Hoài Đức), Cộng Hoà, Tân Hoà (Quốc Oai); miến rong ở Cát Quế, Dương Liễu (Hoài Đức); bún ướt ở Liêm Bặt (Ứng Hoà); Bánh dày Quán Gánh (Thường Tín); nem phùng Đan Phượng; bánh giò, bánh tẻ ở Phú Nhi (Sơn Tây); giò chả Ứơc Lễ - Thanh Oai; các loại bánh kẹo ở La Phù (Hoài Đức); chế biến chè búp ở Ba Trại( Ba Vì), Phú cát (Quốc Oai)…Toàn tỉnh có 122 làng nghề chiếm 10,34% trong các ngành nghề của tỉnh Đến năm 2006, UBND tỉnh đã công nhận 38/122 làng đạt tiêu chuẩn làng nghề Giad trị sản xuất năm 2006 đạt 448.34 tỷ đồng, thu hút 27.283 hộ với70.499 lao động trong các làng nghề, thu nhập bình quân 6 triệu đồng/người/năm

Hiện nay , 84 làng có nghề đạt giá trị từ 30- 40% tổng sản lượng của xã ở các huyện Thanh Oai, Hoài Đức, Ba Vì…

2.12 Ngành nghề đan tơ lưới, dệt lưới chã.

Nghề có từ lâu đời, nguyên liệu chính là sợi cước từ nilon để đan thành lưới đánh bắt thuỷ sản Hiện nay có 5 làng nghề chiếm 0,42% trong các ngành nghề của tỉnh tập trung ở Sơn Hà (Phú Xuyên)…Gía trị sản xuất năm 2006 đạt 12,18 tỷ đồng, thu hút 855 hộ với 2048 lao động, thu nhập bình quân 5,5 triệu đồng/người/năm Tuy nhiên sản xuất có xu hướng chững lại

Hiện nay có 2 làng nghề đạt giá trị từ 30- 40% tổng sản lượng của xã, ở huyện Phú Xuyên

2.13 Ngành nghề khác (chụp ảnh, nặn tò he, hoa giấy, hoa gỗ, tranh đá, tranh gỗ, tranh hoa lá khô, vẽ tranh trên kính…)

Mỗi nghề có khoảng từ 1- 3 làng, nổi tiềng là nghề chụp ảnh Lai Xá

Trang 34

(Hoài Đức) đã được UBND tỉnh công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề Nghề hoa gỗ ở Vạn Điển (Thường Tín), nặn tò he ở Phượng Dực (Phú Xuyên)…Toàn tỉnh có 106 làng nghề chiếm 9,89% trong các ngành nghềcủa tỉnh Gía trị sản xuất và dịch vụ năm 2006 đạt 9,57 tỷ đồng thu hút 462 hộ với 924 lao động, thu nhập bình quân 10 triệu đồng/người/năm và nghề đang có xu hướng phát triển.

2.14 Ngành nghề sinh vật cảnh.

Có từ lâu đời mang tính chất riêng lẻ của các hộ gia đình trên địa bàn toàn tỉnh và đến nay phát triển mạnh ở các huyện, thị như Phú Xuyên (720 hội viên), Mỹ Đức (428 hộ viên), Ba Vì (360 hội viên), Phúc Thọ (175 hội viên), Thạch Thất (167 hội viên)…Toàn tỉnh có 10 câu lạc bộ sinh vật cảnh Đã thu hút 3004 hội viên với 12.016 lao động, doanh thu đạt 25 tỷ đồng, thu nhập bình quân 15 triệu đồng/người/năm

Nhìn chung các ngành nghề của tỉnh Hà Tây điều có xu hướng phát triển mạnh, nhiều ngành nghề truyền thống được khôi phục, thêm nhiều ngành nghề mới Số làng có giá trị sản xuất hàng năm cao, từ 10- 20 tỷ đồng/năm có

43 làng, từ 20- 35 tỷ đồng có 14 làng, từ 50- 300 tỷ đồng có 9 làng, đặt biệt cao một số làng như: làng nghề diệt kim, sản xuất bánh kẹo La Phù (Hoài Đức), giá trị sản xuất đạt trên 400tỷ đồng/năm

3 Thực trạng phát triển làng nghề công nghiệp- TTCN.

3.1 Phân bố và quy mô số lượng làng nghề, làng có nghề.

Trong những năm qua việc xây dựng và phát triển làng nghề tăng nhanh Trên cơ sở đào tạo truyền cấy nghề Toàn tỉnh năm 2002 có 972 làng có nghề, đến năm 2006 đã có 1.180 làng có nghề chiếm 80,8% trong tổng số 1.460 làng của tỉnh, tốc độ tăng bình quân 4,6%/năm, UBND tỉnh đã công nhận 240 làng đạt tiêu chuẩn làng nghề chiếm 16,4% tổng số làng nghề 14/4 huyện thị và thành phố điều có làng nghề được cấp bằng công nhận làng nghề: huyện Thanh Oai 47 làng nghề, Thường Tín 40 làng, Phú Xuyên 36 làng, Chương

Trang 35

Mỹ 28 làng, Ba Vì 14 làng, Hoài Đức 14 làng, Quốc Oai 13 làng, Thạch Thất

9 làng, Mỹ Đức 6 làng, Phúc Thọ 5 làng, Thành Phố Hà Đông 2 làng, Thành Phố Sơn Tây 1 làng

Biểu 3:Tổng số làng nghề được tỉnh công nhận đến năm 2006

Nguồn: sở công nghiệp tỉnh Hà Tây

Trong 240 làng nghề: Ngành nghề sơn mài, khảm trai có 11 làng; giầy da khâu bông 6 làng; mây tre giang đan, cỏ tế, tăm hương 73 làng; Thêu ren 28 làng Nón lá, mũ 21 làng; cơ kim khí, điện, rèn 12 làng; chế biến nông sản thực phẩm 38 làng; dệt may 22 làng; chế biến lâm sản, mộc dân dụng, gỗ cao cấp 12 làng; Nghề trạm điêu khắc đá, kim loại, gỗ, sừng 9 làng; nghề đan tơ lưới, dệt chã 3 làng

3.1 Tình hình sản xuất kinh doanh của các làng nghề, làng có nghề công nghiệp- TTCN dịch vụ (số hộ, lao động, thu nhập, nguồn lao động, giá trị sản lượng thực tế thị trường)

a Số hộ, số lao động làng nghề, làng có nghề.

- Số hộ sản xuất kinh doanh các làng nghề:

Trang 36

Giai đoạn từ năm 2003- 2006 số hộ, làng nghề, làng có nghề ngày càng tăng Năm 2003 có 87.610 hộ trong 160 làng nghề, đến năm 2006 tổng số hộ

là 125.032 hộ tăng 37.422 hộ, số làng nghề là 240 làng nghề, tăng thêm 18 làng nghề

Năm 2003 có 65.240 hộ chiếm 74,4% tổng số hộ, sản xuất công nghiệp- TTCN

Năm 2006 có 90.003 hộ (tăng 24.763 hộ) chiếm 72% tổng số hộ sản xuất công nghiệp- TTCN; Năm 2006 có tổng số 161.837 hộ ở 1.180 làng nghề của tỉnh

Quy mô làng nghề của tỉnh ngày càng phát triển, số hộ tham gia sản xuất CN- TTCN và dịch vụ tăng, số hộ thuần nông giảm Cơ cấu lao động nông thôn chuyển dịch nhanh sang làm công nghiệp, dịch vụ: Các huyện có nhiều

hộ làm CN- TTCN là: Hoài Đức, Thanh Oai, Chương Mỹ, Thường Tín, Phú Xuyên, Thạch Thất bình quân có 10.000 hộ tham gia làm nghề CN- TTCN chuyên và kiêm, huyện thấp nhất có từ 3.000- 5.000 hộ tham gia

Số hộ lao động sản xuất, kinh doanh trong các làng nghề ngày càng tăng Năm 2003 trong 160 làng nghề có 201.057 lao động, đến năm 2006 là 194.477 lao động, số lao động tăng thêm 93.420 người

Năm 2006, ở 1.180 làng nghề số lao động 363.057 người

Trang 37

Biểu 4: Quy hoạch ngành nghề nông thôn tỉnh Hà Tây từ năm 2005- 2007

Số hộ (hộ) Số lao động (người) Gía trị sản xuất (tỷ đ)

1 Ngành nghề sơn mài, khảm trai 6133 10867 19255 12221 18442 56190 187.48 290.15 449.03

2 Ngành nghề mây tre, giang đan 24738 33227 66812 71244 87861 325297 490.62 703.12 1498.76

Trang 38

Số lượng làng nghề, làng có nghề ngày càng tăng, năm 2002 toàn tỉnh có

972 làng có nghề đến năm 2006 toàn tỉnh đã có 1.180 làng có nghề chiếm 80,8% trong tổng số 1.460 làng nghề của tỉnh, tốc độ tăng 4,6%/năm, đã thu hút nhiều lao động của địa phương khác đến làm việc như xã Phú Túc (Phú Xuyên), làng nghề chế biến nông sản thực phẩm xã Minh Khai (Hoài Đức)…

đã góp phần làm tăng thêm giá trị kinh tế cho làng cho vùng

b Thu nhập của người lao động làng nghề tỉnh Hà Tây.

Năm 2003 thu nhập bình quân trên một lao động là 3,86 triệu đồng/người/năm tăng 3,75 Đến năm 2006 là 6,61 triệu đồng/người/năm, đã tăng gần 2 lần Trong đó thu nhập bình quân của 1 lao động tham gia sản xuất CN- TTCN đạt 4,23 triệu đồng/người/năm, đến năm 2006 đạt 7,98 triệu đồng/người/năm, tăng 3,75 triệu đồng

Tuy nhiên thu nhập bình quân/ lao động trong từng làng nghề, làng có nghề và lao động sản xuất công nghiệp- TTCN ở các địa phương trong tỉnh không đều Năm 2006 thu nhâp bình quân/ lao động của huyện Ba Vì, Thạch Thất chỉ đạt 3,3- 3,5 triệu đồng/ người/ năm Huyện Chương Mỹ, Quốc Oai đạt từ 4,23- 4,9 triệu đồng/ người/ năm Các huyện có thu nhập bình quân/ lao động đạt khá là huyện Mỹ Đức là 9,43 triệu đồng/ người/ năm; Phúc Thọ 8,9 triệu đồng/ người/ năm, Đan Phượng 9,37 triệu đồng/ người/ năm, Hoài Đức 7,83 triệu đồng/ người/ năm Trong đó lao động tham gia công nghiệp- TTCN thu nhập bình quân 1 lao động ở Ba Vì, Quốc Oai, Chương Mỹ chỉ đạt từ 4- 5,6 triệu đồng/ người/ năm Các huyện có thu nhập bình quân/ lao động tham gia làm công nghiệp- TTCN đạt khá là Phú Thọ, Đan Phượng, Mỹ Đức, Phú Xuyên đạt từ 9- 13 triệu đồng/người/năm

Trang 39

Biểu 5: Số làng nghề được tỉnh công nhận chia theo ngành nghề từ

năm 2001- 2006 STT Ngành nghề Đơn vị 2001 2002 2003 2004 2005 2006

1 Ngành nghề sơn mài,khảm

trai

2 Ngành nghề mây tre giang

đan,tăm hương, quạt, làm

Nguồn cung cấp: Niên giám thống kê tỉnh Hà Tây

Tuy nhiên việc phân bố các làng nghề không đều, tập trung nhiều ở huyện Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên, Chương Mỹ Các huyện Phúc Thọ, Mỹ Đức còn ít Cần tập trung nhân cấy nghề để đưa làng nghề thuần nông thành làng có nghề, thành làng nghề

c Về giá trị sản lượng thực tế và thị trường

Trang 40

Tổng giá trị sản xuất của làng nghề ngày càng tăng, năm 2003 đạt 1.866,74 tỷ đồng, đến năm 2006 đạt 4.676,54 tỷ đồng tăng 2.809,8 tỷ đồng so với năm 2003 Trong đó giá trị công nghiêp- TTCN của làng nghề năm 2003 đạt 1.535,44 tỷ đồng, năm 2006 đạt 4.366,19 tỷ đồng, tăng 2,7 lần

Biểu 6: Tổng hợp số liệu làng nghê phân theo huyện, thị xã, thành

phố tỉnh Hà Tây từ năm 2003- 2006 STT Tên huyện,

thị xã, thành

phố

Tổng giá trị sản xuất (tỷ đồng) Gía trị sản lượng của làng Gía trị CN- TTCN

Gía trị sản xuất CN- TTCN của 13 làng nghề nông thôn tỉnh Hà Tây năm

2003 đạt 2.405,27 tỷ đồng, đến năm 2006 đã đạt 4.336,19 tỷ đồng (bảng …)

Thị trường tiêu thụ các sản phẩm của các làng nghề được quan tâm, sản phẩm của làng nghề phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu sang các nước như: EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Mỹ…Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là lụa tơ tằm 850.000m, quần áo dệt kim 28,5 triệu sản phẩm, hàng may mặc 7,4 triệu sản phẩm, hàng thiêu 680.000 sản phẩm, mây tre giang đan, tế guột 140 tỷ đồng, hàng tiện gỗ, xương, sừng 4,8 triệu sản phẩm,

đồ mộc cao cấp 6,6 triệu m3, sơn mài điêu khắc 76 tỷ đồng, nón mũ lá 1,3

Ngày đăng: 04/08/2014, 14:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2.Phát triển làng nghề truyền thống ở nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH-HĐH.chủ biên TS.Mai Thế Hởn,GS.TS Hoàng Ngọc Hoà,PGS.TS Vũ Văn Phúc-NXB chính trị quốc gia-Hà Nội 2003 Khác
3.Làng nghề truyền thống trong quá trình CNH-HĐH.chủ biên Trần Minh Yến-NXB Khoa học xã hội-Hà Nội-2003 Khác
4.Thực trạng phát triển ngành nghề nông thôn môi trường kinh doanh ở nông thôn Việt Nam thực trạng và giải pháp-NXB Chính trị quốc gia –Hà Nội 2003 Khác
5.Nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986-2002)-NXB thống kê-Hà Nội 2003 Khác
6.Tạp chí công nghiệp Kỳ I tháng 6/2005,7/2005,6/2007 7. www.baohatay.com.vn Khác
9. Quy hoạch phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn tỉnh Hà Tây giai đoạn năm 2007- 2010. Đinh hướng đến năm 2015.- Sở công nghiệp tỉnh Hà Tây Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w